CHƯƠNG 2:THỰC TRẠNG CÁN CÂN THƯƠNG MẠI CỦA VIỆT NAM VỚI ASEAN-5 TRONG GIAI ĐOẠN 2005 – 2015
2.1. Vài nét về ASEAN và ASEAN-5
2.1.1. Lịch sử hình thành và phát triển của ASEAN
Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á (viết tắt là ASEAN – Association of Southeast Asian Nations) là một liên minh chính trị, kinh tế, văn hóa và xã hội của các quốc gia trong khu vực Đông Nam Á. ASEAN được thành lập ngày 8 tháng 8 năm 1967 với các thành viên sáng lập là Thái Lan, Indonesia, Malaysia, Singapore, và Philippines, để biểu hiện tinh thần đoàn kết giữa các nước trong cùng khu vực với nhau, đồng thời hợp tác chống tình trạng bạo động và bất ổn tại những nước thành viên. Khác với Liên minh Châu Âu, ASEAN có mục đích bảo vệ và chấn hưng chủ nghĩa quốc gia. Các quốc gia trong vùng khi đã mất tin tưởng vào các cường quốc bên ngoài đã tìm đến nhau trong bối cảnh của thập niên 1960 hầu hỗ trợ lẫn nhau.
Đối với Indonesia thì nước này còn có tham vọng bá chủ trong khu vực trong khi Malaysia và Singapore thì lại muốn dùng ASEAN để kiềm chế Indonesia, đưa nước này vào một khuôn khổ mang tính hợp tác hơn.
Ba động lực trong quá trình thành lập ASEAN bao gồm:
- Một là, liên kết kinh tế, hợp tác cũng phát triển và kết nối khu vực thành một khối kinh tế vững mạnh
- Hai là, củng cố khu vực thành một khối gắn kết về chính trị, nỗ lực chủ động vì hòa bình , an ninh và ổn định ở khu vực.
- Ba là, xây dựng một cộng đồng Văn hóa – Xã hội vững mạnh, hướng tới lợi ích của người dân.
Sau Hội nghị Bali năm 1976, ASEAN đã xúc tiến chương trình cộng tác kinh tế để phát triển kinh tế khu vực nhưng đến năm 1991 khi Thái Lan đề phát thành lập khu vực thương mại tự do thì khối mậu dịch tự do ASEAN mới hình thành (AFTA).
Hàng năm, các nước thành viên đều luân phiên tổ chức các cuộc hội họp chính thức để tăng cường hợp tác.
Ngày 28 tháng 7 năm 1995, Việt Nam trở thành thành viên thứ bảy của ASEAN, sau Brunei, và là thành viên đầu tiên của nhóm ASEAN-4, những quốc gia gia nhập ASEAN giai đoạn cuối thế kỷ 20, gồm Việt Nam, Myanmar (1997), Lào (1997) và Campuchia (1999), hay còn được gọi là nhóm CLMV.
ASEAN bao gồm một diện tích đất 4,46 triệu km², là 3% tổng diện tích đất của Trái Đất, và có số dân khoảng 600 triệu người, 8,8% dân số thế giới (năm 2010).
Vùng biển của ASEAN là ba lần lớn hơn so với đất. Trong năm 2010, kết hợp GDP danh nghĩa tại ASEAN đã phát triển thành 1,8 nghìn tỷ USD. Nếu ASEAN là một thực thể duy nhất, quốc gia đó sẽ xếp hạng trong các nền kinh tế lớn thứ 10 trên thế giới. Điều này thôi thúc ASEAN trở thành một cộng đồng kinh tế chung, như Liên minh Châu Âu đã thành công vào đầu thế kỷ 21. Tính đến thời điểm này, ASEAN gồm có 10 quốc gia thành viên và tương lai có thể sẽ có thành viên thứ 11 là Đông Timor khi nước này đã đệ đơn xin gia nhập ASEAN từ năm 2011 và đang có những chuẩn bị tích cực cho quá trình hội nhập.
