Cô giúp tôi kết hợp được những kiến thức về chuyên môn Xuất nhập khẩu với những kiến thức vĩ mô, mang tầm quốc tế, cách tư duy khách quan trong hoạt động thương mại giữa Việt Nam và các
Trang 1KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
PHÂN TÍCH CÁN CÂN THƯƠNG MẠI GIỮA VIỆT NAM VÀ CÁC QUỐC GIA
ASEAN-5 TRONG GIAI ĐOẠN
2005 - 2014
Người hướng dẫn: TS PHẠM THỊ NGÂN Người thực hiện: HOÀNG ĐÌNH TUẤN
Lớp: 11070601 KHÓA: 15
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH, NĂM 2015
Trang 2cô – Tiến sỹ Phạm Thị Ngân Bằng sự nhiệt tình cùng với kiến thức chuyên môn rất thực tế, cô đã giúp tôi trước hết là có cái nhìn khách quan, sau là những hướng phân tích sâu sắc về các vấn đề tôi đề cập Cô giúp tôi kết hợp được những kiến thức về chuyên môn Xuất nhập khẩu với những kiến thức vĩ mô, mang tầm quốc tế, cách tư duy khách quan trong hoạt động thương mại giữa Việt Nam và các quốc gia thành lập Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á, hiện đang rất được quan tâm khi nền kinh tế khu vực đang tiến đến hội nhập toàn diện Lời cảm ơn đầu tiên xin được gửi đến cô
Tôi cũng xin thể hiện sự biết ơn sâu sắc tới hai tổ chức Chính phủ đã gián tiếp
hỗ trợ tôi trong quá trình thực hiện khóa luận này là Tổng cục Thống kê và Tổng cục Hải quan Những thông tin và số liệu thực tế từ hai tổ chức đã cho tôi nhiều cái nhìn khách quan, những tư duy phân tích bổ ích, giúp tôi học được nhiều điều từ thương mại quốc tế, cũng như có thêm kinh nghiệm trong lĩnh vực thương mại quốc tế
Tôi cũng chân thành cảm ơn các thầy cô trường Đại học Tôn Đức Thắng đã tận tình giảng dạy trong suốt thời gian vừa qua bên cạnh những điều kiện về cơ sở vật chất, hạ tầng tại trường, đã đóng góp không nhỏ cho việc học tập của tôi, dẫn đến thành công ngày hôm nay
Một lần nữa, tôi xin cảm ơn mọi cá nhân, đơn vị, tổ chức đã giúp đỡ tôi không chỉ trong việc hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này, mà còn là những kinh nghiệm, những kiến thức quý giá mà tôi đã được lĩnh hội
Trang 3Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi và được sự hướng dẫn khoa học của Tiến sỹ Phạm Thị Ngân Các nội dung nghiên cứu, kết quả trong
đề tài này là trung thực và chưa công bố dưới bất kỳ hình thức nào trước đây Những
số liệu trong các bảng biểu phục vụ cho việc phân tích, nhận xét, đánh giá được chính tác giả thu thập từ các nguồn khác nhau có ghi rõ trong phần tài liệu tham khảo
Ngoài ra, trong luận văn còn sử dụng một số nhận xét, đánh giá cũng như số liệu của các tác giả khác, cơ quan tổ chức khác đều có trích dẫn và chú thích nguồn gốc
Nếu phát hiện có bất kỳ sự gian lận nào tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm
về nội dung luận văn của mình Trường đại học Tôn Đức Thắng không liên quan
đến những vi phạm tác quyền, bản quyền do tôi gây ra trong quá trình thực hiện (nếu
có)
TP Hồ Chí Minh, ngày 13 tháng 7 năm 2015
Tác giả
Trang 4đang phát triển với tốc độ rất nhanh về kim ngạch Xuất nhập khẩu từ năm 2005 Đến năm 2014, kim ngạch thương mại hàng hóa với ASEAN-5 đã đạt trên 35 tỷ USD Tuy nhiên, xuất khẩu sang ASEAN-5 chỉ đóng góp 15.5 tỷ USD, trong khi nhập khẩu
có giá trị lên đến 21 tỷ USD năm 2014 Điều này phản ánh rất rõ tình trạng thâm hụt cán cân thương mại của Việt Nam đối với ASEAN-5 vẫn khá nghiêm trọng từ năm
2005, trong tình hình kinh tế Việt Nam đang khởi sắc và cán cân thương mại quốc gia đã bắt đầu dương từ năm 2012
Đề tài nghiên cứu tiếp cận vấn đề từ tổng quan cho cả khu vực ASEAN-5, đến
cụ thể với từng quốc gia, qua đó biết được vị trí của Việt Nam trong quan hệ với các quốc gia ASEAN-5, thấy được các lợi thế so sánh và đánh giá được năng lực cạnh tranh của Việt Nam so với các quốc gia mạnh từ ASEAN-5 Bên cạnh đó, nghiên cứu kết hợp phân tích thực trạng trong từng giai đoạn cụ thể, với những sự kiện, cột mốc quan trọng trong quan hệ kinh tế với khu vực Từ đó có góc nhìn khách quan hơn để nhận xét về sức mạnh hiện tại của Việt Nam
Trong quá trình 10 năm phân tích, từ 2005 – 2014, cán cân thương mại Việt Nam với nhóm ASEAN-5 luôn thâm hụt sâu, nhưng, về xu hướng phát triển, Việt Nam trong quan hệ thương mại với khu vực có nhiều điểm tích cực Cần lưu ý đến những mốc thời gian quan trọng trong giai đoạn trên, thứ nhất là cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu năm 2008, và thứ hai là biện pháp khắc phục khủng hoảng của ASEAN rất hiệu quả cho kinh tế khu vực, Hiệp định thương mại hàng hóa ATIGA Khóa luận cũng chỉ ra rằng Việt Nam đang có những nỗ lực rất đáng kể trong việc cải thiện tình trạng thâm hụt thương mại với ASEAN-5, nhất là giai đoạn sau ATIGA,
từ cuối 2010 đến 2014 Những điểm mạnh, điểm yếu của Việt Nam và các biện pháp được phân tích cụ thể, góp phần cải thiện thương mại với khu vực cho Việt Nam
Một vấn đề quan trọng khác trong nghiên cứu chính là việc hội nhập kinh tế khu vực, Cộng động kinh tế ASEAN – AEC vào cuối năm 2015 Nghiên cứu chỉ ra
Trang 55, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia Từ đó, cán cân thương mại sẽ được cải thiện thật bền vững Quan trọng nhất, Việt Nam cần nhanh chóng khắc phục các thiếu sót, tự nâng cấp nền kinh tế nước nhà để đón đầu cơ hội, hội nhập hiệu quả, phát triển kinh tế quốc gia cùng với những lợi ích kinh tế - xã hội khác
Trang 6DANH MỤC BIỂU ĐỒ
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 1
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
3.1 Đối tượng nghiên cứu 2
3.2 Phạm vi nghiên cứu 2
4 Phương pháp nghiên cứu 2
5 Ý nghĩa thực tiễn 2
6 Cơ sở khoa học của việc chọn đề tài: 3
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN 5
1.1 Thương mại quốc tế và các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả thương mại của quốc gia 5
1.1.1 Một số lý luận về thương mại quốc tế 5
1.1.2 Các yếu tố tác động đến hiệu quả thương mại quốc tế 10
1.2 Cơ sở lý luận về cán cân thương mại 13
1.2.1 Khái niệm cán cân thương mại 13
1.2.2 Những nhân tố ảnh hưởng tới cán cân thương mại 14
1.2.3 Tác động của cán cân thương mại đến nền kinh tế 15
CHƯƠNG 2:THỰC TRẠNG CÁN CÂN THƯƠNG MẠI CỦA VIỆT NAM VỚI ASEAN-5 TRONG GIAI ĐOẠN 2005 – 2015 17
2.1 Vài nét về ASEAN và ASEAN-5 17
Trang 72.1.3 Vài nét về nhóm ASEAN-5 19
2.2 Thực trạng cán cân thương mại Việt Nam với ASEAN-5 20
2.2.1 Hoạt động xuất khẩu trong giai đoạn 2005 – 2014 20
2.2.1.1 Giá trị xuất khẩu 20
2.2.1.2 Cơ cấu chủng loại hàng xuất khẩu 23
2.2.1.3 Cơ cấu hàng xuất khẩu theo tiêu chuẩn ngoại thương 26
2.2.2 Hoạt động nhập khẩu 28
2.2.2.1 Giá trị nhập khẩu 28
2.2.2.2 Cơ cấu chủng loại hàng nhập khẩu chủ yếu 31
2.2.2.3 Cơ cấu hàng nhập khẩu theo tiêu chuẩn ngoại thương 33
2.2.3 Diễn biến cán cân thương mại Việt Nam – ASEAN 5 34
2.2.3.1 Cán cân thương mại Việt Nam – Indonesia 34
2.2.3.2 Cán cân thương mại Việt Nam – Malaysia 37
2.2.3.3 Cán cân thương mại Việt Nam – Philippines 39
2.2.3.4 Cán cân thương mại Việt Nam – Thái Lan 41
2.2.3.5 Cán cân thương mại Việt Nam – Singapore 43
2.2.3.6 Cán cân thương mại tổng hợp Việt Nam – ASEAN-5 45
2.2.4 Nhận xét chung về cán cân thương mại Việt Nam – ASEAN 5 47
2.2.4.1 Những điểm tích cực trong thực trạng thương mại 47
2.2.4.2 Những điểm hạn chế trong thực trạng thương mại 48
CHƯƠNG 3: CÁC GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN XUẤT NHẬP KHẨU VÀ CẢI THIỆN CÁN CÂN THƯƠNG MẠI VIỆT NAM VỚI NHÓM ASEAN-5 51
Trang 83.1.2 Điểm yếu trong thương mại với ASEAN-5 53
3.2 Những cơ hội và thách thức cho Việt Nam trong giai đoạn tiến tới hội nhập kinh tế khu vực ASEAN 55
3.2.1 Cộng đồng kinh tế ASEAN – AEC 55
3.2.2 Những lợi ích tạo ra từ AEC đối với khu vực và Việt Nam 57
3.2.3 Những thách thức cho Việt Nam 58
3.3 Ma trận SWOT 60
3.4 Các giải pháp thúc đẩy phát triển xuất khẩu, cải thiện cán cân thương mại với ASEAN-5 và hướng đến hội nhập hiệu quả 63
