Chuyển giá là một vấn đề rất nhạy cảm trong việc kinh doanh của các doanh nghiệp cũng như là đối với cơ quan quản lý nhà nước, vì vậy trong đề tài sẽ tập trung vào các sự kiện đã được cô
Trang 1TÓM TẮT
1 Vấn đề nghiên cứu
Đề tài sẽ phân tích làm rõ các vấn đề như: Tìm hiểu, nghiên cứu, phân tích hiện tượng chuyển giá của các công ty đa quốc gia ở Việt Nam trong thời gian qua Thông qua việc nghiên cứu đề ra các giải pháp kiểm soát chuyển giá phù hợp với thông lệ quốc tế và tình hình Việt Nam Xem xét văn bản thông tư gần đây của chính phủ về việc chống chuyển giá đã pháp huy hết tác dụng và ngăn chặn được chuyển giá chưa
2 Hướng tiếp cận
Hướng tiếp cận của đề tài là các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài ở Việt Nam
và hiện tượng chuyển giá của các doanh nghiệp này tại Việt Nam giai đoạn 2010 -
2015
3 Cách giải quyết vấn đề
Phương pháp sử dụng trong đề tài là phương pháp thống kê, liệt lê, phân tích
- tổng hợp, so sánh - đối chiếu Phương pháp nghiên cứu của đề tài là đi từ thực tiễn tình hình các giao dịch liên kết, thực trạng chuyển giá và công tác chống chuyển giá tại Việt Nam và một số quốc gia trên thế giới, từ đó đề ra các giải pháp cho vấn đề chống chuyển giá tại Việt Nam
Trang 2MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ ĐỊNH GIÁ CHUYỂN GIAO VÀ CHUYỂN GIAO Ở CÁC CÔNG TY ĐA QUỐC GIA 3
1.1 Đầu tư trực tiếp nước ngoài và hoạt động của công ty đa quốc gia 3
1.1.1 Đầu tư trực tiếp nước ngoài 3
1.1.2 Công ty đa quốc gia 5
1.2 Định giá chuyển giao 6
1.2.1 Định giá chuyển giao 6
1.2.2 Nguyên tắc dựa trên gia thị trường của nghiệp vụ chuyển giao nội bộ (Arm’s Length Principle – ALP) 6
1.2.3 Các phương thức xác định giá thị trường 7
1.2.3.1 Định giá chuyển giao trên cơ sở giá tự do có thể so sánh được (Comparable Uncontrolled Price – CUP) 8
1.2.3.2 Phương pháp giá bán lại (Resales Price Method) 9
1.2.3.3 Phương pháp giá vốn cộng lãi (Cost Plus Method or Mark Up Method) 12
1.2.3.4 Phương pháp chiết tách lợi nhuận (Profit Split Method) 13
1.2.3.5 Phương pháp lợi nhuận ròng của nghiệp vụ chuyển giao (Transaction Net Margin Method –TNMM) 15
1.3 Vấn đề chuyển giá trong các công ty đa quốc gia 16
1.3.1 Khái niệm chuyển giá 16
1.3.2 Các phương thức chuyển giá phổ biến 17
1.3.2.1 Chuyển giá thông qua hình thức nâng cao giá trị tài sản góp vốn 17
1.3.2.2 Chuyển giá bằng cách nâng khống trị giá tài sản vô hình (công nghệ, thương hiệu…) 17
1.3.2.3 Chuyển giá thông qua việc điều tiết giá mua bán hàng hóa, thành phẩm, bán thành phẩm và các nguyên liệu vật liệu 18
1.3.2.4 Chuyển giá thông qua hình thức nâng chi phí các đơn vị hành chính và quản lý 18
1.3.2.5 Chuyển giá thông qua hình thức tài trợ bằng nghiệp vụ vay từ công ty mẹ19 1.3.2.6 Chuyển giá thông qua các trung tâm tái tạo hóa đơn 19
1.3.3 Động cơ dẫn đến hành vi chuyển giá 20
1.3.4 Nhận diện công ty có dấu hiệu chuyển giá 22
1.3.5 Tác động của chuyển giá 24
Trang 31.3.5.1 Đối với các MNC 24
1.3.5.2 Quốc gia tiếp nhận dòng vốn đầu tư 26
1.3.5.3 Quốc gia xuất khẩu đầu tư 27
1.3.6 Bài học kinh nghiệm từ một số nước trên thế giới 27
1.3.6.1 Kinh nghiệm chống chuyển giá tại Mỹ 27
1.3.6.2 Kinh nghiệm chống chuyển giá của Trung Quốc 28
1.3.6.3 Kinh nghiệm khu vực Đông Nam Á 30
1.3.6.4 Rút bài học kinh nghiệm cho Việt Nam 31
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CHUYỂN GIÁ Ở VIỆT NAM 32
2.1 Thực trạng hoạt động của các công ty FDI tại Việt Nam 32
2.1.1 Tình hình thu hút vốn FDI tại Việt Nam 32
2.1.2 Tồn tại và nguyên nhân thu hút FDI 34
2.2 Chuyển giá tại Việt Nam 36
2.2.1 Môi trường pháp lý 36
2.2.2 Thực trạng chuyển giá tại Việt Nam 37
2.2.3 Thực tế áp dụng các biện pháp kiểm soát chuyển giá tại Việt Nam 41
2.2.4 Một số ví dụ về các MNC thực hiện chuyển giá 43
2.2.4.1 Adidas Việt Nam - nghi án chuyển giá thông qua cung cấp dịch vụ 43
2.2.4.2 Coca Cola - nghi án chuyển giá bằng cách nâng giá nguyên phụ liệu và kinh doanh bằng vốn của công ty mẹ 46
2.2.4.3 Công ty Hualon Corporation - chuyển giá thông qua nâng cao giá trị tài sản và nguyên vật liệu 48
2.2.4.4 Keangnam Vina - chuyển giá qua cung ứng dịch vụ nội bộ 49
2.2.4.5 Metro Cash & Carry Việt Nam - chuyển giá bằng cách nâng cao giá trị tài sản vô hình 52
2.3 Đánh giá hoạt động quản lý chuyển giá 54
2.3.1 Những thành tựu đạt được trong công tác quản lý kiểm soát chống chuyển giá ở Việt Nam 54
2.3.1.1 Khuôn khổ pháp lý cho hoạt động chống chuyển giá dần dần được hoàn thiện 54
2.3.1.2 Công tác chống chuyển giá đạt được nhiều kết quả, truy thu số tiền thuế lớn cho ngân sách Nhà nước 54
2.3.2 Những tồn tại công tác quản lý kiểm soát chống chuyển giá 55
2.3.3 Nguyên nhân tồn tại 56
2.3.3.1 Có sự khác biệt về thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp giữa các quốc gia 56 2.3.3.2 Ngành công nghiêp hỗ trợ của Việt Nam hiện nay phát triển còn quá yếu.56
Trang 42.3.3.3 Hệ thống phát luật của Việt Nam chưa hoàn thiện, còn nhiều kẽ hở và
thường có độ trễ so với tình hình phát triển kinh tế của đất nước 56
2.3.3.4 Ngành thuế chưa được trao quyền 57
2.3.3.5 Thiếu sự phối hợp đồng bộ từ các cơ quan 57
2.3.3.6 Tổ chức bộ máy quản lý thuế còn yếu kém 58
2.3.3.7 Thiếu cơ sở dữ liệu 58
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP QUẢN LÝ KIỂM SOÁT HOẠT ĐỘNG CHUYỂN GIÁ TẠI CÁC CÔNG TY ĐA QUỐC GIA VIỆT NAM 60
3.1 Mục tiêu, định hướng chung 60
3.2 Giải pháp nâng cao công tác quản lý chuyển giá 60
3.2.1 Hoàn thiện văn bản hệ thống pháp luật về chống chuyển 60
3.2.2 Hạn chế ưu đãi thuế suất 61
3.2.3 Các giải pháp về chuyên môn nghiệp vụ 62
3.2.3.1 Nâng cao công tác tuyên truyền hỗ trợ người nộp thuế 62
3.2.3.2 Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra thuế 62
3.2.3.3 Quản lý kê khai thông tin giao dịch liên kết 63
3.2.3.4 Xây dựng, củng cố và hoàn thiện hệ thống cơ sở dữ liệu giá cả cho các giao dịch 63
3.2.4 Nâng cao trình độ chuyên môn và nghiệp vụ của cán bộ quản lý khu vực đầu tư nước ngoài 65
KẾT LUẬN 67
TÀI LIỆU THAM KHẢO 68
Trang 5DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Trang 6DANH MỤC CÁC BẢNG – HÌNH VẼ
Bảng 2.1: 10 đối tác nước ngoài có lũy kế đầu tư trực tiếp nước ngoài lớn nhất tại Việt Nam 33 Bảng 2.2: Kết quả thanh tra doanh nghiệp FDI năm 2014 40
Trang 7PHẦN MỞ ĐẦU
1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Trong xu thế hội nhập và toàn cầu hóa ngày càng gia tăng, trong đó trên 60% giao dịch về thương mại quốc tế xuất phát từ giao dịch của các công ty đa quốc gia Các công ty đa quốc gia thương nắm bắt và vận dụng những quy định khác biệt về thuế giữa các quốc gia, các ưu đãi trong quy định về thuế để xây dựng và áp dụng một chính sách về giá giao dịch nội bộ trong tập đoàn qua biên giới không theo giá thị trường nhằm tối thiếu hóa số thuế phải nộp của các công ty đa quốc gia trên toàn cầu – đây chính là hành vi chuyển giá trong giao dịch kinh doanh giữa các bên có quan hệ liên kết Thời gian qua, tại Việt Nam những hành vi chuyển giá để trốn thuế
diễn ra khá phức tạp và là vấn đề thu hút sự quan tâm của nhiều đối tượng Hoạt
động chuyển giá không những tạo ra rủi ro cho các doanh nghiệp nội mà còn ảnh hưởng đến môi trường kinh doanh trong cơ chế thị trường, ảnh hưởng đến chính sách quản lý và điều hành nền kinh tế của Chính phủ Ngành thuế các nước, trong
đó, có Việt Nam hiện coi vấn đề kiểm soát chuyển giá là một trong những vấn đề trọng tâm của công tác quản lý thuế Để có thể hiểu và nắm bắt thực trạng chuyển giá, cũng như công tác quản lý thuế của Việt Nam thời gian qua tôi quyết định chọn