Để thúc đẩy phát triển kinh tế từng quốc gia thành viên và của kinh tế khu vực, ASEAN đã ký kết các Hiệp định Thương mại Tự do với các quốc gia, khu vực kinh tế trên thế giới như Trung Quốc (ACFTA-2002), Hàn Quốc (AKFTA-2007), Nhật Bản (AJCEP-2008), Úc & New Zealand (AANZFTA-2009) và Ấn Độ (AIFTA- 2009). Ngoài ra, ASEAN đang đàm phán thoả thuận tự do thương mại với Liên minh châu Âu. Đài Loan cũng đã thể hiện sự quan tâm tới một thoả thuận với ASEAN.
2.1.2. Vai trò của ASEAN trong thúc đẩy phát triển thương mại Mặc dù ASEAN còn có những hạn chế nhất định, nhưng là một hiệp hội khu vực thành công. Từ khi ra đời đến nay, ASEAN đã không ngừng hoàn thiện mình, đặc biệt là về các chính sách thương mại quốc tế của mình.
Những dấu ấn của ASEAN trong thúc đẩy thương mại kinh tế khu vực được thể hiện qua các hiệp định. Một cột mốc đánh dấu sự chuyển đổi trọng tâm hợp tác của ASEAN sang vấn đề kinh tế là việc các quốc gia thành viên ký hiệp định thành lập khu vực thương mại tự do ASEAN – AFTA vào năm 1992 bao gồm các yếu tố cơ bản [3]:
- Chương trình Thuế quan ưu đãi có hiệu lực chung CEPT. Đây là yếu tố có vai trò đặc biết quan trọng thúc đẩy thương mại trong khu vực.
- Thống nhất tiêu chuẩn hàng hóa giữa các nước thành viên - Công nhận việc cấp giấy xác nhận xuất xứ hàng hóa
- Xóa bỏ những quy định, rào cản làm hạn chế hoạt động thương mại - Tăng cường hoạt động tư vấn kinh tế vĩ mô
2.1.3. Vài nét về nhóm ASEAN-5
ASEAN-5 là nhóm các quốc gia sáng lập ASEAN sau hiệp định Bangkok ngày 8 tháng 8 năm 1967 với các thành viên sáng lập gồm Thái Lan, Indonesia, Malaysia, Singapore, và Philippines. Các quốc gia này đặt nền tảng cho sự phát triển rất mạnh mẽ của ASEAN trong giai đoạn cuối thế kỷ 20 và đầu thế kỷ 21, góp phần đưa ASEAN lên bản đồ kinh tế thế giới và là các thị trường rất lớn của Việt Nam nói riêng trong khu vực Đông Nam Á.
Xét riêng về ASEAN-5, đây là nhóm quốc gia, một khu vực được đánh giá rất cao, là một điểm đến lý tưởng cho hoạt động kinh doanh, thương mại và đầu tư với tiềm năng kinh tế đạt mức 750 tỷ USD (2005) và nếu so sánh với các quốc gia khác như Ân Độ hay Trung Quốc, ASEAN-5 là một kênh đầu tư tiềm năng. ASEAN-5 đạt mức tăng trưởng GDP khá cao và ổn định, trở thành một điểm sáng trong các thị trường đang nổi trong đầu thế kỷ 21.
ASEAN-5 là một khu vực đa dạng về văn hóa, mang đến những cơ hội phát triển kinh doanh cho các nhà đầu tư, doanh nghiệp. Chi phí nhân công ở khu vực này khá rẻ, đặc biệt ở Philippines. Malaysia và Thái Lan có những lợi thế cạnh tranh rất rõ ràng trong các ngành điện tử và phương tiện vận tải. Singapore nổi bật bởi cơ sở hạ tầng chất lượng, luật pháp minh bạch khiến đây trở thành trung tâm của khu vực, nổi bật nhất ở lĩnh vực tài chính. Ngoài ra, khu vực ASEAN-5 còn có thế mạnh về ngành dầu mỏ, về dầu thô lẫn các sản phẩm từ dầu mỏ. (Deutsche Bank, 2006) [18].
Nhìn chung, ASEAN-5 là một bộ phận rất quan trọng trong hoạt động của ASEAN và là một khu vực kinh tế quan trọng trong quan hệ ngoại thương của Việt Nam. Chính ASEAN-5 đã đề xuất việc hội nhập kinh tế khu vực, khởi đầu từ AFTA
năm 1993, Hiệp định thương mại hàng hóa ASEAN – ATIGA năm 2010, và tương lai là hội nhập Cộng đồng kinh tế ASEAN – AEC vào cuối năm 2015.