3.4.1 Cải thiện cán cân thương mại Việt Nam – ASEAN-5 64
3.4.2 Nâng cao hiệu quả hoạt động xuất nhập khẩu với ASEAN-5 67
3.4.3 Nâng cao nhận thức và hiệu quả hội nhập kinh tế 68
3.4.4 Kiến nghị về các chính sách vĩ mô 69
KẾT LUẬN 71
TÀI LIỆU THAM KHẢO 73
Trang 9DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Tỷ trọng xuất khẩu vào ASEAN-5 so với ASEAN 22
Bảng 2.2 Cơ cấu chủng loại hàng xuất khẩu vào ASEAN-5 23
Bảng 2.3 Các mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu tích lũy cao nhất từ năm 2007 đến năm 2014 24
Bảng 2.4 Tỷ trọng nhập khẩu từ ASEAN-5 so với ASEAN 30
Bảng 2.5 Cơ cấu chủng loại hàng nhập khẩu từ ASEAN-5 31
Bảng 2.6 Các mặt hàng có kim ngạch nhập khẩu tích lũy cao nhất từ năm 2007 đến năm 2014 31
Bảng 2.7 Các mặt hàng xuất khẩu chủ yếu vào Indonesia từ 2007 - 2014 35
Bảng 2.8 Các mặt hàng nhập khẩu chủ yếu từ Indonesia từ 2007 - 2014 36
Bảng 2.9 Các mặt hàng xuất khẩu chủ yếu vào Malaysia từ 2007 - 2014 37
Bảng 2.10 Các mặt hàng nhập khẩu chủ yếu từ Malaysia từ 2007 - 2014 38
Bảng 2.11 Các mặt hàng xuất khẩu chủ yếu vào Philippines từ 2007 - 2014 39
Bảng 2.12 Các mặt hàng nhập khẩu chủ yếu từ Philippines từ 2007 - 2014 40
Bảng 2.13 Các mặt hàng xuất khẩu chủ yếu vào Thái Lan từ 2007 - 2014 41
Bảng 2.14 Các mặt hàng nhập khẩu chủ yếu từ Thái Lan từ 2007 - 2014 42
Bảng 2.15 Các mặt hàng xuất khẩu chủ yếu từ Singapore từ 2007 - 2014 44
Bảng 2.16 Các mặt hàng nhập khẩu chủ yếu từ Singapore từ 2007 - 2014 45
Bảng 2.17 Tổng hợp kim ngạch xuất nhập khẩu Việt Nam - ASEAN-5 45
Trang 10DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 2.1 Giá trị xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam vào thị trường ASEAN-5 giai
đoạn 2005 - 2014 20
Biểu đồ 2.2 Kim ngạch xuất khẩu Việt Nam – ASEAN-5 theo từng quốc gia 21
Biểu đồ 2.3 Cơ cấu phân loại hàng xuất khẩu theo tiêu chuẩn ngoại thương 27
Biểu đồ 2.4 Kim ngạch nhập khẩu từ ASEAN-5 giai đoạn 2005 – 2014 28
Biểu đồ 2.5 Kim ngạch nhập khẩu Việt Nam – ASEAN-5 theo từng quốc gia 29
Biểu đồ 2.6 Cơ cấu hàng nhập khẩu từ ASEAN-5 theo tiêu chuẩn ngoại thương 33
Biểu đồ 2.7 Diễn biến cán cân thương mại Việt Nam – Indonesia 34
Biểu đồ 2.8 Diễn biến cán cân thương mại Việt Nam - Malaysia 37
Biểu đồ 2.9 Diễn biến cán cân thương mại Việt Nam - Philippines 39
Biểu đồ 2.10 Diễn biến cán cân thương mại Việt Nam - Thái Lan 41
Biểu đồ 2.11 Diễn biến cán cân thương mại Việt Nam - Singapore 43
Biểu đồ 2.12 Diễn biến cán cân thương mại Việt Nam - ASEAN-5 so với cán cân thương mại quốc gia 46
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Thương mại quốc tế đang đóng một vai trò vô cùng quan trọng trong việc phát triển kinh tế của mỗi quốc gia và Việt Nam không phải là ngoại lệ Kể từ khi gia nhập Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á - ASEAN năm 1995, Việt Nam đang từng bước cải thiện nền kinh tế khi thiết lập các mối quan hệ thương mại với các thành viên ASEAN, đặc biệt là nhóm ASEAN-5 – các quốc gia sáng lập ASEAN gồm Thái Lan, Singapore, Malaysia, Indonesia và Philippines, có nền kinh tế phát triển nhanh hơn
so với các quốc gia trong khu vực
Đối với Việt Nam,việc gia nhập ASEAN là yếu tố bản lề và đã góp phần thúc đẩy những bước chuyển biến quan trọng trong quá trình hội nhập và phát triển, dẫn đến sự phát triển kinh tế - xã hội ấn tượng và sau này là thành công trong việc gia nhập các thể chế toàn cầu như Diễn đàn kinh tế Châu Á – Thái Bình Dương năm 1998 hay nổi bật là Tổ chức kinh tế thế giới WTO vào năm 2008 Trong giai đoạn trên, Việt Nam đã trải qua khoảng thời gian đẩy thử thách và khó khăn để dần hòa nhịp với nền kinh tế khu vực và đạt được nhiều thành tựu tích cực trong mọi mặt, đặc biệt
là trong thương mại khi kim ngạch xuất nhập khẩu tăng trưởng cao qua các năm, đặc biệt đối với các quốc gia mạnh trong nhóm ASEAN-5 Tuy nhiên, cũng còn nhiều hạn chế trong thực trạng phát triển ngoại thương của nước ta khi cán cân thương mại Việt Nam với ASEAN-5 không quá khả quan khi liên tục thâm hụt trong nhiều năm Điều này cho thấy thương mại nội khối của Việt Nam vẫn còn rất nhiều khó khăn
Thông qua khóa luận này với đề tài: “Phân tích cán cân thương mại Việt Nam với các quốc gia ASEAN-5 giai đoạn 2005 – 2014”, thực trạng và những biện pháp được đề cập sau quá trình nghiên cứu sẽ đóng góp cho sức mạnh và thành công của nền kinh tế và bộ phận các doanh nghiệp Việt Nam trong hoạt động xuất nhập khẩu với nhóm ASEAN-5 nói riêng và với ASEAN nói chung
2 Mục đích nghiên cứu
Khóa luận được thực hiện với mục đích:
- Phân tích tình hình thương mại hàng hóa của Việt Nam với ASEAN – 5
Trang 12- Nhận định các điểm yếu cản trở doanh nghiệp Việt Nam trong việc đẩy mạnh thương mại với ASEAN – 5
- Đưa ra các giải pháp cải thiện thương mại, tăng trưởng xuất khẩu và nâng cao lợi thế cạnh tranh cho Việt Nam trong quan hệ với các quốc gia ASEAN – 5
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
- Thực trạng và các yếu tố ảnh hưởng đến cán cân thương mại hàng hóa với
nhóm ASEAN-5 của Việt Nam
- Các cơ hội cho Việt Nam phát triển thương mại khu vực
3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về không gian: Khóa luận tập trung phân tích thực trạng cán cân thương mại của Việt Nam với nhóm ASEAN-5
- Về thời gian: từ 2005 đến 2014, chia làm hai giai đoạn chính là 2005 – 2010
và 2011 – 2014 Năm 2010 là một năm quan trọng trong quá trình hợp tác kinh tế khu vực khi Hiệp định Thương mại hàng hóa ASEAN – ATIGA có hiệu lực, và cũng đã
có ảnh hưởng vào cán cân thương mại thời gian sau đó Ngoài ra, thời điểm 2008 cũng là một mốc để phân tích trên cơ sở ảnh hưởng từ khủng hoảng kinh tế
4 Phương pháp nghiên cứu
Khóa luận được thực hiện bằng phương pháp định tính thông qua việc sử dụng các công cụ thống kê, tổng hợp từ dữ liệu thứ cấp có liên quan từ các nguồn thông tin
có uy tín, kết hợp với các thao tác tư duy để rút ra được kết luận khoa học
5 Ý nghĩa thực tiễn
Năm 2015 là một năm rất quan trọng của kinh tế Việt Nam khi hàng loạt các hiệp định thương mại tự do được đàm phán và ký kết, nổi bật là TPP – Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương và đặc biệt là sự hội nhập Cộng đồng kinh tế các quốc gia Đông Nam Á – AEC (ASEAN Economic Community) vào cuối năm 2015 Có thể thấy đây vừa là cơ hội, vừa là thách thức cho nền kinh tế Việt Nam nói chung, và
bộ phận các doanh nghiệp Xuất nhập khẩu nói riêng đẩy mạnh giao thương khu vực, tăng cường xuất khẩu, chủ lực cải thiện hiệu quả thương mại Việt Nam – ASEAN-5,
Trang 13đưa cán cân thương mại Việt Nam – ASEAN nói chung trở nên tích cực hơn sau thời gian dài thâm hụt hay nhập siêu từ khu vực Thông qua khóa luận này, Chính phủ Việt Nam và bộ phận doanh nghiệp sẽ có những động thái quyết liệt hơn trong tiến trình hội nhập để nắm bắt được các cơ hội phát triển kinh doanh, cải thiện cán cân thương mại và cao hơn là góp phần phát triển kinh tế đất nước
6 Cơ sở khoa học của việc chọn đề tài:
Về thực trạng thương mại nội khối, theo báo cáo thường niên kinh tế Việt Nam
2014 của Trung tâm Nghiên cứu Kinh tế và Chính sách (VEPR)[15] và số liệu thống
kê từ Tổng cục Hải quan [13], tuy Việt Nam có lợi thế so sánh khá tương đồng so với các nước trong khu vực ASEAN, khả năng cạnh tranh cao, về mặt lý thuyết, nhưng
tỷ trọng thương mại nội khối hiện nay của Việt Nam chỉ chiếm 25% tổng khối lượng thương mại khu vực ASEAN, trong đó, ASEAN-5 là chủ đạo, và Việt Nam luôn có mức thâm hụt thương mại rất lớn với ASEAN nói chung và ASEAN-5 nói riêng Dù thương mại nội khối trong nhiều năm qua đã được thúc đẩy bằng các hiệp định thương mại tự do nhưng Việt Nam vẫn chưa khai thác hiệu quả thị trường này Báo cáo trên vẫn chưa thể hiện chi tiết thực trạng thương mại ở cấp độ chi tiết hơn ngoài giá trị xuất nhập khẩu, do đó chưa nhận thấy được những chuyển biến trong xu hướng thương mại ở cấp độ ngành