đề tài “Thực trạng và quản lý hoạt động chuyển giá của các công ty đa quốc gia tại Việt Nam giai đoạn 2010-2015” làm báo cáo tốt nghiệp
Trang 82 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
Tìm hiểu, nghiên cứu, phân tích hiện tượng chuyển giá của các công ty đa quốc gia
ở Việt Nam trong thời gian qua Thông qua việc nghiên cứu đề ra các giải pháp kiểm soát chuyển giá phù hợp với thông lệ quốc tế và tình hình Việt Nam Xem xét văn bản thông tư gần đây của chính phủ về việc chống chuyển giá đã pháp huy hết tác dụng và ngăn chặn được chuyển giá chưa
3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài ở Việt Nam
và hiện tượng chuyển giá của các doanh nghiệp này tại Việt Nam giai đoạn 2010 -
2015 Chuyển giá là một vấn đề rất nhạy cảm trong việc kinh doanh của các doanh nghiệp cũng như là đối với cơ quan quản lý nhà nước, vì vậy trong đề tài sẽ tập trung vào các sự kiện đã được công bố trên phương tiện truyền thông đại chúng và
trong giới hạn tìm hiểu các ví dụ thực tế cho phép
4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Phương pháp sử dụng trong đề tài là phương pháp thống kê, liệt lê, phân tích - tổng hợp, so sánh - đối chiếu Để có thể nhìn nhận tương đối chính xác về các vấn đề liên quan đến hiện tượng chuyển giá, ngoài một số thông tư, văn bản quy định của nhà nước và quốc tế, nghiên cứu thêm một số bài báo ở Việt Nam Phương pháp nghiên cứu của đề tài là đi từ thực tiễn tình hình các giao dịch liên kết, thực trạng chuyển giá và công tác chống chuyển giá tại Việt Nam và một số quốc gia trên thế giới, từ
đó đề ra các giải pháp cho vấn đề chống chuyển giá tại Việt Nam
5 NỘI DUNG ĐỀ TÀI
Đề tài được trình bày theo bố cục như sau:
Chương 1: Tổng quan về định giá chuyển giao và chuyển giao ở các công ty đa
quốc gia
Chương 2: Thực trạng chuyển giá ở Việt Nam
Chương 3: Giải pháp quản lý kiểm soát hoạt động chuyển giá của các công ty đa
quốc gia tại Việt Nam
Trang 9CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ ĐỊNH GIÁ CHUYỂN GIAO VÀ CHUYỂN
GIAO Ở CÁC CÔNG TY ĐA QUỐC GIA 1.1 Đầu tư trực tiếp nước ngoài và hoạt động của công ty đa quốc gia
1.1.1 Đầu tư trực tiếp nước ngoài
Khái niệm
Theo Quỹ tiền tệ thế giới (International Monetary Fund - IMF), đầu tư trực tiếp nước ngoài (Foreign Direct Investment - FDI) là một công cuộc đầu tư ra khỏi biên giới quốc gia, trong đó người đầu tư trưc tiếp đạt được một phần hay toàn bộ quyền sở hữu lâu dài một doanh nghiệp đầu tư trực tiếp trong một quốc gia khác Quyền sở hữu này tối thiều phải là 10% tổng số cô phiếu mới công nhận là FDI.[12]
Theo khái niệm của Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1987: đầu tư nước ngoài là việc tổ chức, cá nhân nước ngoài đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền nước ngoài hoặc bất kỳ tài sản nào được Chính phủ Việt Nam chấp thuận để hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng hoặc thành lập xí nghiệp liên doanh hoặc xí nghiệp 100% vốn nước ngoài theo quy định của Luật này. [5]
Hiểu một cách khái quát là đầu tư trực tiếp nước ngoài tại một quốc gia là việc nhà đầu tư ở một nước khác đưa vốn bằng tiền hoặc bất cứ tài sản nào vào quốc gia đó để được quyền sở hữu và quản lý hoặc quyền kiểm soát một thực thể kinh tế tại quốc gia đó với mục tiêu tối đa hoá lợi ích của mình
Phân loại FDI
Theo mục đích đầu tư:
Đầu tư mới - Greenfield Investment : nhằm xây dựng nhà máy mới hoặc mở
rộng nhà máy hay dây chuyền hiện có
Mua lại và sáp nhập - Merger & Acquisition : công ty đầu tư mua luôn tài
sản của doanh nghiệp nước ngoài
Đầu tư theo chiều ngang - Horizontal FDI: đầu tư trong cùng ngành nghề Đầu tư theo chiều dọc - Vertical FDI: Đầu tư vào công ty chuyên cung cấp
đầu vào sản xuất, hoặc chuyên bán đầu ra cho sản phẩm
Trang 10Theo mục tiêu:
Tìm kiếm nguồn lực (Resource-seeking): đầu tư nhằm đạt được dây chuyền
sản xuất và các nguồn lực khác nhau như lao động rẻ hoặc tài nguyên thiên nhiên
Tìm kiếm thị trường (Market-seeking): đầu tư nhằm thâm nhập thị trường
mới hoặc duy trì thị trường hiện có
Tìm kiếm hiệu quả (Effficiency-seeking): đầu tư nhằm tăng cường hiệu quả
bằng việc tận dụng lợi thế kinh tế theo quy mô hay phạm vi hoặc cả hai
Tìm kiếm tài sản chiến lược (Strategic-Asset-Seeking): đầu tư nhằm ngăn
chặn việc bị mất nguồn lực vào tay đối thủ cạnh tranh
Các hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài: [6]
Thành lập tổ chức kinh tế 100% vốn của nhà đầu tư nước ngoài : là doanh
nghiệp thuộc sở hữu nhà đầu tư nước ngoài, do nhà đầu tư nước ngoài thành lập tại Việt Nam, tự quản lý và tự chịu trách nhiệm về kết quả kinh doanh
Thành lập doanh nghiệp liên doanh giữa các nhà đầu tư trong nước và nhà đầu tư nước ngoài: Là hình thức đầu tư mà một doanh nghiệp (một công ty)
được thành lập trên cơ sở góp vốn của hai bên Việt Nam và nước ngoài
Đầu tư mua cổ phần hoặc sáp nhập, mua lại doanh nghiệp: Nhà đầu tư được
góp vốn, mua cổ phần của các công ty chi nhánh Việt Nam Tỷ lệ góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài đối với một số lĩnh vực, ngành nghề
do chính phủ quy định
Đầu tư theo hình thức hợp đồng: là hình thức bên đầu tư nước ngoài ký kết
với bên phía Việt Nam cùng tổ chức kinh doanh tại Việt Nam mà không cần
lập ra pháp nhân mới
Đầu tư phát triển kinh doanh: là hình thức dự án đầu tư có vốn nước ngoài
đang hoạt động tại Việt Nam bỏ thêm vốn nhằm mục đích mở rộng quy mô, nâng cao công suất, năng lực kinh doanh, đổi mới công nghệ, nâng cao chất
lượng sản phẩm, giảm ô nhiễm môi trường
Trang 111.1.2 Công ty đa quốc gia
Đi lên theo sự phát triển kinh tế, các công ty hoạt động trong lãnh thổ một quốc gia dần phát triển, các quan hệ kinh tế giữa các chủ thể kinh doanh ngày càng
đa dạng Các công ty tăng trưởng tốt, nguồn lực dồi dào sản xuất ra được một số lượng lớn sản phẩm, dịch vụ, đa dạng hóa hoạt động kinh doanh, mở rộng thị trường tiêu thụ Theo sự lớn mạnh và khả năng sản xuất tăng ổn định, các công ty hoạt động trong nước này có nhu cầu tìm kiếm nguồn lợi nhuận cao hơn, thị trường tiêu thụ rộng lớn hơn, và từ đó mở rộng thị trường ra khu vực lớn hơn - thị trường các quốc gia lận cận là đối tượng hướng tới Sau khi tìm hiểu, đánh giá thị trường các quốc gia lân cận, các công ty sẽ thực hiện đầu tư, xây dựng những chi nhánh hoặc công ty con sang một hay nhiều quốc gia tiềm năng, mà tại đó họ nhận thấy được lợi thế so sánh từ nguyên vật liệu và nhân công lao động cũng như khả năng hoạt động kinh doanh ổn định của các chi nhánh hoặc công ty con của mình ở quốc gia được chọn Từ việc đầu tư xây dựng các chi nhánh hoặc công ty con, công ty đó trở thành công ty mẹ, các chi nhánh và công ty con hoạt động kinh doanh trên một hay nhiều quốc gia khác được gọi là các gọi chung là các công ty con và khái niệm công ty đa quốc gia (Multinational Corporations – MNCs hay Multinational Enterprises - MNEs) đươc ra đời Như vậy, công ty đa quốc gia là công ty hoạt động kinh doanh sản xuất sản phẩm, dich vụ trên ít nhất hai quốc gia, bao gồm công
ty mẹ ở một quốc gia thực hiện các đầu tư xây dựng các công ty con ở các quốc gia khác Công ty mẹ và các công ty con liên hệ chặt chẽ, ảnh hưởng lẫn nhau
Các công ty đa quốc gia là chủ thể của FDI tức là khi các công ty đa quốc gia hoạt động sản xuất – kinh doanh trên lãnh thổ nhiều quốc gia kéo theo dòng luân chuyển FDI và vốn của công ty mẹ đầu tư vào công ty con đặt tại một nước khác được tính là FDI Các công ty đa quốc gia chiếm phần lớn nguồn đầu tư trực tiếp ra nước ngoài Số liệu thống kê cho thấy, các MNC chiếm tới 25% giá trị của nền sản xuất toàn cầu, 65% kim ngạch thương mại quốc tế, 90% công nghệ cao và 70% đầu