Cho đến thời điểm này đã có rất nhiều báo cáo và nhận định về tiềm năng phát triển của Việt Nam khi hội nhập Cộng đồng kinh tế ASEAN – AEC Theo nghiên cứu
“Tham gia Cộng đồng Kinh tế ASEAN và những tác động đến thương mại quốc tế của Việt Nam” (Hà Văn Hội, 2013), Việt Nam có rất nhiều lợi ích kinh tế, từ thương mại hàng hóa đến thu hút đầu tư và giải pháp đẩy mạnh thương mại quốc tế của Việt Nam sau hội nhập Tuy nhiên, nghiên cứu trên vẫn chỉ đưa ra những giải pháp vĩ mô chứ chưa đề ra được các giải pháp hướng đến hỗ trợ bộ phận doanh nghiệp, lực lượng cạnh tranh trực tiếp của Việt Nam, cải thiện hoạt động kinh doanh hiện tại, nâng cao khả năng sản xuất trước khi hướng đến xuất khẩu, cạnh tranh ở thị trường khu vực
mà trong đó, ASEAN-5 là những đối thủ lớn nhất
Trang 14Một vấn đề rất đáng chú ý khác đó là theo cuộc điều tra về nhận thức và sự quan tâm của doanh nghiệp ở các quốc gia ASEAN của Viện Nghiên cứu Đông Nam
Á của Singapore (ISEAS,2013) (theo báo cáo thường niên kinh tế Việt Nam năm 2014) [15]cho rằng các doanh nghiệp Việt Nam có hiểu biết và nhận thức rất hạn chế
về AEC Cụ thể: có 76% số doanh nghiệp được điều tra không biết về AEC Các doanh nghiệp được hỏi cũng không hiểu rõ những cơ hội cũng như thách thức đối với Việt Nam nói chung và với các doanh nghiệp nói riêng khi Việt Nam gia tham gia vào AEC 2015 Có đến 63% doanh nghiệp cho rằng AEC không có ảnh hưởng hoặc ảnh hưởng rất ít đến việc kinh doanh của mình Đây là tỷ lệ lớn nhất trong số các quốc gia ASEAN và là thực trạng rất nguy hiểm
Các công ty đa quốc gia, các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đang sản xuất kinh doanh tại Việt Nam cũng là một nhân tố tác động mạnh đến mức
độ thâm hụt của cán cân thương mại Việt Nam – ASEAN-5 Điển hình với công ty Unilever Việt Nam, phần lớn các nguyên liệu thô, máy móc, công nghệ và cả thành phẩm nhập khẩu đều được Unilever nhập khẩu từ các đối tác trong khu vực ASEAN, trong đó tỷ trọng lớn nhất là từ hai quốc gia Singapore và Thái Lan Nền sản xuất tại Việt Nam và ngành công nghiệp hỗ trợ hiện nay vẫn chưa đủ khả năng đáp ứng cho nhu cầu của các công ty có vốn đầu tư nước ngoài, về quy mô và chất lượng, do đó, doanh nghiệp phải nhập khẩu, thông thường với số lượng rất lớn, dẫn đến thâm hụt cán cân thương mại với ASEAN-5 càng nghiêm trọng
Bài nghiên cứu này sẽ tập trung phân tích chi tiết hơn về tình hình thương mại hàng hóa của Việt Nam với ASEAN-5, về giá trị và chi tiết cơ cấu hàng hóa xuất nhập khẩu, đề xuất các giải pháp định hướng để giải quyết các vấn đề được nêu trên Nghiên cứu hướng đến các phương án để cân bằng cán cân thương mại, đưa ra những giải pháp thúc đẩy thương mại tích cực với nhóm ASEAN-5 và cuối cùng, nhận định tầm quan trọng của hội nhập kinh tế khu vực để nâng cao nhận thức của doanh nghiệp Việt Nam về hội nhập Qua đó phát triển năng lực cạnh tranh của Việt Nam, thúc đẩy
sự phát triển bền vững của nền kinh tế trong tương lai
Trang 15CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN 1.1 Thương mại quốc tế và các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả thương mại của quốc gia
1.1.1 Một số lý luận về thương mại quốc tế
Có rất nhiều định nghĩa về thương mại quốc tế theo từng góc nhìn và thay đổi, phát triển, mở rộng theo thời gian
Lý thuyết lợi thế tuyệt đối – Adam Smith
Adam Smith là người đầu tiên đưa ra lý thuyết về lợi thế tuyệt đối của hoạt động ngoại thương vào năm 1776 [8] Lợi thế tuyệt đối là lợi thế đạt được trong trao đổi thương mại quốc tế khi mỗi quốc gia tập trung chuyên môn hoá vào sản xuất và trao đổi những sản phẩm có mức chi phí sản xuất thấp hơn hẳn so với các quốc gia khác và thấp hơn mức chi phí trung bình của quốc tế thì tất cả các quốc gia đều có lợi
Lợi thế tuyệt đối có được trong điều kiện so sánh chi phí sản xuất để sản xuất
ra cùng một loại sản phẩm, khi một nước sản xuất sản phẩm có chi phí cao hơn có thế nhập sản phẩm đó từ nước khác có chi phí sản xuất thấp hơn Hoạt động này mang lại hiệu quả khác nhau cho hai phía, đối với nước sản xuất sản phẩm có chi phí sản xuất thấp sẽ thu được nhiều lợi nhuận hơn khi bán trên thị trường quốc tế Còn đối với nước sản xuất sản phẩm với chi phí sản xuất cao sẽ có được sản phẩm mà khả năng sản xuất trong nước hạn chế hoặc không đem lại lợi nhuận Điều này được gọi
là bù đắp sự yêu kém về khả năng sản xuất trong nước
Trong mô hình kinh tế cổ điển, các nhà kinh tế cho đất đai là điểm tối của tăng trưởng Khi nhu cầu lương thực tăng lên, phải tiếp tục sản xuất trên những đất đai cằn cỗi, không đảm bảo được lợi nhuận cho các nhà tư bản thì họ sẽ ngừng sản xuất Trong điều kiện đó, Adam Smith cho rằng có thể giải quyết vấn đề trên bằng cách nhập khẩu lương thực từ một quốc gia nước ngoài với giá rẻ hơn Việc nhập khẩu này
sẽ mang lại lợi ích cho cả hai nước, một quốc gia mang lợi nhuận, quốc gia còn lại đáp ứng được nhu cầu thị trường Đây là một thực tiễn của lý thuyết lợi thế tuyệt đối trong hoạt động ngoại thương
Trang 16Lý thuyết lợi thế tuyệt đối thể hiện được tính ưu việt của chuyên môn hóa và
đề cao vai trò của các cá nhân, doanh nghiệp trong nền kinh tế, ủng hộ một nền thương mại tự do không có sự can thiệp của chính phủ Tuy nhiên, lợi thế tuyệt đối chỉ có thể giải thích được một phần rất nhỏ trong mậu dịch quốc tế hiện đại khi so sánh giữa những nước phát triển và những nước đang phát triển, những nước không
có lợi thế tuyệt đối ở bất kỳ hàng hóa, dịch vụ nào [8]
Lý thuyết lợi thế so sánh – David Ricardo
Năm 1817, Ricardo đã đề cập tới lợi thế so sánh trong tác phẩm “Nguyên lý của Kinh tế chính trị và thuế khoá” Khái niệm này chỉ khả năng sản xuất một sản phẩm với chi phí thấp hơn so với sản xuất các sản phẩm khác của quốc gia khi so sánh với quốc gia khác, kể cả với các quốc gia có lợi thế tuyệt đối về sản phẩm đó,
từ đó dẫn đến quyết định chuyên môn hóa sản xuất phù hợp cho quốc gia
Quy luật lợi thế so sánh mà Ricardo rút ra là mỗi quốc gia nên chuyên môn hoá vào sản xuất và xuất khẩu sản phẩm mà quốc gia đó có lợi thế so sánh và nhập khẩu sản phẩm mà quốc gia đó không có lợi thế so sánh [10, tr.1] Đây là một điểm phát triển hơn so với quan điểm của Adam Smith
Kế thừa và phát triển lý thuyết lợi thế tuyệt đối của Adam Smith, Ricardo đã nhấn mạnh việc những nước có lợi thế tuyệt đối hoàn toàn hơn hẳn hoặc bị kém lợi thế tuyệt đối so với các nước khác trong sản xuất mọi sản phẩm, thì vẫn có lợi khi tham gia vào phân công lao động và thương mại quốc tế bởi vì mỗi nước có một lợi thế so sánh nhất định về sản xuất một số sản phẩm và kém lợi thế so sánh nhất định
về sản xuất các sản phẩm khác Bằng việc chuyên môn hoá sản xuất và xuất khẩu sản phẩm mà nước đó có lợi thế so sánh, tổng sản lượng về sản phẩm trên thế giới sẽ tăng lên, kết quả là mỗi nước đều có lợi ích từ thương mại Như vậy lợi thế so sánh là cơ
sở để các nước buôn bán với nhau và là cơ sở để thực hiện phân công lao động quốc
tế [10, tr.2] Lý thuyết về phân công lao động quốc tế trong thúc đẩy thương mại cũng
đã được đề cập trong học thuyết của Mác – Lênin
Lý thuyết lợi thế so sánh của Ricardo đã được những nhà kinh thế thế hệ sau
và tiếp tục nghiên cứu về lợi thế so sánh dựa trên cách tiếp cận khác hơn và mở rộng
Trang 17mô hình nghiên cứu so với Ricardo, tiêu biểu là Heckscher - Ohlin và Paul Krugman [10, tr.4]
Nguồn gốc thương mại quốc tế theo quan điểm Mác – Lênin
Theo quan điểm của học thuyết Mác – Lênin, thương mại bắt nguồn từ khi con người biết lao động và sản xuất Qua quá trình con người lao động và trao đổi cơ bản, phân công lao động xã hội hình thành và khi phân công lao động xã hội đạt đến sự hoàn thiện nhất định, đã trở thành nhân tố thúc đẩy nhanh sự phát triển của lực lượng sản xuất xã hội, vì nó tạo điều kiện cho người lao động tích luỹ kinh nghiệm, kỹ năng sản xuất, nâng cao tri thức, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, khả năng quản lý và hoàn thiện công cụ lao động Qua đó thúc đẩy tiến bộ khoa học - kỹ thuật và công nghệ,
mà tiến bộ khoa học công nghệ lại chính là một yếu tố cấu thành quan trọng của lực lượng sản xuất xã hội, do đó phân công lao động xã hội là một động lực thúc đẩy sự phát triển của lực lượng sản xuất xã hội
Trải qua các hình thái kinh tế xã hội có sự thống trị của các chế độ Nhà nước khác nhau, từ chế độ chiếm hữu nô lệ, chế độ phong kiến, đến chế độ tư bản chủ nghĩa
và kể cả chế độ xã hội chủ nghĩa mới hình thành từ đầu thế kỷ này, các quan hệ sản xuất, trao đổi hàng hoá - tiền tệ đã phát triển trên phạm vi toàn thế giới, hình thành nên sự đa dạng, phức tạp của các mối quan hệ kinh tế quốc tế Theo quan điểm của Mác – Lênin, là quá trình phân công lao động quốc tế Trong đó, sôi động nhất và cũng chiếm vị trí, vai trò, động lực quan trọng nhất cho sự tăng trưởng và phát triển kinh tế mở của mỗi quốc gia và cho cả nên kinh tế thế giới là các hoạt động thương mại quốc tế [3], [4], [8]
Lý thuyết lợi thế cạnh tranh quốc gia – Michael E Porter
Giáo sư Michael Porter đã nhận định: sự thịnh vượng của một quốc gia là cái được tạo ra chứ không phải là cái được thừa hưởng Sự thịnh vượng không phát triển
từ sự sẵn có của tài nguyên thiên nhiên, lao động, giá trị tiền tệ hay lãi suất của một quốc gia như các nhà kinh tế học cổ điển đã khẳng định [19]
Khả năng cạnh tranh của quốc gia phụ thuộc vào năng lực của các ngành trong việc đổi mới và tự nâng cấp tại quốc gia đó Các doanh nghiệp tạo ra được lợi thế so
Trang 18với các đối thủ tốt nhất trên thế giới là do áp lực và thách thức Bên cạnh đó, các doanh nghiệp được lợi từ việc có những đối thủ cạnh tranh nội địa, nền cung ứng nội địa phát triển năng động, và khách hàng trong nước có nhu cầu [19]
Trong thế giới cạnh tranh toàn cầu ngày càng căng thẳng hiện nay, các quốc gia trở nên quan trọng hơn nhiều lần với vai trò ngày càng tăng lên Lợi thế cạnh tranh được tạo ra và duy trì thông qua một quá trình địa phương hóa cao độ và tất cả những khác biệt về văn hóa, giá trị, cơ cấu tổ chức kinh tế, các định chế đều đóng góp vào sức mạnh của cạnh tranh Các nước thành công nhất trong từng ngành cụ thể là vì môi trường nội địa của các nước đó hướng về tương lai tốt nhất, năng động và thách thức nhất Đây là lý thuyết thực tiễn nhất về phát triển thương mại cho một quốc gia
Michael Porter đã đưa ra mô hình kim cương, gồm bốn thuộc tính lớn của một quốc gia để xác định ưu điểm và nhược điểm trong cạnh tranh của một đất nước và các ngành kinh tế quan trọng của quốc gia đó [19] Bốn thuộc tính này là:
- Các điều kiện nhân tố sản xuất: các nhân tố sản xuất, như trình độ lao động,
cơ sở hạ tầng, hỗ trợ năng lực cạnh tranh trong một ngành cụ thể Một quốc gia sẽ xuất khẩu những hàng hóa được tạo ra từ các lợi thế đó để mang lại hiệu quả cao nhất
Lý thuyết này cũng đã có nguồn gốc từ thời Adam Smith và David Ricardo, về lý thuyết lợi thế tuyệt đối và lợi thế so sánh Trong nền kinh tế hiện đại, ở các ngành kinh tế chủ lực của một nước, quốc gia đó sẽ liên tục tạo ra nhiều hơn các nhân tố sản xuất quan trọng, như cơ sở khoa học mới, sáng chế mới Các quốc gia thành công trong cạnh tranh khi biết kế thừa và giỏi tạo ra các nhân tố mới, chuyên môn hóa và không ngừng cải tiến các nhân tố này
- Các điều kiện nhu cầu: Các quốc gia sẽ tạo được lợi thế cạnh tranh trong
những ngành mà sự phát triển nhu cầu trong nước tạo ra cho các doanh nghiệp một bức tranh rõ ràng về các nhu cầu đang nổi lên của người mua, và là nơi mà khách hàng luôn đặt ra yêu cầu cao, gây áp lực cho các doanh nghiệp phải liên tục đổi mới
và đạt được lợi thế cạnh tranh tinh tế hơn so với các đối thủ ngoài nước Đặc trưng của thị trường trong nước quan trọng hơn quy mô thị trường
Trang 19- Các ngành công nghiệp có liên quan và hỗ trợ: Sự hiện diện của các doanh
nghiệp cung ứng nội địa và các ngành công nghiệp có liên quan khác củng cố lợi thế cạnh tranh cho quốc gia đó Các nhà cung ứng nội địa có khả năng cạnh tranh quốc
tế tạo nhiều lợi thế theo nhiều cách khác nhau như cung cấp các yếu tố đầu vào giá rẻ nhất theo cách thức hữu hiệu, nhanh chóng và có sự ưu tiên cho các doanh nghiệp nước nhà Ngoài ra, khoảng cách địa lý không phải là thử thách của các nhà cung ứng nội địa với các doanh nghiệp trong nước do đó dòng thông tin sẽ đi nhanh chóng và thường xuyên, hợp tác và đóng góp lẫn nhau, qua đó đẩy nhanh tốc độ đổi mới
- Chiến lược, cơ cấu và sự cạnh tranh của công ty: Khả năng cạnh tranh trong
một ngành cụ thể tạo ra từ sự hội tự các thông lệ quản lý, các yếu tố văn hóa, xã hội, lịch sử, những phương thức tổ chức được ưa thích tai quốc gia đó và đó cũng là những nguồn nâng cao lợi thế cạnh tranh trong ngành đó Tuy nhiên, không có hệ thống
quản lý nào là phù hợp trên toàn cầu mà phải kết hợp với các yếu tố quan trọng khác
Qua thời gian phát triển mạnh mẽ thì cho đến nay, đối tượng trong thương mại không chỉ còn gói gọn trong khuôn khổ hàng hóa, mà còn là dịch vụ, các yếu tố sản xuất như lao động và đầu tư nước ngoài, và mới nhất theo cập nhật của Tổ chức thương mại quốc tế ICC là sở hữu trí tuệ Do đó, thương mại quốc tế hiện nay cần được định nghĩa cụ thể là sự trao đổi hàng hóa, dịch vụ, các yếu tố sản xuất, và bảo
Trang 20hộ quyền sở hữu trí tuệ qua biên giới hải quan giữa các quốc gia khác nhau nhằm mục đích kinh tế tối đa [3], [8]
Vận dụng các lý thuyết vào tình hình thương mại của Việt Nam
Việc vận dụng các quan điểm trong các lý thuyết thương mại nêu trên sẽ giải thích và thể hiện được những xu hướng trong thực trạng thương mại Việt Nam Tuy nhiên, trong quá trình vận dụng cần phải linh hoạt áp dụng đồng thời các lý thuyết, không vận dụng đơn lẻ các quan điểm, để có được góc nhìn khách quan hơn về thực trạng thương mại của Việt Nam
Quan điểm của Adam Smith, như dã trình bày, không thể giải thích được sức mạnh của một quốc gia trong thời kỳ kinh tế hiện đại, khi trình độ các quốc gia không đồng đều Do đó, khi phân tích, cần xem xét thêm quan điểm của David Ricardo về lợi thế so sánh để có nhận định chính xác về năng lực và định hướng phát triển của một quốc gia
Trong khi quan điểm về thương mại quốc tế của Mác – Lênin chủ yếu giải thích về bản chất của thương mại, thì lý thuyết Lợi thế cạnh tranh quốc gia của Michael Porter là một thực tiễn rất phù hợp với nền kinh tế hiện đại Do đó, cần vận dụng lý thuyết lợi thế cạnh tranh quốc gia trong phân tích và định hướng phát triển thương mại cho quốc gia
1.1.2 Các yếu tố tác động đến hiệu quả thương mại quốc tế
1.1.2.1 Các chiến lược phát triển ngoại thương của quốc gia
Qua lịch sử phát triển của thương mại quốc tế có thể thấy có ba chiến lược phát triển ngoại thương được áp dụng đối với tình hình từng quốc gia, các chiến lược
đó bao gồm chiến lược xuất khẩu sản phẩm thô, chiến lược hướng nội và chiến lược hướng ngoại [9]
- Chiến lược xuất khẩu sản phẩm thô: Đây là chiến lược được các quốc gia
chưa có nền kinh tế phát triển chủ yếu thực hiện cho đến ngày nay khi trình độ sản xuất, khoa học – kỹ thuật chưa phát triển và khả năng tích lũy vốn của nền kinh tế còn hạn chế Nguồn hàng xuất khẩu chủ yếu là các tài nguyên thiên nhiên có sẵn và sản phẩm nông nghiệp chưa qua chế biến Điểm tích cực của chiến lược này đó là
Trang 21giúp nền kinh tế phát triển theo chiều rộng và giúp quốc gia thu được nguồn vốn cần thiết để công nghiệp hóa đất nước Tuy nhiên, việc xuất khẩu sản phẩm thô hiện nay gặp rất nhiều khó khăn do cạnh tranh của thị trường toàn cầu, dẫn đến giá trị hàng thô ngày càng giảm, nhưng việc nhập khẩu các sản phẩm công nghiệp, công nghệ lại có giá trị cao ảnh hưởng đến cán cân thanh toán của quốc gia không bền vững