tư nước ngoài Có thể nói nếu FDI là động lực quan trọng tạo nên và thúc đẩy quá trình toàn cầu hóa thì các MNC là nguồn nuôi dưỡng và động lực của FDI. [1]
Trang 121.2 Định giá chuyển giao
1.2.1 Định giá chuyển giao
Các MNC theo đuổi chiến lược toàn cầu hóa đã ngày càng mở rộng hoạt động đầu tư và kinh doanh ra nhiều nước khác nhau trên khắp thế giới Do đó, một sản phẩm có thể được thiết kế tại một số nước, một số bộ phận cấu thành của nó được sản xuất ở nước thứ hai, các bộ phận cấu thành khác được sản xuất ở nước thứ
ba, tất cả sẽ được lắp rắp ở nước thứ tư và các sản phẩm hoàn thành sẽ được bán rộng rãi trên toàn cầu Vấn đề này làm phát sinh các nghiêp vụ nội bộ công ty rất phong phú và đa dạng Giá mà tại đó hàng hóa và dịch vụ được chuyển giao gọi là giá chuyển giao Như vậy khi thực hiện giá chuyển giao giữa các MNC phải tính toán giá chuyển giao giữa các bộ phận Theo thuật ngữ tài chính thì công việc này được gọi là định giá chuyển giao
Trong công tác quản trị tài chính tại các MNC thì việc định giá chuyển giao
là việc sử dụng các phương pháp để xác định giá cả của các nghiệp vụ chuyển giao nội bộ trong một MNC phù hợp với thông lệ quốc tế và được chấp nhận tại các quốc gia mà các công ty con của MNC đang hoạt động Với mức giá xác định cao hay thấp trong từng giao dịch lại tác động trực tiếp đến nghĩa vụ nộp thuế cho các quốc gia và sự di chuyển ngoại tệ giữa các nước
Để đảm bảo nguyên tắc thương mại công bằng cơ sở quan trọng nhất trong viêc trao đổi mua bán và lưu thông hàng hóa, dịch vụ giữa tất cả quốc gia, tránh các thiệt hại phát sinh do nghiệp vụ chuyển giao nội bộ gây ra, một nguyên tắc chung đã được tất cả các quốc gia thống nhất áp dụng Đó là nguyên tắc xác định giá trị của các nghiệp vụ chuyển giao nội bộ trong các MNC dực trên căn bản giá thị trường (The Arm’s Length Principle – ALP)
1.2.2 Nguyên tắc dựa trên giá thị trường của nghiệp vụ chuyển giao nội bộ (Arm’s Length Principle – ALP) [23]
Căn bản giá thị trường (ALP) là một chuẩn mực quốc tế do Tổ chức Hợp tác kinh thế phát triển (Organisation for Economic Co-operation and Development – OECD) đưa ra nhằm đề cập tới giá cả của hàng hóa, dịch vụ trong hoạt động thương
Trang 13mại diễn ra giữa các bên hoàn toàn độc lập không có sự liên kết Khi các công ty hoàn toàn độc lập có quan hệ trao đổi buôn bán với nhau thì các điều kiện thương mại và tài chính trong hợp đồng kinh tế (giá cả hàng hóa, dịch vụ, điều khoản về tín dụng,…) đều được định hướng và chi phối bởi các tác động khách quan của thị trường Ngược lại, khi các công ty có liên kết thực hiện quan hệ mua bán, trao đổi hàng hóa và dịch vụ, các tác động thị trường không nhất thiết có ảnh hưởng đáng kể đến các điều khoản thương mại và tài chính của hợp đồng và do đó chắc chắn sẽ có
sự sai lệch, thiếu khách quan trong chuyển giao này
Do tính khách quan của căn bản giá thị trường phản ánh đúng bản chất của thị trường và các quy luật giá trị quy luật cung cầu hàng hóa dịch vụ, quy luật cạnh tranh, do đó tất cả các thành viên của OECD đều nhất trí sử dụng căn bản giá trị thị trường làm cơ sở tính toán trong khi xác định giá chuyển giao và các vấn đề liên quan đến các loại thuế
Cách trực tiếp tốt nhất để kiểm tra xem các quan hệ liên kết có tác động thực
sự lên các chuyển giao giữa các công ty trong cùng MNC với giá cả trong các chuyển giao có thể so sánh được giữa các công ty độc lập trong cùng những điều kiện tương ứng Nhưng trong thực tế hầu hết như không tìm ra được các chuyển giao tương ứng có thể so sánh được để trực tiếp áp dụng nguyên tắc ALP, do đó phải tìm ra những cách tiếp cận khá mang tính gián tiếp để vẫn có thể sử dụng nguyên tắc ALP vào việc kiểm tra sự chuyển giá trong nội bộ MNC Bằng cách phân tích một cách hợp lý lãi gộp (hay lãi ròng) trong nhiều trường hợp có thể xác định các chuyển giao đang đề cập có thể tuân thủ nguyên tắc ALP hay không
Phương pháp giá bán lại (Resales Price Method)
Phương pháp giá vốn cộng Lãi (Cost Plus Method)
Trang 14 Phương pháp chiết tách lợi nhuận (Profit Split Method)
Phương pháp lợi nhuận ròng của nghiệp vụ chuyển giao (Transactional Net Margin Method – TNMM)
Tuỳ theo mỗi phương pháp cụ thể nêu trên, giá thị trường của sản phẩm có thể được tính trực tiếp hay gián tiếp ra đơn giá sản phẩm hoặc gián tiếp thông qua tỷ suất lợi nhuận gộp hoặc tỷ suất sinh lời của sản phẩm. [23]
1.2.3.1 Định giá chuyển giao trên cơ sở giá tự do có thể so sánh được (Comparable Uncontrolled Price – CUP)
Phương pháp giá tự do có thể so sánh được là phương pháp so sánh giá chuyển giao giữa các đơn vị có liên kết với giá thị trường
Phương pháp CUP so sánh giá cả của hàng hoá, dịch vụ, tài sản cố định hữu hình và vô hình trong các giao dịch giữa các bên độc lập và liên kết Tuỳ vào mối quan hệ so sánh mà ta có thể chia phương pháp CUP ra thành hai loại:
Phương pháp CUP nội bộ:
Trong phương pháp này dùng giá của các sản phẩm hàng hoá, dịch vụ được chuyển giao giữa các công ty con của một MNC (hay giữa công ty mẹ và công ty con) với giá cả hàng hoá, dịch vụ mà một thành viên của MNC bán ra bên ngoài cho một công ty hoàn toàn độc lập trong cùng các điều kiện so sánh được với nhau
Phương pháp CUP đối ngoại:
Là phương pháp mà giá cả hàng hóa, dịch vụ trong chuyển giao giữa thành viên thuộc MNC được so sánh với giá cả của sản phẩm hàng hóa dịch vụ trong giao dịch giữa hai chủ thể hoàn toàn độc lập khác cũng điều kiện tương đương
Một giao dịch độc lập được sử dụng để so sánh với giao dịch của các bên liên kết trong phương pháp CUP khi thỏa mãn:
Không có sự khác biệt giữa các giao dịch được so sánh hoặc các công ty tham gia giao dịch có thể ảnh hưởng đến giá bán lại trên thị trường
Các ảnh hưởng lên giá cả của bất kỳ sai biệt nào cũng đều phải tính toán và điều chỉnh được
Các yếu tố ảnh hưởng trọng yếu đến giá của hàng hoá và dịch vụ thường là:
Trang 15 Đặc tính vật chất, chất lượng và nhãn hiệu thương mại của sản phẩm
Các điều kiện hợp đồng trong việc cung cấp, chuyển giao sản phẩm Ví dụ như mua hàng với số lượng lớn sẽ được chiết khấu làm cho giá mua rẻ hơn hay thời hạn thanh toán và thời hạn chuyển giao sản phẩm
Quyền phân phối, tiêu thụ sản phẩm có ảnh hưởng tới giá trị kinh tế
Thị trường diễn ra các giao dịch mua bán
Để đảm bảo các giao dịch nội bộ tuân thủ theo giá thị trường thì MNC cần phải thực hiện so sánh giá chuyển giao nội bộ với giá của các giao dịch có thể so sánh như sau:
Giá bán hàng hoá, dịch vụ của một công ty thành viên của MNC cho một công ty hoàn toàn độc lập (công ty không phải là thành viên của MNC)
Giá bán hàng hoá, dịch vụ trong một nghiệp vụ mua bán của hai công ty hoàn toàn độc lập với MNC (tức hai công ty không là thành viên của MNC)
Giá bán hàng hoá, dịch vụ của một công ty hoàn toàn độc lập cho một công
ty là thành viên của MNC
Phương pháp CUP thường được áp dụng trong các trường hợp sau:
Các giao dịch riêng lẻ về từng chủng loại hàng hoá lưu thông trên thị trường
Các giao dịch riêng lẻ về từng loại hình dịch vụ, bản quyền, khế ước vay nợ
Các công ty kinh doanh thực hiện cả giao dịch độc lập và giao dịch liên kết cho cùng một chủng loại sản phẩm