- Chiến lược thay thế hàng nhập khẩu hay chiến lược hướng nội: Các quốc
gia áp dụng chiến lược này khuyến khích việc sản xuất trong nước để đáp ứng trước hết cho nhu cầu tiêu dùng trong nước Chính phủ thúc đẩy sản xuất nội địa thông qua các rào cản nhằm bảo hộ sản xuất trong nước Tuy nhiên, chiến lựơc này dẫn đến nhiều trở ngại khi cung từ sản xuất không đáp ứng đủ cầu thị trường, cán cân thương mại thâm hụt do thiếu ngoại tệ từ xuất khẩu, năng lực sản xuất suy giảm do thiếu cạnh tranh và chiến lược này hạn chế liên kết quốc tế Do đó, chiến lược này dần dần được loại bỏ trong chiến lược phát triển ngoại thương của các quốc gia trên thế giới
- Chiến lược hướng ngoại hay sản xuất hướng về xuất khẩu: Chiến lược này
được xem là phát triển nhất trong các chiến lược ngoại thương khi xuất khẩu mang lại nguồn ngoại tệ cần thiết cho quốc gia, nâng cao năng lực cạnh tranh của thị trường, người tiêu dùng có nhiều lựa chọn và lợi ích hơn và liên kết thương mại quốc tế Tuy nhiên, chiến lược này cũng gây ra khó khăn cho các doanh nghiệp nội địa khi trình
độ sản xuất và chất lượng sản phẩm không thể so sánh được với các sản phẩm nhập khẩu, dẫn đến khả năng phát triển kinh doanh kém và thị trường có thể trở thành thị
trường tiêu thụ
1.1.2.2 Chính sách điều chỉnh thương mại quốc tế
Theo PGS.TS Nguyễn Như Bình [3], chính sách thương mại quốc tế là chính sách Chính phủ của mỗi quốc gia sử dụng để điều chỉnh thương mại quốc tế Nó bao gồm hệ thống các quan điểm, nguyên tắc, công cụ và biện pháp thích hợp mà các nước sử dụng để điều chỉnh trong thương mại quốc tế Các công cụ chủ yếu của chính sách thương mại quốc tế gồm các công cụ thuế quan (rào cản mậu dịch) và các công
cụ phi mậu dịch (rào cản phi mậu dịch) Các công cụ của chính sách này chủ yếu áp dụng đối với thương mại hàng hóa Các công cụ chi tiết như sau:
Trang 22a Công cụ thuế quan: là thuế mà chính phủ đánh vào hàng hóa đi qua lãnh thổ hải quan, là khu vực địa lý chịu sự điều chỉnh của luật thuế quan và không nhất thiết đồng nhất với lãnh thổ quốc gia
Phân loại theo tính chất hàng hóa: Hàng xuất khẩu sẽ có thuế xuất khẩu
và ngược lại, thuế nhập khẩu áp dụng cho hàng nhập khẩu Trong đó, thuế nhập khẩu
là quan trọng nhất và thực tế một số quốc gia không còn đánh thuế xuất khẩu
Phân loại theo cách thức đánh thuế:
o Thuế trị giá: là thuế tính theo phần trăm trên giá trị hàng hóa
o Thuế tuyệt đối: là thuế tính bằng tiền trên một đơn vị hàng hóa
o Thuế hỗn hợp: là thuế kết hợp hai loại thuế trên
Thuế quan cũng sẽ có những tác động đối với doanh nghiệp và cán cân thương mại Thứ nhất, thuế quan sẽ làm tăng giá hàng hóa tương tự với hàng hóa thay thế được sản xuất trong nước nhập khẩu và làm giảm cơ hội cho doanh nghiệp nước xuất khẩu, hạn chế thương mại và gây thiệt hại cho người tiêu dùng Thứ hai, đối với doanh nghiệp trong nước, thuế quan có vai trò quan trọng trong việc bảo hộ sản xuất nội địa Khi chính phủ đánh thuế nhập khẩu, bên cạnh việc làm tăng giá hàng hóa nhập khẩu tương tự, doanh nghiệp nội địa có cơ hội bán hàng hóa giá cao Tuy nhiên, điều này cũng có thể làm giảm khả năng cạnh tranh cho hàng hóa của doanh nghiệp trong nước nếu chính sách bảo hộ quá đáng Và tác động thứ ba, thuế quan điều tiết hoạt động xuất nhập khẩu và làm thay đổi cán cân thương mại của một quốc gia
b Công cụ phi thuế quan
- Hạn ngạch: Là những quy định của chính phủ về giá trị hay khối lượng tối
đa mà một mặt hàng hay nhóm hàng được phép nhập khẩu hay xuất khẩu Hạn ngạch
có 02 loại phân theo tính chất hàng hóa, gồm hạn ngạch xuất khẩu và hạn ngạch nhập khẩu Hạn ngạch có tác động trực tiếp đến hiệu quả thương mại giữa các quốc gia
- Những quy định về tiêu chuẩn kỹ thuật: những tiêu chuẩn về mức độ an toàn
đối với sức khỏe và tính mạng con người, mức tiêu hao nhiên liệu, sự tương thích về mặt kỹ thuật… là một số các tiêu chuẩn áp dụng cho hàng hóa khi muốn xâm nhập vào một thị trường nước ngoài Tổ chức WTO đã đề ra Hiệp định về các Hàng rào
Trang 23Kỹ thuật đối với Thương mại (TBT – Technical Barriers to Trade) để điều chỉnh việc
áp dụng những tiêu chuẩn này
- Tiêu chuẩn vệ sinh, an toàn thực phẩm, kiểm dịch động thực vật: tiêu chuẩn
này được các nước, nhất là các nước công nghiệp phát triển áp dụng rất ngặt nghèo đối với hàng hóa nhập khẩu WTO cũng đã đưa ra Hiệp định về việc áp dụng các biện pháp vệ sinh và kiểm dịch động thực vật (SPS - Sanitary and Phytosanitary Measure)
để điều chỉnh vấn đề này
- Tiêu chuẩn về môi trường: Với xu thế thế giới ngày càng coi trọng việc bảo
về môi trường, một số tiêu chuẩn loại này đã được đề ra và có thể kể đến như ngăn cấm nhập khẩu thủy hải sản mang tính hủy diệt (chích điện, dùng thuốc nổ) hoặc cấm
nhập khẩu sản phẩm gỗ có nguyên liệu là gỗ khai thác từ rừng tự nhiên
- Hạn chế xuất khẩu tự nguyện: là hình thức hạn chế xuất khẩu do nước xuất
khẩu đơn phương “tự nguyện” đưa ra để tránh những phiền hà về mặt chính trị hoặc
sự trả đũa về thương mại
- Trợ cấp xuất khẩu: Đây là những khoản chi hoặc những khoản đóng góp tài
chính của chính phủ cho các nhà sản xuất hay xuất khẩu trong nước để họ xuất khẩu hàng hóa, dịch vụ WTO quy định vấn đề trợ cấp xuất khẩu trong Hiệp định Nông nghiệp và Hiệp định về Trợ cấp và các Biện pháp Đối kháng của WTO
- Ngoài các công cụ trên, các nước còn áp dụng các công cụ phi thuế quan
như qui định về xuất xứ hiện rất phổ biến và trở thành một công cụ không thể thiếu
để điều chỉnh thương mại quốc tế, giấy phép xuất khẩu, nhập khẩu, các biện pháp hành chính và một số công cụ đặc thù khác và được quản lý dựa trên các điều khoản trong các Hiệp định thương mại tự do khác, ngoài hiệp định chung của WTO
1.2 Cơ sở lý luận về cán cân thương mại
1.2.1 Khái niệm cán cân thương mại
Theo Begg David và cộng sự (2007) [17], cán cân thương mại là một yếu tố trong tài khoản vãng lai của cán cân thanh toán quốc tế của quốc gia và là yếu tố chiếm tỷ trọng lớn nhất, kết hợp với cán cân dịch vụ và cán cân thu nhập Cán cân thương mại còn được gọi là xuất khẩu ròng hoặc thặng dư thương mại
Trang 24Cán cân thương mại ghi lại những thay đổi trong xuất khẩu và nhập khẩu hàng hóa của một quốc gia trong một khoảng thời gian nhất định và mức chênh lệch giữa chúng theo công thức:
Cán cân thương mại = Giá trị xuất khẩu – Giá trị nhập khẩu
- Khi cán cân thương mại mang giá trị dương, cán cân thương mại có thặng dư, hay còn được gọi là xuất siêu
- Khi cán cân thương mại có giá trị âm, lúc này còn có thể gọi là thâm hụt thương mại, hay nhập siêu
- Khi giá trị bằng 0, cán cân thương mại ở trạng thái cân bằng
Cán cân thương mại ở nhiều quốc gia được chia thành cán cân thương mại hàng hóa và cán cân dịch vụ
Xét về tác dụng, cán cân thương mại thể hiện sự chênh lệch giữa sản lượng của một quốc gia và nhu cầu trong nước (sự chênh lệch giữa lượng hàng hóa một nước sản xuất ra so với lượng hàng hóa quốc gia đó mua từ nước ngoài, điều này không bao gồm các khoản tiền thanh toán cho chứng khoán nước ngoài) Qua đó, phản ánh sức khỏe và khả năng cạnh tranh trên thị trường quốc tế của quốc gia
1.2.2 Những nhân tố ảnh hưởng tới cán cân thương mại
Cán cân thương mại chịu ảnh hưởng của các nhân tố dưới đây [17]:
- Chi phí sản xuất, về đất đai, lao động, vốn, thuế, ưu đãi sản xuất và một số chi phí khác, ở nền kinh tế xuất khẩu so với các tiêu chí tương tự trong nền kinh tế nhập khẩu
- Các chi phí liên quan và sự sẵn có của các loại nguyên vật liệu, hàng hóa trung gian và các đầu vào khác
- Biến động của tỷ giá hối đoái: là nhân tố rất quan trọng đối với các quốc gia