Đây là phương pháp được xem là gần gũi nhất với nguyên tắc căn bản giá thị trường Trong thực tế đây là phương pháp thích hợp nhất cho cả bên mua và bên bán vì giá cả có thể so sánh với độ chính xác tương đối cao với giá cả trên thị trường vì vậy mà cả bên mua và bên bán đều có một khoản lợi nhuận tương đối phù hợp với mức bình quân thị trường
1.2.3.2 Phương pháp giá bán lại (Resales Price Method)
Phương pháp giá bán lại này dựa vào giá bán lại (hay giá bán ra) của sản phẩm do
cơ sở kinh doanh bán cho bên độc lập để xác định giá (chi phí) mua vào của sản
phẩm đó từ bên liên kết Như vậy, phương pháp này bắt đầu bằng việc lấy giá bán
Trang 16lại (hay giá bán ra) trừ (-) lợi nhuận gộp trừ (-) các chi phí khác Trong đó lợi nhuận gộp bao gồm các khoản chiết khấu mà công ty độc lập này được hưởng và tổng các khoản chiết khấu này phải đủ bù đắp cho các chi phí bán hàng, chi phí quản lý và điều hành doanh nghiệp cũng như một mức lợi nhuận hợp lý Các khoản chi phí khác là các chi phí liên quan đến việc mua sản phẩm và vận chuyển sản phẩm như thuế nhập khẩu, chi phí hải quan, chí phí bảo hiểm, chi phí vận chuyển Như vậy sau khi loại trừ hai yếu tố lợi nhuận gộp và chi phí khác thì phần còn lại có thể được xem như là giá cả theo nguyên tắc giá thị trường
Điều kiện để áp dụng phương pháp này:
Thứ nhất, các bên giao dịch phải độc lập với nhau, không có bất cứ ràng
buộc nào Vì nếu có tồn tại các ràng buộc, liên kết thì giá bán ra của các sản phẩm này sẽ không còn mang tính khách quan và tuân theo qui luật thị trường nữa
Thứ hai, không có sự khác biệt quá lớn về điều kiện giao dịch khi so sánh
giữa giao dịch độc lập và giao dịch liên kết gây ảnh hưởng trọng yếu đến tỷ suất lợi nhuận gộp bán ra (doanh thu thuần) Các nghiệp vụ mua hàng được chọn phải có liên quan đến nghiệp vụ chuyển giao cần xác định giá thị trường
Thứ ba, nếu xảy ra trường hợp có khác biệt thì các khác biệt này cần phải
được loại bỏ trước khi đem ra so sánh Trong thực tế có các trường hợp không tồn tại các nghiệp vụ hoàn toàn phù hợp với nhau để có thể so sánh, vì vậy có thể tính toán giá cả theo nguyên tắc thị trường bằng cách dựa trên khoản chiết khấu có nguồn gốc từ chính công ty thương mại một thị trường tương tự Chúng ta cần phải biết là trong thực tế giữa các nghiệp vụ chuyển giao nội bộ của MNC và nghiệp vụ chuyển giao có thể so sánh được tồn tại những khác biệt do sự vận động không ngừng của nền kinh tế như lạm phát, lãi suất và các ràng buộc về kinh tế, các thoả ước kinh tế…
Trong thực tế có một số trường hợp phương pháp này không thể thực hiện được do có những yếu tố tác động đến mức chiết khấu (tỷ lệ lãi gộp) và các chi phí khác Các yếu tố đó xảy ra trong các trường hợp sau:
Trang 17 Hàng hoá được các công ty thương mại mua về sau đó đem gia công chế biến thêm và làm thay đổi đáng kể giá trị của sản phẩm vì vậy mà ảnh hưởng đến việc xác định tỷ lệ chiết khấu hợp lý
Hàng hoá mua về sau đó đem thay đổi nhãn hiệu bằng nhãn hiệu có uy tín hơn và bán ở mức giá cao hơn dẫn đến khó khăn trong việc xác định khoản chiết khấu hợp lý
Thời gian từ lúc mua hàng đến lúc bán hàng quá lâu và khoảng cách địa lý làm cho kéo theo các rủi ro về tỷ giá, lạm phát và những biến động của nền kinh tế
Khác nhau về mặt chức năng kinh doanh (ví dụ như đại lý phân phối độc quyền, thực hiện các chương trình quảng cáo, khuyến mãi, bảo hành) cũng làm ảnh hưởng đến tỷ suất lãi gộp hay mức chiết khấu
Khác nhau về chủng loại, qui mô, khối lượng, thời gian quay vòng của sản phẩm và tính chất hoạt động của thị trường như là công ty thương mai này là bán buôn hay bán lẻ
Phương pháp hạch toán kế toán, phải đảm bảo các bên tham gia vào giao dịch liên kết cùng hạch toán theo cùng phương pháp kế toán, phương pháp theo dõi hàng tồn kho Nếu các bên tham gia vào các giao dịch sử dụng các phương pháp kế toán khác nhau vào các nghiệp vụ thì việc so sánh các
nghiệp vụ sẽ trở nên bị khập khiễng
Do đó mấu chốt của phương pháp này là xác định mức chiết khấu (tỷ lệ lãi gộp) một cách hợp lý Nhưng cũng không thể lấy tỷ lệ chiết khấu hay tỷ lệ lãi gộp bình quân cho toàn ngành mà áp đặt vào để so sánh Phương pháp này thường được
áp dụng cho các trường hợp giao dịch đối với các công ty thương mại các sản phẩm thuộc khâu cung cấp các dịch vụ giản đơn và thường thời gian phân phối từ khi mua hàng đến khi bán hàng ngắn và ít bị ảnh hưởng biến động của tính thời vụ Đồng thời các sản phẩm bán ra không qua gia công chế biến, lắp ráp hay thay đổi cấu trúc ban đầu của sản phẩm mà làm tăng một phần đáng kể giá trị của sản phẩm
Trang 181.2.3.3 Phương pháp giá vốn cộng lãi (Cost Plus Method or Mark Up Method)
Phương pháp giá vốn cộng thêm dựa vào giá vốn hay giá thành của sản phẩm
để xác định giá bán ra của sản phẩm cho các bên liên kết Giá bán ra của sản phẩm bằng giá vốn của sản phẩm cộng thêm cho một khoản lợi nhuận hợp lý Mức nâng lợi nhuận này phải được xem xét tới tất cả các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình sản xuất ra sản phẩm như giá trị tổng vốn trực tiếp tham gia vào quá trình sản xuất ra sản phẩm đó bao gồm cả TSCĐ hữu hình và TSCĐ vô hình, các rủi ro có liên quan Lợi nhuận nâng lên này phải được tính toán sao cho giá cả chuyển giao trong nghiệp vụ này có thể so sánh căn bản giá thị trường trong các nghiệp vụ mua bán chuyển giao giữa một công ty là thành viên của MNC và một công ty độc lập hoặc
là giao dịch giữa hai công ty hoàn toàn độc lập với nhau
Đối với phương pháp này, điều quan trọng là phải xác định phần lợi nhuận tăng thêm bao nhiêu là hợp lý Phần lợi nhuận nâng thêm này bị ảnh hưởng bởi các yếu tố sau:
Nếu công ty này chỉ sản xuất và thực hiện mua bán theo hợp đồng cho chỉ mỗi công ty mẹ và không gia công cho bất cứ công ty nào khác thì phần lợi nhuận tăng thêm này sẽ đựơc tính theo một tỷ lệ trên giá vốn sao cho hợp lý, tức là phần lợi nâng thêm phải dựa trên cơ sở của loại hình hoạt động của một công ty độc lập khác trên thị trường
Nếu công ty này sản xuất ra sản phẩm và bán theo các hợp đồng cho công ty
mẹ và bán theo hợp đồng cho các công ty độc lập khác thì tỷ lệ lợi nhuận tăng thêm (phần lợi nhuận tăng thêm) cần phải được tính toán và phân bổ theo tỷ lệ tổng vốn tham gia vào quá trình sản xuất ra sản phẩm Ngoài ra cần phải đối chiếu so sánh giá cả hàng hoá dịch vụ trong nghiệp vụ mua bán nội
bộ và nghiệp vụ mua bán với công ty độc lập
Ngoài ra còn các yếu tố như chức năng hoạt động của cơ sở kinh doanh sẽ kéo theo một số các chi phí kèm theo sẽ ảnh hưởng đến tỷ lệ lãi gộp (ví dụ như công ty sản xuất theo hợp đồng, nghiên cứu, phát triển, tỷ trọng gia tăng giá trị của sản phẩm so với quy mô đầu tư kinh doanh)
Trang 19 Các nghĩa vụ thực hiện hợp đồng như các ràng buộc giao hàng vể thời gian,
số lượng và chất lượng sản phẩm, lưu kho, lưu bãi, điều khoản thanh toán
công nợ, chiết khấu
Phương pháp này thường được áp dụng trong trường hợp hai phương pháp nêu trên
tỏ ra không hiệu quả, được sử dụng trong các trường hợp sau:
Đối với công ty sản xuất, chế biến, lắp ráp, chế tạo và bán cho các bên liên doanh liên kết, gia công chế biến sản phẩm và phân phối
Giao dịch giữa các bên liên kết thực hiện hợp đồng liên doanh, hợp đồng hợp tác kinh doanh để sản xuất, lắp ráp, chế tạo, chế biến sản phẩm, hoặc thực hiện các thoả thuận về cung cấp các yếu tố đầu vào và bao tiêu sản phẩm đầu
ra
Giao dịch cung cấp dịch vụ cho các bên liên kết
1.2.3.4 Phương pháp chiết tách lợi nhuận (Profit Split Method)
Trong thực tế, có những trường hợp các thành viên trong MNC có mối liên kết mua bán qua lại với nhau qua chặt chẽ, các giao dịch với khối lượng các giao dịch nhiều và phức tạp vì vậy mà các phương pháp trên tỏ ra không hiệu quả Trong trường hợp này thì phương pháp chiết tách lợi nhuận là phương pháp phù hợp nhất
Phương pháp chiết tách lợi nhuận dựa vào lợi nhuận thu được từ một giao dịch liên kết tổng hợp do nhiều thành viên của MNC liên kết thực hiện, từ đó thực hiện tính toán lợi nhuận thích hợp cho từng thành viên tham gia vào liên kết đó theo cách mà các bên giao dịch độc lập phân chia lợi nhuận trong điều kiện tương đương Giao dịch liên kết tổng hợp do nhiều cơ sở kinh doanh (các thành viên của MNC) liên kết tham gia thường là các giao dịch mang tính đặc thù, duy nhất bao gồm nhiều giao dịch liên kết có liên quan chặt chẽ với nhau về các đặc tính của sản phẩm Ví dụ như các sản phẩm chuyên dụng hay các sản phẩm mang tính độc quyền, hoặc các giao dịch liên kết khép kín giữa các bên có liên quan Các mối liên kết này thường kéo dài cả vòng đời sản phẩm từ lúc mua nguyên vật liệu đầu vào, đến sản xuất, lắp ráp sản phẩm cho đến cả khâu phân phối sản phẩm đến tay người tiêu dùng
Trang 20Dựa vào mối quan hệ liên kết giữa các bên tham gia thì phương pháp chiết tách lợi nhuận có hai cách tính như sau:
Cách thứ nhất: Phân bổ lợi nhuận cho từng bên liên kết trên cơ sở đóng góp vốn
(chi phí); theo đó lợi nhuận của mỗi bên tham gia trong giao dịch được xác định trên cơ sở, phân bổ tổng lợi nhuận thu được từ giao dịch liên kết tổng hợp theo tỷ lệ vốn (chi phí) sử dụng trong giao dịch liên kết của cơ sở kinh doanh trong tổng vốn đầu tư để tạo ra sản phẩm cuối cùng
Cách thứ hai: phân chia lợi nhuận theo hai bước như sau:
Bước 1: Mỗi bên tham gia vào giao dịch liên kết được phân chia phần lợi nhuận cơ
bản tương ứng với các chức năng hoạt động của mình Phần lợi nhuận cơ bản này phản ánh giá trị lợi nhuận của giao dịch liên kết tổng hợp mà mỗi bên thu được do thực hiện chức năng hoạt động của mình và chưa tính đến các yếu tố đặc thù và duy nhất (ví dụ độc quyền sở hữu hoặc sử dụng tài sản vô hình hoặc quyền sở hữu trí tuệ)
Phần lợi nhuận cơ bản được tính theo tỷ suất lợi nhuận gộp hoặc tỷ suất sinh lời tương ứng với giá trị phù hợp nhất thuộc biên độ giá thị trường chuẩn theo tỷ suất lợi nhuận gộp
Bước 2: Phân chia lợi nhuận phụ trội, mỗi bên tham gia giao dịch liên kết được
nhận tiếp phần lợi nhuận phụ trội tương ứng với tỷ lệ đóng góp liên quan đến tổng lợi nhuận phụ trội tức là tổng lợi nhuận thu được trừ (-) tổng lợi nhuận cơ bản đã phân chia ở bước thứ nhất của giao dịch liên kết tổng hợp Phần lợi nhuận phụ trội này phản ánh lợi nhuận của giao dịch liên kết tổng hợp mà cơ sở kinh doanh thu được ngoài phần lợi nhuận cơ bản nhờ các yêu tố đặc thù và duy nhất Phần lợi nhuận phụ trội của mỗi bên được tính bằng tổng lợi nhuận phụ trội thu được từ các giao dịch liên kết tổng hợp nhân với tỷ lệ đóng góp các chi phí hoặc tài sản dưới đây của mỗi bên: chi phí nghiên cứu và phát triển sản phẩm, giá trị (sau khi đã trừ khấu hao) của tài sản vô hình hoặc quyền sở hữu trí tuệ được sử dụng để sản xuất, kinh doanhsản phẩm
Trang 21Phương pháp chiết tách lợi nhuận này trong thực tế thường được áp dụng trong các trường hợp các bên liên kết cùng tham gia nghiên cứu và phát triển sản phẩm mới hoặc phát triển sản phẩm là tài sản vô hình độc quyền hoặc các giao dịch trong quy trình sản xuất, kinh doanh chuyển tiếp giữa các bên liên kết từ khâu nguyên vật liệu đến thành phẩm cuối cùng để lưu thông sản phẩm gắn liền với việc sở hữu hoặc quyền sở hữu trí tuệ duy nhất
1.2.3.5 Phương pháp lợi nhuận ròng của nghiệp vụ chuyển giao (Transaction Net Margin Method –TNMM)
Theo phương pháp này thì lợi nhuận thu được từ các bên liên kết sau khi đã trừ đi các định phí và biến phí liên quan, được xem xét theo theo tỷ lệ phần trăm của một khoản mục cơ sở nào đó, ví dụ là doanh số bán hàng, tổng giá vốn hàng bán ra hay tổng giá trị tài sản… thích hợp nhất là khi lợi nhuận này được so sánh với lợi nhuận của các hoạt động giao dịch độc lập khác có thể so sánh được của cùng công
ty mà chúng ta đang đề cập đến Trong trường hợp nếu không tồn tại các giao dịch độc lập có thể so sánh đối với công ty con của MNC thì ta có thể lấy lợi nhuận thu được trong các chuyển giao có thể so sánh được của hai công ty không liên kết khác làm cơ sở Trong một số trường hợp cần phải áp dụng các điều chỉnh mang tính định lượng cho các khác biệt về mặt vật chất giữa các chuyển giao liên kết và các chuyển giao độc lập
Do phương pháp này tập trung vào phân tích lợi nhuận phát sinh từng nghiệp
vụ chuyển giao một cách riêng lẻ, nên phương pháp này sẽ bị gặp khó khăn khi các nghiệp vụ phát sinh có mối quan hệ ràng buộc chặt chẽ với nhau Các chuyển giao mang tính chất đa dạng và phức tạp sẽ khó tìm được các giao dịch tương ứng để có thể so sánh được
Dựa vào các phương pháp mà OECD hướng dẫn như trên các MNC sẽ lựa chọn cho mình một phương pháp định giá chuyển giao sao cho phù hợp với đặc điểm sản xuất kinh doanh của mình Đồng thời, các phương pháp này là các công cụ hữu hiệu cho các quốc gia giám sát các hoạt động chuyển giá mà các MNC thực
Trang 22hiện nhằm hạn chế các tác hại tiêu cực của hoạt động chuyển giá đối với nền kinh
tế
1.3 Vấn đề chuyển giá trong các công ty đa quốc gia
1.3.1 Khái niệm chuyển giá
Theo Andrew Lymer & Jonh Hasseldine:“Chuyển giá được hiểu là việc thực hiện chính sách giá đối với hàng hóa, dịch vụ và tài sản được chuyển dịch giữa các thành viên trong tập đoàn qua biên giới không theo giá thị trường nhằm tối thiểu hóa số thuế của các công ty đa quốc gia (Multi Nations Company) trên toàn cầu.”[11]
Chuyển giá là một hành vi do các chủ thể kinh doanh thực hiện nhằm thay đổi giá trị trao đổi hàng hóa, dịch vụ trong quan hệ với các bên liên kết Đối tượng chịu tác động của hành vi chuyển giá giá cả Xuất phát từ ba nguyên do sau mà giá
cả có thể xác định lại trong những giao dịch liên kết:
Thứ nhất, các chủ thể có quyền tự do định đoạt trong kinh doanh, họ hoàn toàn có
quyền quyết định giá cả của một giao dịch Do đó họ có quyền mua hay bán hàng hóa, dịch vụ với giá họ mong muốn
Thứ hai, do mối quan hệ gắn bó chung về lợi ích giữa nhóm liên kết nên sự khác
biệt về giá giao dịch được thực hiện giữa các chủ thể kinh doanh có cùng lợi ích không làm thay đổi lợi ích toàn cục
Thứ ba, việc quyết định chính sách giá giao dịch giữa các thành viên trong nhóm
liên kết không thay đổi tổng lợi ích chung nhưng có thể làm thay đổi tổng nghĩa vụ thuế của họ Thông qua việc định giá, nghĩa vụ thuế được chuyển từ nơi bị điều tiết cao sang nơi bị điều tiết thấp hơn và ngược lại
Hành vi chuyển giá chỉ có thể được thực hiện thông qua giao dịch của các chủ thể có quan hệ liên kết Biểu hiện cụ thể của hành vi là giao kết về giá
Giá giao kết là cơ sở để xem xét hành vi chuyển giá Để có thể đánh giá một giao dịch có chuyển giá hay không cần so sánh giá giao kết với giá thị trường Nếu giá giao kết không tương ứng với giá thị trường thì có khả năng để kết luận rằng giao dịch này có biểu hiện chuyển giá
Trang 231.3.2 Các phương thức chuyển giá phổ biến
Qua nghiên cứu thực tế thì nhận thấy các MNC thường áp dụng các phương thức chuyển giá sau:
1.3.2.1 Chuyển giá thông qua hình thức nâng cao giá trị tài sản góp vốn
Các MNC có thể nâng giá trị vốn góp của mình bằng cách định giá cao các tài sản
cố định hữu hình như máy móc thiệt bị, dây chuyền công nghệ, hoặc lợi dụng vào