vì nó ảnh hưởng đến giá tương đối giữa hàng hóa sản xuất trong nước với hàng hóa trên thị trường quốc tế Việc tỷ giá đồng nội tệ tăng lên sẽ gây bất lợi cho xuất khẩu
và thuận lợi cho nhập khẩu dẫn đến kết quả là xuất khẩu ròng giảm và ngược lại
- Thuế quan hoặc các rào cản thương mại song phương và đa phương
Trang 25- Các hàng rào phi thuế quan như hạn ngạch, tiêu chuẩn sức khỏe hoặc tiêu chuẩn môi trường (chi tiết hơn được giải thích tại mục 1.1.2.2, chính sách điều chỉnh thương mại quốc tế)
- Giá của hàng hóa sản xuất ở quốc gia so với giá quốc tế Yếu tố này chịu ảnh hưởng bởi khả năng đáp ứng và cung cấp về nguyên vật liệu, công nghệ, chi phí sản xuất
Có thể nhận thấy, ngoài các yếu tố vĩ mô, gồm thuế quan và rào cản thương mại, tỷ giá hối đoái, thì các yếu tố vi mô có liên quan rất mật thiết đến mô hình kim cương của Michael Porter, đặc biệt là nhân tố các yếu tố sản xuất và nhân tố sức mạnh của ngành công nghiệp hỗ trợ Cán cân thương mại là một yếu tố vĩ mô, nhưng các yếu tố vi mô, cấp độ ngành, tác động rất mạnh mẽ vào kết quả của cán cân thương mại Tích cực hay tiêu cực trong diễn biến cán cân thương mại chịu ảnh hưởng rất lớn từ các nhân tố sản xuất, trình độ phát triển công nghiệp hỗ trợ và khả năng quản
lý thương mại của quốc gia
1.2.3 Tác động của cán cân thương mại đến nền kinh tế
Cán cân thương mại hàng hóa và dịch vụ (X – M) cùng với các yếu tố khác như chi cho tiêu dùng (C), đầu tư công (I), chi tiêu của chính phủ (G) cấu thành tổng thu nhập quốc dân (GDP) Như vậy, cán cân thương mại là một bộ phận cấu thành tổng thu nhập quốc dân, thặng dư hay thâm hụt cán cân thương mại ảnh hưởng trực tiếp đến tăng trưởng kinh tế
GDP = C + I + G + X – M
Cán cân thương mại có mối quan hệ mật thiết với các chỉ số kinh tế vĩ mô cơ bản Trạng thái của cán cân tương mại thể hiện động thái của nền kinh tế ở những điểm khác nhau Chính vì vậy, biến động của cán cân thương mại trong ngắn hạn và dài hạn là cơ sở để các chính phủ điều chỉnh chiến lược và mô hình phát triển kinh
tế, cạnh tranh
Trạng thái xuất siêu của cán cân thương mại có tác động đến nhiều mặt của nền kinh tế, ví dụ nếu thặng dư sẽ góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tạo thêm
Trang 26công ăn việc làm mới, tăng tích lũy quốc gia thông qua ngoại hối, tạo uy tín và sực mạnh cho đồng nội tệ
Ngược lại, khi cán cân thương mại thâm hụt kéo dài nhiều năm, đồng thời với việc phải giảm nhập khẩu như là một phần của những biện pháp tài chính và tiền tệ khắc khổ, dẫn đến kết quả làm giảm tăng trưởng kinh tế, bất ổn kinh tế vĩ mô
Trang 27CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CÁN CÂN THƯƠNG MẠI CỦA VIỆT NAM
VỚI ASEAN-5 TRONG GIAI ĐOẠN 2005 – 2015 2.1 Vài nét về ASEAN và ASEAN-5
2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của ASEAN
Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á (viết tắt là ASEAN – Association of Southeast Asian Nations) là một liên minh chính trị, kinh tế, văn hóa và xã hội của các quốc gia trong khu vực Đông Nam Á ASEAN được thành lập ngày 8 tháng 8 năm 1967 với các thành viên sáng lập là Thái Lan, Indonesia, Malaysia, Singapore,
và Philippines, để biểu hiện tinh thần đoàn kết giữa các nước trong cùng khu vực với nhau, đồng thời hợp tác chống tình trạng bạo động và bất ổn tại những nước thành viên Khác với Liên minh Châu Âu, ASEAN có mục đích bảo vệ và chấn hưng chủ nghĩa quốc gia Các quốc gia trong vùng khi đã mất tin tưởng vào các cường quốc bên ngoài đã tìm đến nhau trong bối cảnh của thập niên 1960 hầu hỗ trợ lẫn nhau Đối với Indonesia thì nước này còn có tham vọng bá chủ trong khu vực trong khi Malaysia và Singapore thì lại muốn dùng ASEAN để kiềm chế Indonesia, đưa nước này vào một khuôn khổ mang tính hợp tác hơn
Ba động lực trong quá trình thành lập ASEAN bao gồm:
- Một là, liên kết kinh tế, hợp tác cũng phát triển và kết nối khu vực thành một khối kinh tế vững mạnh
- Hai là, củng cố khu vực thành một khối gắn kết về chính trị, nỗ lực chủ động vì hòa bình , an ninh và ổn định ở khu vực
- Ba là, xây dựng một cộng đồng Văn hóa – Xã hội vững mạnh, hướng tới lợi ích của người dân
Sau Hội nghị Bali năm 1976, ASEAN đã xúc tiến chương trình cộng tác kinh
tế để phát triển kinh tế khu vực nhưng đến năm 1991 khi Thái Lan đề phát thành lập khu vực thương mại tự do thì khối mậu dịch tự do ASEAN mới hình thành (AFTA) Hàng năm, các nước thành viên đều luân phiên tổ chức các cuộc hội họp chính thức
để tăng cường hợp tác
Trang 28Ngày 28 tháng 7 năm 1995, Việt Nam trở thành thành viên thứ bảy của ASEAN, sau Brunei, và là thành viên đầu tiên của nhóm ASEAN-4, những quốc gia gia nhập ASEAN giai đoạn cuối thế kỷ 20, gồm Việt Nam, Myanmar (1997), Lào (1997) và Campuchia (1999), hay còn được gọi là nhóm CLMV
ASEAN bao gồm một diện tích đất 4,46 triệu km², là 3% tổng diện tích đất của Trái Đất, và có số dân khoảng 600 triệu người, 8,8% dân số thế giới (năm 2010) Vùng biển của ASEAN là ba lần lớn hơn so với đất Trong năm 2010, kết hợp GDP danh nghĩa tại ASEAN đã phát triển thành 1,8 nghìn tỷ USD Nếu ASEAN là một thực thể duy nhất, quốc gia đó sẽ xếp hạng trong các nền kinh tế lớn thứ 10 trên thế giới Điều này thôi thúc ASEAN trở thành một cộng đồng kinh tế chung, như Liên minh Châu Âu đã thành công vào đầu thế kỷ 21 Tính đến thời điểm này, ASEAN gồm có 10 quốc gia thành viên và tương lai có thể sẽ có thành viên thứ 11 là Đông Timor khi nước này đã đệ đơn xin gia nhập ASEAN từ năm 2011 và đang có những chuẩn bị tích cực cho quá trình hội nhập
Để thúc đẩy phát triển kinh tế từng quốc gia thành viên và của kinh tế khu vực, ASEAN đã ký kết các Hiệp định Thương mại Tự do với các quốc gia, khu vực kinh
tế trên thế giới như Trung Quốc (ACFTA-2002), Hàn Quốc (AKFTA-2007), Nhật Bản (AJCEP-2008), Úc & New Zealand (AANZFTA-2009) và Ấn Độ (AIFTA-2009) Ngoài ra, ASEAN đang đàm phán thoả thuận tự do thương mại với Liên minh châu Âu. Đài Loan cũng đã thể hiện sự quan tâm tới một thoả thuận với ASEAN
2.1.2 Vai trò của ASEAN trong thúc đẩy phát triển thương mại
Mặc dù ASEAN còn có những hạn chế nhất định, nhưng là một hiệp hội khu vực thành công Từ khi ra đời đến nay, ASEAN đã không ngừng hoàn thiện mình, đặc biệt là về các chính sách thương mại quốc tế của mình
Những dấu ấn của ASEAN trong thúc đẩy thương mại kinh tế khu vực được thể hiện qua các hiệp định Một cột mốc đánh dấu sự chuyển đổi trọng tâm hợp tác của ASEAN sang vấn đề kinh tế là việc các quốc gia thành viên ký hiệp định thành lập khu vực thương mại tự do ASEAN – AFTA vào năm 1992 bao gồm các yếu tố
cơ bản [3]:
Trang 29- Chương trình Thuế quan ưu đãi có hiệu lực chung CEPT Đây là yếu tố
có vai trò đặc biết quan trọng thúc đẩy thương mại trong khu vực
- Thống nhất tiêu chuẩn hàng hóa giữa các nước thành viên
- Công nhận việc cấp giấy xác nhận xuất xứ hàng hóa
- Xóa bỏ những quy định, rào cản làm hạn chế hoạt động thương mại
- Tăng cường hoạt động tư vấn kinh tế vĩ mô
2.1.3 Vài nét về nhóm ASEAN-5
ASEAN-5 là nhóm các quốc gia sáng lập ASEAN sau hiệp định Bangkok ngày
8 tháng 8 năm 1967 với các thành viên sáng lập gồm Thái Lan, Indonesia, Malaysia, Singapore, và Philippines Các quốc gia này đặt nền tảng cho sự phát triển rất mạnh
mẽ của ASEAN trong giai đoạn cuối thế kỷ 20 và đầu thế kỷ 21, góp phần đưa ASEAN lên bản đồ kinh tế thế giới và là các thị trường rất lớn của Việt Nam nói riêng trong khu vực Đông Nam Á
Xét riêng về ASEAN-5, đây là nhóm quốc gia, một khu vực được đánh giá rất cao, là một điểm đến lý tưởng cho hoạt động kinh doanh, thương mại và đầu tư với tiềm năng kinh tế đạt mức 750 tỷ USD (2005) và nếu so sánh với các quốc gia khác như Ân Độ hay Trung Quốc, ASEAN-5 là một kênh đầu tư tiềm năng ASEAN-5 đạt mức tăng trưởng GDP khá cao và ổn định, trở thành một điểm sáng trong các thị trường đang nổi trong đầu thế kỷ 21
ASEAN-5 là một khu vực đa dạng về văn hóa, mang đến những cơ hội phát triển kinh doanh cho các nhà đầu tư, doanh nghiệp Chi phí nhân công ở khu vực này khá rẻ, đặc biệt ở Philippines Malaysia và Thái Lan có những lợi thế cạnh tranh rất
rõ ràng trong các ngành điện tử và phương tiện vận tải Singapore nổi bật bởi cơ sở
hạ tầng chất lượng, luật pháp minh bạch khiến đây trở thành trung tâm của khu vực, nổi bật nhất ở lĩnh vực tài chính Ngoài ra, khu vực ASEAN-5 còn có thế mạnh về ngành dầu mỏ, về dầu thô lẫn các sản phẩm từ dầu mỏ (Deutsche Bank, 2006) [18]
Nhìn chung, ASEAN-5 là một bộ phận rất quan trọng trong hoạt động của ASEAN và là một khu vực kinh tế quan trọng trong quan hệ ngoại thương của Việt Nam Chính ASEAN-5 đã đề xuất việc hội nhập kinh tế khu vực, khởi đầu từ AFTA
Trang 30năm 1993, Hiệp định thương mại hàng hóa ASEAN – ATIGA năm 2010, và tương lai là hội nhập Cộng đồng kinh tế ASEAN – AEC vào cuối năm 2015
2.2 Thực trạng cán cân thương mại Việt Nam với ASEAN-5
2.2.1 Hoạt động xuất khẩu trong giai đoạn 2005 – 2014
Hoạt động xuất khẩu của Việt Nam đến với ASEAN-5 trong thời gian qua có diễn biến tích cực khi giá trị tăng đều qua các năm, mặc dù suy thoái kinh tế diễn ra
từ năm 2008
2.2.1.1 Giá trị xuất khẩu
Biểu đồ 2.1 Giá trị xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam vào thị trường ASEAN-5
Kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam đến ASEAN-5 tăng trưởng mạnh trong
10 năm qua, từ hơn 5 tỷ USD năm 2005 đến 15,5 tỷ USD ở năm 2014, tăng trưởng hơn 200% Để nhận xét về tình hình xuất khẩu giữa Việt Nam với nhóm ASEAN-5, cần xét từng giai đoạn trong thời gian trên, kết hợp với những yếu tố trọng yếu trong quá trình hợp tác thương mại trong khu vực
Giai đoạn 2005 – 2008 là giai đoạn xuất khẩu của Việt Nam đến ASEAN-5 tăng trưởng mạnh với tốc độ tăng trưởng đạt trên 20%, cao nhất đạt 24% năm 2008,
Trang 31thời điểm bắt đầu cho cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu và Việt Nam cũng bị ảnh hưởng rất mạnh mẽ bởi cuộc suy thoái Xuất khẩu sang thị trường ASEAN-5 tăng trưởng rất tốt trong thời gian trước đó đã tụt giảm hơn 14% ở năm 2009 so với cùng
kì 2008 Tuy nhiên, xuất khẩu đến ASEAN-5 gần như hồi phục chỉ sau một năm, khi xuất khẩu sang ASEAN-5 đạt 8,54 tỷ USD năm 2010, thời điểm ATIGA có hiệu lực
Giai đoạn 2011 – 2014 ghi nhận sự chuyển biến rất tích cực trong xuất khẩu của Việt Nam đến ASEAN-5 khi tốc độ tăng trưởng tăng rất cao, 26% năm 2011 và đạt đỉnh 30% năm 2012 Các năm tiếp theo, xuất khẩu Việt Nam tăng trưởng nhẹ, ổn định, ghi nhận kim ngạch xuất khẩu Việt Nam – ASEAN-5 đạt 15,55 tỷ USD vào năm 2014
Có thể kết luận rằng, dù suy thoái kinh tế toàn cầu ảnh hưởng rất nặng nề tới kinh tế Việt Nam giai đoạn 2008 – 2011, nhưng xuất khẩu của Việt Nam đến thị trường ASEAN, đặc biệt là ASEAN-5 vẫn diễn biến rất tích cực Đây là do hiệu quả
từ lộ trình cắt giảm thuế quan CEPT của Hiệp định thương mại tự do ASEAN – AFTA
và Hiệp định thương mại hàng hóa ASEAN – ATIGA Khi nền kinh tế thế giới gặp khó khăn, thị trường khu vực được xem là lựa chọn hiệu quả nhất
Biểu đồ 2.2 Kim ngạch xuất khẩu Việt Nam – ASEAN-5 theo từng quốc gia
Nguồn: Tổng hợp từ Thống kê Hải quan [13] và Trung tâm Tư liệu và Dịch vụ Thống
Trang 32Giai đoạn 2005 – 2010, Malaysia và Singapore là hai thị trường xuất khẩu chủ lực của Việt Nam với tỷ trọng xuất khẩu cao nhất nhóm ASEAN-5 Nổi bật là Singapore khi giá trị xuất khẩu của Việt Nam đến thị trường này hàng năm ổn định xung quanh mức 2 tỷ USD, cao nhất 2,7 tỷ USD năm 2008 Tuy xuất khẩu sang Malaysia không cao bằng Singapore trong giai đoạn trên, nhưng mức tăng trưởng hàng năm rất đáng kể khi chỉ trong 5 năm, kim ngạch xuất khẩu sang Malaysia tăng trưởng hơn 100% Đối với các thị trường Thái Lan, Philippines và Indonesia, kim ngạch xuất khẩu cũng ghi nhận sự tăng trưởng qua hàng năm, nổi bật là Indonesia khi xuất khẩu sang thị trường này tăng từ 468,8 triệu USD năm 2005 lên đến hơn 1,4 tỷ USD năm 2010
Giai đoạn 2010 – 2014, xuất khẩu đến ASEAN-5 tiếp tục tăng mạnh Malaysia
và Thái Lan trở thành hai thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam trong khu vực trong những năm đầu thập niên Xuất khẩu sang Thái Lan tăng 64% năm 2011 và tiếp tục tăng 46% năm 2012, so với cùng kỳ, vượt Singapore trở thành thị trường xuất khẩu lớn thứ hai của Việt Nam Trong khi giá trị xuất khẩu sang Malaysia tăng trưởng lần lượt 32% và 62% trong hai năm 2011 và 2012, đạt kim ngạch 4,5 tỷ USD cuối năm 2012, và tiếp tục là thị trường xuất khẩu chủ lực của Việt Nam trong khu vực Diễn biến xuất khẩu sang Singapore, Philippines và Indonesia cũng rất tích cực, khi đều ghi nhận tăng trưởng ổn định và đạt kim ngạch xuất khẩu cao nhất vào năm 2014
Một vấn đề khác về tình hình xuất khẩu đến ASEAN-5 Tuy xuất khẩu sang các quốc gia ASEAN-5 vẫn rất mạnh, chiếm phần lớn tổng giá trị xuất khẩu cả khu vực, nhưng đã có dấu hiệu suy giảm ở tốc độ tăng trưởng khi trong hai năm gần đây chỉ ghi nhận mức tăng trưởng lần lượt 6% và 5%, rất nhỏ nếu so với 30% năm 2012
Bảng 2.1 Tỷ trọng xuất khẩu vào ASEAN-5 so với ASEAN
ASEAN 5,7 6,6 8,1 10,3 8,8 10,4 13,7 17,4 18,4 19,1
Tỷ lệ (%) 88,9 86,5 85,5 83,3 84,2 82,4 78,7 79,9 80,5 81,3
Nguồn: Tổng hợp từ Trung tâm Tư liệu và Dịch vụ Thống kê [14] từ 2005 - 2014
Trang 33Chiếm đến gần 90% kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam trong khu vực ASEAN ở năm 2005, nhưng tỷ lệ này suy giảm trong những năm tiếp theo và thấp nhất ở năm 2011, chỉ chiếm 78,7% tổng giá trị xuất khẩu, thấp nhất trong 10 năm
Dưới góc độ tích cực, thống kê trên cho thấy Việt Nam đã mở rộng được thị trường xuất khẩu của mình, giảm bớt phụ thuộc về đầu ra với các quốc gia ASEAN-
5, vốn là các nền kinh tế mạnh của khu vực Tuy nhiên, một cái nhìn khách quan hơn, giai đoạn 2005 – 2011, giá trị xuất khẩu của Việt Nam đến ASEAN-5 không gia tăng, nền sản xuất còn nhiều yếu kém, chủ yếu là mặt hàng thô, hoặc qua sơ chế nên dù sản lượng xuất khẩu gia tăng, nhưng giá trị đóng góp vào cán cân chung vẫn còn hạn chế (Tổng cục Hải Quan, 2011)[13] Nhưng từ năm 2012 đến 2014, tỷ lệ này đã gia tăng
ổn định cho thấy nhiều nỗ lực của Việt Nam trong việc gia tăng giá trị xuất khẩu
2.2.1.2 Cơ cấu chủng loại hàng xuất khẩu
Chủng loại hàng hóa trong nghiên cứu được phân loại trên cơ sở mục Phần của Biểu thuế Xuất Nhập Khẩu của Tổng cục Hải quan Việt Nam Nghiên cứu đề xuất phân loại thành những chủng loại chung như sau:
Bảng 2.2 Cơ cấu chủng loại hàng xuất khẩu vào ASEAN-5
Đơn vị: triệu USD
Trang 34Bảng 2.3 Các mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu tích lũy cao nhất từ năm 2007
GIÁ TRỊ TÍCH LŨY
Máy vi tính, hàng điện tử, linh kiện Hàng tiêu dùng 972 7.779 Điện thoại các loại và linh kiện Hàng tiêu dùng 891 7.129 Máy móc, thiết bị, phụ tùng khác Máy móc, phụ tùng 538 4.300 Sắt thép các loại Nguyên, nhiên, vật liệu 497 3.977 Phương tiện vận tải và phụ tùng Hàng tiêu dùng 377 3.015
Hàng thủy sản Lương thực & Thực phẩm 267 2.137
Thủy tinh và các sản phẩm Hàng tiêu dùng 174 1.395 Sản phẩm từ chất dẻo Hàng tiêu dùng 142 1.133
Nguồn: Tổng hợp từ Thống kê Hải quan[13] từ 2005 - 2014
Các mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam thuộc nhóm Nông nghiệp – Chăn nuôi – Thủy sản, dầu mỏ & nhiên liệu luôn chiếm tỷ trọng lớn trong kim ngạch xuất khẩu đến thị trường ASEAN-5 giai đoạn từ năm 2007 – 2014 Trong đó, xuất khẩu Gạo chiếm giá trị lớn nhất, là mặt hàng chủ lực của ngành Nông nghiệp Việt Nam bên cạnh các sản phẩm như rau quả, cà phê, hạt điều cùng một số nông sản khác Dầu thô là mặt hàng xuất khẩu chủ yếu trong chủng loại Dầu mỏ & Nhiên liệu, Việt Nam cũng bắt đầu xuất khẩu xăng dầu từ năm 2009 nhưng giá trị không đáng kể
Giai đoạn 2007 – 2010, kim ngạch xuất khẩu tăng đều hàng năm, chủ yếu đến