sự khó khăn trong việc xác định giá trị của các tài sản vô hình như giá trị thương hiệu, bằng phát minh, sáng chế…để nâng khống giá trị của các tài sản này
Việc nâng giá trị vốn góp được thể hiện như sau:
Đối với đầu tư dưới dạng liên doanh: việc nâng giá trị tài sản đóng góp sẽ
làm cho phần vốn góp của bên nâng giá trị góp vốn tăng, nhờ đó, tăng sự chi phối trong các quyết định liên quan đến hoạt động của dự án liên doanh và mức lời được chia sẽ tăng Ngoài ra, khi dự án kết thúc hoạt động thì tỷ lệ trị giá tài sản được chia cao hơn giúp các MNC thu về dòng tiền cao hơn
Đối với các công ty có 100% vốn đầu tư nước ngoài thì việc nâng tài sản góp
vốn sẽ giúp họ tăng mức khấu hao trích hàng năm, làm tăng chi phí đầu vào
Việc tăng mức khấu hao tài sản cố định sẽ giúp chủ đầu tư:
• Nhanh hoàn vốn đầu tư cố định, nhờ đó giảm thiểu rủi ro đầu tư
• Giảm mức thuế TNDN phải đóng cho nước tiếp nhận đầu tư
Ngoài ra, khi nâng giá trị vốn góp bằng cách định giá cao hơn giá trị thực của các tài sản cố định thì các MNC đã một phần chuyển bớt thu nhập của công ty ra ngoài Khi thực hiện hành động này thì các MNC một mặt tiết kiệm được chi phí thanh lý các TSCĐ lỗi thời, một mặt lại chuyển được thu nhập về quốc gia có thuế suất thấp từ đó có thể tối đa hóa lợi nhuận của MNC
1.3.2.2 Chuyển giá bằng cách nâng khống trị giá tài sản vô hình (công nghệ, thương hiệu…)
Chuyển giá thông qua việc mua các TSCĐ vô hình với giá thật cao hay chi trả các chi phí bản quyền, các chi phí để xây dựng thương hiệu sản phẩm, các chi phí nghiên cứu và phát triển sản phẩm Các MNC sẽ xây dựng các phòng nghiên
Trang 24cứu và phát triển sản phẩm tại các quốc gia có thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp cao, tất cả các chi phí nghiên cứu phát triển sản phẩm sẽ do thành viên MNC tại quốc gia có thuế suất cao này gánh chịu Nhưng kết quả của việc nghiên cứu và phát triển sản phẩm thì các thành viên khác vẫn được áp dụng như nhau Hoặc một chương trình quảng cáo nhằm xây dựng thương hiệu cho sản phẩm trên phạm vi khu vực, nhưng chi phí lại được phân bổ hết về cho thành viên có trụ sở tại quốc gia
có thuế suất cao Các hoạt động trên đều nhằm tối thiểu hóa số thuế phải nộp và việc phân bổ chi phí trên hoàn toàn là hành động chủ quan của các nhà quản lý của MNC vì vậy đây cũng là hình thức chuyển giá
1.3.2.3 Chuyển giá thông qua việc điều tiết giá mua bán hàng hóa, thành phẩm, bán thành phẩm và các nguyên liệu vật liệu
Nếu thuế nhập khẩu ở quốc gia có công ty nhập khẩu của MNC cao thì giá nguyên vật liệu sản xuất, bán thành phẩm hay thành phẩm sẽ được công ty mẹ bán với giá thấp để giảm thuế nhập khẩu phải nộp cho công ty con, đồng thời bù đắp việc bán với giá thấp bằng cách tính giá cao hơn với các hoạt động tư vấn, huấn luyện hỗ trợ tiếp thị …
Giữa 2 công ty của MNC có quan hệ với nhau theo cách sản phẩm đầu ra của công ty này là đầu vào của công ty kia, nếu thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp của công ty đầu ra cao hơn công ty đầu vào thì công ty đầu ra sẽ bán cho công ty đầu vào với giá thấp, còn nếu thuế ở công ty đầu ra thấp hơn công ty đầu vào thì công ty đầu ra sẽ bán với giá cao hơn qua đó MNC có thể giảm được thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp, nhờ đó MNC có thể tối đa hóa lợi nhuận sau thuế
1.3.2.4 Chuyển giá thông qua hình thức nâng chi phí các đơn vị hành chính và quản lý
Các MNC thực hiện hình thức nâng cao chi phí các đơn vị hành chính và quản lý bằng cách khai cao các chi phí tư vấn, đào tạo chuyên viên, chuyển người qua công ty mẹ học tập cho các công ty con Hoặc ép các công ty con trả lương cao cho các chuyên viên đến từ công ty mẹ hoặc các công ty thành viên cao, trả chi phí
Trang 25lớn cho các công ty tư vấn trung gian thuộc MNC nhằm chuyển một phần lợi nhuận của các công ty con ra khỏi nước
Các thành viên trong MNC có sự cung ứng các dịch vụ tài chính, tư vấn pháp
lý với giá cả cao hơn nhiều lần so với giá cả thị trường Cung cấp các khoản tín dụng ngắn hạn, trung hạn và dài hạn với lãi suất cao hơn mức thị trường Có sự tài trợ liên quan đến các nguồn lực cơ bản như nhân sự, vật chất Các chi phí cho các chuyên gia tham gia tư vấn như các chi phí về tiền lương, chi phí nhà ở, đi lại, các chi phí khác phục vụ cho các chuyên gia yên tâm làm việc
1.3.2.5 Chuyển giá thông qua hình thức tài trợ bằng nghiệp vụ vay từ công ty
mẹ
Các MNC thực hiện hình thức này bằng cách áp dụng các hình thức tài trợ khác nhau giữa các công ty con Bằng hình thức này, các công ty con tạo ra cơ cấu vốn và nguồn vốn bất hợp lý như dùng nguồn vốn vay từ công ty mẹ để tài trợ cho tài sản cố định và tài sản đầu tư dài hạn mà không tăng vốn góp và vốn chủ sở hữu nhằm đẩy chi phí hoạt động tài chính lên cao như chi phí chênh lệch tỷ giá, chi phí lãi vay và chuyển một phần lợi nhuận về nước dưới dạng lãi vay, chi phí bảo lãnh vay vốn để tránh thuế, tránh lỗ do chênh lệch tỷ giá về sau Hoặc là các công ty mẹ
sẽ buộc các công ty con đóng tại nước có thuế suất cao tài trợ bằng nợ vay nhiều hơn để hưởng lợi từ tấm chắn thuế đồng thời sẽ chuyển phần vốn cổ phần cho công
ty con ở quốc gia có thuế suất thấp hơn Cách làm này giúp cho các MNC vẫn đảm bảo được cấu trúc vốn của toàn công ty đồng thời dòng tiền chung của toàn công ty được tăng thêm
Trong thực tế, các quốc gia có thể không có lãi suất giống nhau nên các công
ty sẽ so sánh giá trị lợi thế từ tấm chắn thuế và từ lãi vay để quyết định vấn đề vay vốn
1.3.2.6 Chuyển giá thông qua các trung tâm tái tạo hóa đơn
Trung tâm tái tạo hóa đơn đóng vai trò người trung gian giữa công ty mẹ và các công ty con Hàng hóa trên chứng từ hóa đơn thì được bán từ công ty nơi sản xuất hàng hóa qua trung tâm tái tạo hóa đơn và sau đó thì trung tâm này lại bán lại
Trang 26cho công ty phân phối bằng cách xuất hóa đơn và chứng từ kèm theo Thông qua việc này sẽ định vị lại loại ngoại tệ của cả đơn vị sản xuất và trung tâm tái tạo hóa đơn Nhưng trên thực tế, hàng hóa được chuyển giao trực tiếp từ công ty sản xuất qua thẳng công ty phân phối mà không qua trung tâm tái tạo hóa đơn Hình thức này thường xảy ra trong ngành dược phẩm
1.3.3 Động cơ dẫn đến hành vi chuyển giá
Động cơ bên ngoài
Sự khác biệt về thuế suất, khi thấy được thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp giữa hai quốc gia có sự khác biệt lớn, với mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận các MNC sẽ thực hiện hành vi chuyển giá nhằm mục đích giảm thiểu tối đa khoản thuế phải nộp đồng thời tối đa hóa lợi nhuận sau thuế Khi có chênh lệch về thuế suất thì các MNC thường chuyển giá bằng cách nâng giá mua đầu vào các nguyên, vật liệu, hàng hóa
và định giá bán ra hay giá xuất khẩu thấp tại các công ty con đóng trên các quốc gia
có thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp cao Theo đó thì MNC đã chuyển một phần lợi nhuận từ quốc gia có thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp cao sang quốc gia có thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp thấp và mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận đã được thực hiện thành công
Kiểm soát ngoại hối và các rủi ro, mong muốn của MNC là có thể bảo toàn vốn đầu