từ sản phẩm Nông nghiệp, dầu thô, và máy móc thiết bị điện tử (một số mặt hàng nổi trội như máy vi tính và linh kiện, dây điện và cáp điện) Giá trị đóng góp từ các chủng loại hàng khác không thực sự đáng kể, dù tốc độ tăng trưởng ở các chủng loại là khá tích cực Đáng chú ý từ năm 2009, sản lượng dầu thô xuất khẩu sang ASEAN-5 hàng năm bắt đầu giảm khá mạnh, hơn 1 tỷ USD chỉ trong vòng 2 năm Bên cạnh đó, Việt Nam đã bắt đầu xuất khẩu được kim loại cơ bản sang thị trường ASEAN-5, với các mặt hàng sắt thép, và nhóm hàng Phương tiện vận chuyển, chủ yếu là xe máy, cả hai ngành tốc độ tăng trưởng hàng năm khá cao đến năm 2010 Trong giai đoạn này,
Trang 35nhóm hàng cao su dù được cho là thế mạnh của Việt Nam nhưng xuất khẩu sang khu vực không cao
Giai đoạn 2011 – 2014, giá trị xuất khẩu hàng năm của nhóm hàng Dầu mỏ & Nhiên liệu diễn biến không ổn định, nhưng tổng quan, sản lượng dầu thô xuất khẩu đến ASEAN-5 đã suy giảm, nhưng Việt Nam cũng chưa thể đẩy mạnh xuất khẩu xăng dầu sang thị trường này Tương tự với nhóm hàng Nông nghiệp, sau khi đạt đỉnh vào năm 2011 khi đạt kim ngạch gần 2,7 tỷ USD, đã suy giảm khá mạnh trong những năm tiếp theo Điều này được lý giải do sản lượng gạo Việt Nam xuất khẩu trong khu vực giảm mạnh, do cạnh tranh từ quốc gia xuất khẩu gạo lớn nhất thế giới, Thái Lan
Các chủng loại hàng hóa khác đều có ghi nhận sự tăng trưởng kim ngạch rất mạnh, như mặt hàng xe máy, linh kiện xe các loại đã đóng góp cho nhóm Phương tiện vận chuyển kim ngạch 700 triệu USD ở năm 2014, cao hơn rất nhiều so với 7 năm trước (23 triệu USD) Sắt thép cùng với một số kim loại khác cũng đóng góp cho
sự tăng trưởng xuất khẩu nhóm hàng Kim loại cơ bản, khi đã vượt mốc 1 tỷ USD Việt Nam cũng đã xuất khẩu được sản phẩm hóa chất từ năm 2009 và kim ngạch tăng trưởng hàng năm rất đáng kể Nhóm mặt hàng khoáng sản của Việt Nam xuất khẩu không mạnh sang ASEAN-5 nhưng kim ngạch diễn biến ổn định, và có xu hướng giảm dần, đây là tín hiệu tốt do tài nguyên thiên nhiên ngày càng giảm
Nhóm hàng xuất khẩu nổi bật nhất trong giai đoạn trên là hàng máy móc, thiết
bị, điện tử, với sự đóng góp rất lớn từ mặt hàng điện thoại và mặt hàng máy vi tính Tuy nhiên, chủ yếu đóng góp trong mảng này đến từ khối doanh nghiệp FDI, nổi bật
là Samsung Một số loại máy móc, thiết bị điện tử chuyên dụng khác cũng đóng góp giá trị lớn cho chủng loại này
Nhìn chung, định hướng xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường ASEAN-5 rất tích cực khi kim ngạch xuất khẩu tăng trưởng hàng năm với xu hướng giảm dần xuất khẩu sản phẩm giá trị thấp như Nông sản, khoáng sản, giảm xuất khẩu dầu thô
và tăng trưởng xuất khẩu các mặt hàng có hàm lượng công nghệ, tri thức cao như nhóm hàng máy móc, thiết bị, điện tử, vận tải, hóa chất và các ngành công nghiệp khác Việt Nam đang cải thiện năng lực cạnh tranh rất tích cực với khu vực
Trang 362.2.1.3 Cơ cấu hàng xuất khẩu theo tiêu chuẩn ngoại thương
Phân loại hàng hóa theo tiêu chuẩn ngoại thương SITC - Standard International Classification là tiêu chuẩn phân loại hiện được quản lý bởi Liên Hiệp Quốc, lần đầu tiên được giới thiệu vào năm 2006 với các mục đích được nêu bởi Liên Hiệp Quốc:
“Để biên soạn thống kê thương mại quốc tế trên tất cả các hàng hóa xuất nhập thương mại quốc tế, và để thúc đẩy tính so sánh quốc tế về thống kê thương mại quốc tế Các nhóm hàng hóa của SITC phản ánh (a) các vật liệu được sử dụng trong sản xuất, (b) các giai đoạn chế biến, (c) thông lệ thị trường, công dụng của sản phẩm, (d) tầm quan trọng của các mặt hàng về thương mại thế giới, và (e ) thay đổi công nghệ”
(Liên Hiệp Quốc, 2006) [20] Hiện nay, hệ thống SITC gồm:
A Hàng thô hoặc mới sơ chế
Trong đó 1 Lương thực, thực phẩm và động vật sống
2 Đồ uống và thuốc lá
3 NVL thô, không dùng để ăn, trừ nhiên liệu
4 Nhiên liệu, dầu mỡ nhờn và vật liệu liên quan
5 Dầu, mỡ, chất béo, sáp động, thực vật
B Hàng công nghiệp hoặc đã tinh chế
Trong đó 6 Hóa chất và sản phẩm liên quan
7 Hàng công nghiệp phân loại theo nguyên liệu
8 Máy móc, phương tiện vận tải và phụ tùng
9 Hàng chế biến khác
C Hàng hóa khác
Dựa theo tiêu chuẩn này, so sánh với văn bản Hệ thống các ngành công nghiệp chế biến, chế tạo do Bộ Kế hoạch & Đầu tư ban hành [5] và Hệ thống ngành kinh tế quốc dân [12],có sự phân loại như sau:
Trang 37Biểu đồ 2.3 Cơ cấu phân loại hàng xuất khẩu theo tiêu chuẩn ngoại thương
là do trình độ sản xuất của Việt Nam trong giai đoạn này còn nhiều hạn chế
Nhưng xu hướng xuất khẩu của Việt Nam đã có chuyển biến khá tích cực khi
tỷ trọng hàng hóa thô đã giảm dần qua thời gian từ năm 2009, ngược lại, hàng công nghiệp bắt đầu chiếm tỷ trọng cao hơn trong cơ cấu hàng hóa xuất khẩu sang ASEAN-
5, đóng góp lớn nhất là ngành điện tử và phương tiện vận tải, với hàm lượng tri thức
và công nghệ cao, mang lại giá trị lớn hơn cho kim ngạch xuất khẩu
Hàng thô hoặc mới sơ chế
Hàng công nghiệp hoặc đã tinh chế
Hàng hóa khác
Trang 38Giai đoạn 2005 – 2008, nhập khẩu từ ASEAN-5 tăng trưởng rất mạnh, kim ngạch năm 2006 tăng đến 35% và tiếp tục tăng trên 20% ở 2 năm tiếp theo, giá trị nhập khẩu từ năm quốc gia đạt 19 tỷ USD năm 2008 Đây là thời điểm suy thoái kinh
tế toàn cầu bắt đầu bùng nổ, và chỉ một năm sau, giá trị nhập khẩu từ ASEAN-5 giảm mạnh hơn 3 tỷ USD, và tiếp tục giảm thêm 1% ở năm 2010, đạt 15.7 tỷ USD Việt Nam đã thận trọng hơn trong hoạt động nhập khẩu từ ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế
Ngược lại với xu hướng của xuất khẩu, sau năm 2008, tốc độ tăng trưởng nhập khẩu từ ASEAN-5 diễn biến không ổn định Năm 2011 kim ngạch nhập khẩu tăng
Trang 39vọt 26%, đạt 19,75 tỷ USD, cao hơn trước thời điểm suy thoái kinh tế Sau đó, nhập khẩu giảm nhẹ ở năm 2012, sau đó tăng nhẹ ở hai năm tiếp theo, vượt 21 tỷ USD kim ngạch nhập khẩu hàng năm ở năm 2014
Biểu đồ 2.5 Kim ngạch nhập khẩu Việt Nam – ASEAN-5 theo từng quốc gia
Nguồn: Tổng hợp từ Thống kê Hải quan [13] và Trung tâm Tư liệu và Dịch vụ Thống
5 tỷ USD vào năm 2008
Đến năm 2009, ngoại trừ hoạt động nhập khẩu từ Philippines tăng khoảng 60 triệu USD, nhập khẩu từ các quốc gia ASEAN-5 khác đều suy giảm khá mạnh, trong
đó, kim ngạch nhập khẩu từ Singapore giảm sâu nhất, hơn 2 tỷ USD Nhập khẩu từ Thái Lan và Indonesia giảm lần lượt 434 triệu USD và 276 triệu USD trong khi kim ngạch nhập khẩu từ Malaysia giảm nhẹ khoảng 35 triệu USD
Trang 40Giai đoạn 2010 – 2014, kim ngạch nhập khẩu từ Singapore tiếp tục giảm sâu, chỉ còn hơn 4 tỷ USD năm 2010 và tăng trưởng không ổn định, đạt 6,8 tỷ USD năm
2014 Các quốc gia khác có đà tăng trưởng kim ngạch nhập khẩu ổn định, nổi bật là Thái Lan khi kim ngạch nhập khẩu đạt hơn 7 tỷ USD năm 2014, trở thành thị trường nhập khẩu lớn nhất của Việt Nam, vượt trên Singapore từ năm 2013
Khi so sánh với tổng kim ngạch nhập khẩu từ ASEAN-5 với cả khu vực ASEAN, có thể thấy nhóm ASEAN-5 vẫn là thị trưởng chủ yếu trong hoạt động nhập khẩu của Việt Nam
Bảng 2.4 Tỷ trọng nhập khẩu từ ASEAN-5 so với ASEAN
Nguồn: Tổng hợp từ Trung tâm Tư liệu và Dịch vụ Thống kê [14] từ 2005 - 2014
Từ 2005 – 2014, nhập khẩu từ ASEAN-5 chiếm trên 90% tổng giá trị nhập khẩu của Việt Nam với ASEAN và trên 95% trong giai đoạn 2005 – 2010 Tuy trong các năm tiếp theo, tỷ lệ này giảm dần nhưng mức độ phụ thuộc vào hàng hóa nhập khẩu với các quốc gia ASEAN-5 của Việt Nam vẫn còn rất cao
Về tổng quan, khi giá trị nhập khẩu từ ASEAN-5 luôn lớn hơn giá trị xuất khẩu, và mức độ phụ thuộc hàng hóa nhập khẩu với nhóm quốc gia có nền kinh tế phát triển hơn sẽ ngày càng giãn sự chênh lệch trong trình độ phát triển của Việt Nam
so với nhóm quốc gia trên Nhưng về diễn biến, nhập khẩu từ ASEAN-5 đang chậm lại, và đó là một điểm quan trọng góp phần cải thiện cán cân thương mại với khu vực