tư theo nguyên tệ, kỳ vọng về sự biến đổi trong tỷ giá và trong chi phí cơ hội đầu tư Với mục đích là bảo toàn và phát triển nguồn vốn đầu tư ban đầu, các MNC sẽ tiến hành đầu tư vào một quốc gia nếu quốc gia đó theo dự đoán của MNC rằng trong tương lai đồng tiền của quốc gia này sẽ mạnh lên tức là số vốn đầu tư ban đầu sẽ được bảo toàn và phát triển, ngược lại sẽ rút đầu tư ra khỏi quốc gia được dự báo rằng trong tương lai đồng tiền của quốc gia này sẽ bị yếu đi đồng nghĩa với việc vốn đầu tư ban đầu bị giảm đi Mặt khác, dựa trên dự báo về tình hình tỷ giá mà các MNC có thể thực hiện các khoản thanh toán nội bộ sớm hơn hoặc kéo dài thời gian nhằm giảm rủi ro về tỷ giá Các khoản nợ nội bộ sẽ được thanh toán sớm nếu các dự báo cho rằng đồng tiền của quốc gia mà MNC có công ty con trong thời gian tới sẽ
Trang 27bị mất giá Và ngược lại các khoản nợ này sẽ bị trì hoãn lâu hơn khi có dự báo rằng đồng tiền của quốc gia đó có xu hướng mạnh lên trong tương lai gần
Tình hình lạm phát khác nhau giữa các quốc gia, quốc gia nào có tỷ lệ lạm phát cao tức đồng tiền nước đó bị mất giá Do đó MNC sẽ tiến hành hoạt động chuyển giá nhằm bảo toàn lượng vốn đầu tư và lợi nhuận
Tình hình kinh tế chính trị xã hội của quốc gia có chi nhánh hoặc công ty con của MNC Một khi chính sách kinh tế của quốc gia thay đổi thì quyền lợi của các công
ty con của MNC sẽ bị ảnh hưởng, các MNC sẽ tiến hành các hành vi chuyển giá nhằm hạn chế hoặc chống lại các tác động từ chính sách đó Hoặc khi tình hình chính trị bất ổn, để giảm thiểu mọi rủi ro và bảo tồn được vốn đầu tư kinh doanh ban đầu với mong muốn thu hồi được vốn đầu tư thì MNC sẽ tiến hành chuyển giá Ngoài ra hoạt động chuyển giá nhằm làm giảm các khoản lãi rồi từ đó áp lực đòi tăng lương của lực lượng lao động cũng giảm, cũng như giảm được sự chú ý của các cơ quan thuế của quốc gia sở tại
Động cơ bên trong
Bên cạnh những động cơ khách quan bên ngoài vừa được nêu trên, thì hoạt động chuyển giá còn được thúc đẩy bởi các yếu tố bên trong như:
Làm đẹp báo cáo tình chính: Trong một số trường hợp các hoạt động sản xuất kinh
doanh của MNC tại quốc gia sở tại hay các công ty thành viên trên các quốc gia khác bị thua lỗ do sai lầm trong kế hoạch kinh doanh, sai lầm trong việc nghiên cứu thị trường và đưa sản phẩm mới vào thị trường, hoặc do các chi phí quản lý hay chi phí quảng cáo, quảng bá sản phẩm quá cao Để trình bày được một bức tranh tài chính có triển vọng hơn của công ty khi đứng trước các cổ đông và các bên có liên quan khác thì chuyển giá như là phương tiện hữu hiệu để đạt được kết quả đó.Chuyển giá giúp cho các MNC san sẻ chia bớt thua lỗ giữa các thành viên với nhau theo đó làm giảm các khoản thuế phải nộp và tạo nên bức tranh tổng quan giả tạo tươi sáng nhất của công ty
Chiếm lĩnh thị trường: khi thâm nhập vào một thị trường tiềm năng mới thì điều quan trọng đối với các MNC trong giai đoạn này là phải chiếm lĩnh thị trường, thị
Trang 28phần nhằm tạo nên một nền móng vẫn chắc ban đầu làm bệ phóng cho hoạt động kinh doanh sau này Do đó các MNC trong giai đoạn này buộc phải tăng cường đấy mạnh các hoạt động quảng cáo, quảng bá sản phẩm, hình ảnh của mình trên thị trường, điều này dẫn đến các MNC sẽ bị thua lỗ kéo dài Trong các mối liên kết, hợp tác kinh doanh với đối tác thì các MNC sẽ dựa vào tiềm lực tài chính hùng hậu
mà thực hiện các hành vi chuyển giá bất hợp pháp để làm cho hoạt động kinh doanh thua lỗ kéo dài và chiếm lấy quyền quản lý và kiểm soát công ty Sau khi đánh bật các các đối thủ và những bên liên kết kinh doanh ra khỏi thị trường thì MNC sẽ chiếm lĩnh thị trường và nâng giá sản phẩm để bù lại phần chi phí trước đây đã bỏ
ra
Ngoài ra, nhằm giảm các rủi ro khi chuyển giao các sản phẩm và dịch vụ có tính đặc thù cao, độc quyền và tính bảo mật cao như trong các ngành công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, dầu khí, y dược… thì chuyển giá là phương pháp được các MNC lựa chọn
1.3.4 Nhận diện công ty có dấu hiệu chuyển giá
Một số biểu hiện nghi vấn các dấu doanh nghiệp có dấu hiệu chuyển giá:
Một trong những dấu hiệu quan trọng nhất của chuyển giá đó là các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài lỗ trong nhiều năm liên tiếp: các MNC kê khai hạch toán không chính xác doanh thu và chi phí, thể hiện kết quả kinh doanh liên tục lỗ nhiều năm và bị mất vốn chủ sở hữu kể từ khi hết thời gian được hưởng ưu đãi về thuế để tránh việc nộp các khoản thuế, phí Tuy nhiên, dù lỗ nặng nhưng vẫn liên tục mở rộng quy mô sản xuất – kinh doanh
Các MNC còn định giá đầu vào cao hơn và giá đầu ra thấp hơn thị trường: nhập khẩu nguyên liệu, máy móc thiết bị đầu vào cho sản xuất từ chính các công ty
mẹ ở nước ngoài với giá cao hơn nhiều so với giá trị thực tế, nhưng giá bán đầu ra cho các đơn vị có liên quan liên kết lại thấp hơn giá thị trường
Giá bán hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu cho nước ngoài có hiện tượng giá bán, giá gia công thấp hơn giá vốn dẫn kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh liên tục lỗ
Trang 29nhiều năm dẫn đến mất vốn Để hoạt động tiếp tục sử dụng hình thức công ty mẹ hỗ trợ vốn hoặc cho vay vốn không tính lãi
Công ty mẹ phân bổ chi phí phát sinh ở nước ngoài cho công ty con một số khoản mục như quảng cáo, tiếp thị, nghiên cứu mở rộng thị trường, chi phí lãi vay, bản quyền… thực tế các khoản chi phí này phải do công ty mẹ tại nước ngoài chi trả
Một dấu hiệu nữa là các MNC đầu tư quá nhiều cho các khoản chi phí ban đầu như tiền bản quyền cho việc sử dụng bí quyết kỹ thuật hoặc nhãn hiệu, xây dựng các phòng nghiên cứu và phát triển sản phẩm tại quốc gia có mức thuế suất cao trong khi kết quả thì được áp dụng cho tất cả các công ty thành viên, hoặc một chương trình quảng cáo nhằm xây dựng thương hiệu cho sản phẩm trên phạm vi khu vực, nhưng chi phí lại được phân bổ hết về cho thành viên có trụ sở tại quốc gia
có thuế suất cao
Các biểu hiện trên báo cáo tài chính của các doanh nghiệp FDI có dấu hiệu chuyển giá
Giá vốn hàng hóa, dịch vụ cao
Giá vốn hàng hóa, dịch vụ là một phần trong chi phí doanh nghiệp (gồm giá vốn hàng bán, chi phí quản lý, chi phí bán hàng, chi phí tài chính) Tuy nhiên qua kiểm tra giá vốn hàng bán tại các doanh nghiệp này phát sinh rất cao (chiếm trên 90%, thậm chí giá vốn cao hơn giá bán)
Đưa ngoài gia công
Năng lực sản xuất tại các doanh nghiệp hạn chế bởi máy móc thiết bị, mặt bằng sản xuất, số lượng nhân công,…nhưng vẫn ký hợp đồng với khách hàng nước ngoài vượt qua năng lực sản xuất của doanh nghiệp, và với lý do để đảm bảo khốilượng hợp đồng đã ký kết các doanh nghiệp này đưa các doanh nghiệp trong nước gia công lại Qua xem xét giá giao gia công cho các doanh nghiệp trong nước cao gần bằng và thậm chí cao hơn giá ký gia công với nước ngoại và tỷ lệ đưa ngoài gia công rất cao (gần bằng 80% sản lượng) phát sinh trong nhiều năm liền
Trang 30Khách hàng ứng tiền trước rất lớn
Trên tài khoản công nợ một số công ty có số dư rất lớn (khách hàng trả tiền trước)
Số tiền ứng trước này rất cao, đôi khi không được quy định trong hợp đồng Việc ứng trước này không tuân thủ theo một nguyên tắc nào (như căn cứ vào giá trị hợp đồng đã ký kết…)
Vay nước ngoài
Sau nhiều năm lỗ liên tục, để đảm bảo cân đối vốn kinh doanh các doanh nghiệp phát sinh các hợp đồng vay vốn với nước ngoài Các hợp đồng này thường do công
ty mẹ hoặc cá nhân chủ doanh nghiệp cho vay Nhiều hợp đồng cho vay không tính lãi vay, không xác định thời gian vay, đây là cách để tránh nộp thuế nhà thầu đối với tiền lãi vay
về thuế đối với quốc gia mà mình đặt trụ sở
Đối với các quốc gia có chính sách tiền tệ thắt chặt thì thực hiện việc chuyển giá sẽ giúp cho MNC dễ dàng chuyển lợi nhuận ra nước ngoài và tận dụng cơ hội để thực hiện những kế hoạch kinh doanh một cách nhanh chóng
Các MNC dựa vào nguồn lực tài chính sẵn có, thông qua hoạt động chuyển giá để nhanh chóng chiếm lĩnh thị trường mới thâm nhập, đánh bật và thâu tóm các công ty nhỏ lẻ trong nước Sau đó các chi phí phát sinh trong quá trình này sẽ được
Trang 31san sẻ cho các công ty thành viên trong tập đoàn Vì vậy đứng trên phương diện tài chính thì MNC sẽ không bị áp lực nhiều về tình trạng thua lỗ
Các MNC sẽ xây dựng một kế hoạch về thuế trên qui mô tổng thể sao cho có lợi nhất và từ đó dựa vào sự chênh lệch về mức lãi suất giữa các quốc gia để thực hiện việc mua bán nội bộ, chuyển giá nếu cần thiết nhằm đạt mục tiêu về thuế
Thông qua việc bán các tài sản, thiết bị lỗi thời với giá cao thì một mặt giúp các công ty tại chính quốc thay đổi được công nghệ với chi phí thấp, một mặt lại thu hồi vốn đầu tư nhanh tại các quốc gia tiếp nhận đầu tư
Các MNC có thể tránh được các rủi ro trong hoạt động nghiên cứu và phát triển sản phẩm thông qua việc mua bán qua lại, vì các hoạt động này thường tốn nhiều chi phí và khả năng thành công cũng không cao MNC sẽ giảm được một số các rủi ro về tỷ giá, rủi ro về thị trường tiêu thụ sản phẩm, rủi ro về tính ổn định của nhà cung cấp nguyên vật liệu và chất lượng nguyên vật liệu và một số rủi ro khác Ngoài những thuận lợi trên chuyển giá không chỉ giúp công ty về vấn đề thuế mà
còn giúp điều phối nhu cầu lương nhân viên bằng cách giảm lợi nhuận công bố;
giúp giảm khoản chia lợi nhuận cho các cổ đông thiểu số; chống lại việc kiểm soát giá của chính phủ bằng cách tăng chi phí; tránh chi phí chống chuyển giá bằng cách
giảm chi phí cơ bản; giảm tác động của hải quan khi nhập khẩu
Nguy cơ:
MNC sẽ phải gánh chịu những hình phạt rất nghiêm khắc từ cơ quan thuế nếu việc chuyển giá bị phát hiện MNC có thể bị phạt một số tiền rất lớn hoặc bị rút giấy phép kinh doanh và chấm dứt mọi hoạt động sản xuất kinh doanh tại quốc gia
Trang 321.3.5.2 Quốc gia tiếp nhận dòng vốn đầu tư
Xét về dài hạn, tình trạng chuyển giá gây hậu quả nghiêm trọng đối với nền sản xuất trong nước cũng như vị thế quốc gia trên thị trường thế giới
Để rút ngắn thời gian thu hồi vốn, thông qua hoạt động chuyển giá, các MNC định giá cao các yếu tố đầu vào, khi đó các luồng vốn có xu hướng chảy ngược ra khỏi quốc gia tiếp nhận đầu tư Các hành động chuyển giá nhằm thu hồi vốn nhanh hơn so với kế hoạch đầu tư ban đầu sẽ làm cho thay đổi cơ cấu vốn của nền kinh tế quốc gia tiếp nhận đầu tư Tạo ra sự phản ánh sai lệch kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của nền kinh tế
Nhằm chiếm lĩnh thị phần khi mới tham gia vào thị trường, thông qua hoạt động chuyển giá các MNC sẽ tiến hành các chiêu thức quảng cáo và khuyến mãi quá mức, và hậu quả là lũng đoạn thị trường Các doanh nghiệp trong nước không
đủ tiềm lực tài chính để cạnh tranh vì vậy mà dần dần sẽ bị phá sản hoặc buộc phải chuyển sang kinh doanh trong các ngành khác Các MNC sẽ dần trở nên độc quyền
và thao túng thị trường trong nước, kiểm soát giá cả và mất dần tính tự do cạnh tranh của thị trường tự do Chính phủ của quốc gia này sẽ gặp khó khăn trong quá trình hoạch định các chính sách kinh tế vĩ mô và không thể thúc đẩy ngành sản xuất trong nước phát triển
Thông qua hoạt động chuyển giá, các MNC sẽ thực hiện kế hoạch thôn tính các doanh nghiệp trong nước Với tiềm lực tài chính mạnh, các MNC sẽ tiến hành liên doanh với các doanh nghiệp trong nước với tỷ lệ vốn góp cao để nắm quyền quản lý Khi đã nắm được quyền quản lý các MNC sẽ thực hiện hành vi chuyển giá nhằm làm cho kết quả kinh doanh thua lỗ kéo dài Khi kết quả hoạt động kinh doanh bị thua lỗ thì bắt buộc phải tăng vốn góp lên, nếu các đối tác trong nước không đủ tiềm lực tài chính sẽ phải bán lại phần vốn góp của mình và như vậy là từ công ty liên doanh chuyển thành công ty 100% vốn nước ngoài Kế hoạch thôn tính doanh nghiệp trong nước đã thành công
Chuyển giá sẽ tạo ra bất công trong cạnh tranh giữa MNC với doanh nghiệp nội địa Chẳng hạn, một MNC sử dụng công cụ chuyển giá để tối ưu hóa lợi nhuận
Trang 33về công ty mẹ ở nước ngoài trong khi đó báo cáo thua lỗ tại quốc gia đang kinh doanh để khỏi đóng thuế và nhiều trường hợp được hoàn thuế, như vậy MNC sẽ có nhiều nguồn lực về tài chính hơn để đầu tư vào các hoạt động tiếp thị, quảng bá Trong khi đó, doanh nghiệp nội địa phải thực hiện nghĩa vụ thuế nghiêm túc hơn nên ít nhiều sẽ thua thiệt với các MNC
Các hoạt động chuyển giá sẽ làm phá sản kế hoạch phát triển nền kinh tế quốc dân của các quốc gia tiếp nhận đầu tư Nếu không bị ngăn chặn kịp thời thì về lâu dài các quốc gia tiếp nhận đầu tư sẽ phải phụ thuộc về mặt kinh tế và tiếp theo sau đó là sự chi phối về mặt chính trị Hoạt động chuyển giá sẽ gây ra tình trạng mất cân đối trong cán cân thanh toán quốc tế của quốc gia đó
1.3.5.3 Quốc gia xuất khẩu đầu tư
Xét về mặt tích thì khi các MNC thực hiện hành vi chuyển giá thì:
Nước xuất khẩu vốn thu được ngoại tệ nhiều hơn nhờ đó góp phần cải thiện cán cân thương mại, cán cân thanh toán quốc tế
Sự hoạt động của các MNC tại chính quốc tốt hơn về hình thức thì cũng tác động tốt hơn đến hiệu quả kinh tế xã hội: đóng góp nhiều thuế hơn cho nhà nước, tác động tốt tới tăng trưởng kinh tế của nước xuất khẩu vốn đầu tư
Mặt khác:
Nếu thuế suất ở các quốc gia tiếp nhận đầu tư thấp hơn thuế suất ở chính quốc, sẽ làm cho các nước xuất khẩu đầu tư bị mất cân đối trong kế hoạch thuế của nước này do việc thất thu một khoản thu nhập từ thuế
Mục tiêu quản lý nền kinh tế vĩ mô ở các quốc gia này sẽ gặp một số khó khăn nhất định do việc các dòng vốn đầu tư dịch chuyển không theo ý muốn quản lý của chính phủ
1.3.6 Bài học kinh nghiệm từ một số nước trên thế giới
1.3.6.1 Kinh nghiệm chống chuyển giá tại Mỹ
Năm 1998, Hoa Kỳ ban hành đạo luật IRS (Internal Revenue Service) Section 482 đưa trên nguyên tắc giá thị trường đề làm cơ sở xác định giá chuyển giao giữa các MNC
Trang 34Năm 1993, đạo luật chống chuyển giá IRS Sec 6662 ra đời quy định số tiền phạt vi phạm về giá chuyển giao dao dộng từ 20-40% số thuế khai thiếu
Tháng 10/1988, Cơ quan Thuế nội địa Mỹ (IRS) đề nghị hai phương pháp nhằm thiết lập tiêu chuẩn cân xứng với thu nhập Một là dựa trên phân tích các giao dịch có thể so sánh; hai là dựa trên việc tách lợi nhuận giữa các bên có liên kết
Tháng 1/1992, IRS ban hành quy định giới thiệu ba phương pháp định giá mới, tất cả dựa trên việc đối chiếu các tài liệu về kết quả giao dịch
Tháng 1/1993, IRS ban hành quy định tạm thời Ngày 1/7/1994 quy định chính thức được ban hành, có hiệu lực từ ngày 8/7/1994 cho đến nay
Quy định yêu cầu giá chuyển giao tài sản vô hình phải được xác định theo một trong bốn phương pháp sau: Phương pháp giao dịch không liên kết có thể so sánh (CUT); Phương pháp lợi nhuận có thể so sánh (CPM); Phương pháp tách lợi nhuận; và các phương pháp khác không định rõ
1.3.6.2 Kinh nghiệm chống chuyển giá của Trung Quốc
Trung Quốc gia tăng củng cố hệ thống thuế Pháp luật điều chỉnh chuyển giá Trung Quốc đang áp dụng các quy định chủ yếu theo các luật sau: Luật Thuế TNDN (2007); Thực hiện Quy phạm pháp luật thuế TNDN (2007); Thông tư Guoshuifa số 2 (2009)
Các qui định chống chuyển giá của Trung Quốc cũng xây dựng dựa trên
cở sở hướng dẫn của OECD, tuy nhiên luật chống chuyển giá của Trung Quốc có một số điểm khác cơ bản so với luật chống chuyển giá của Mỹ như sau:
Nghĩa vụ nộp thuế ở Trung Quốc không được hợp nhất, nếu một tập đoàn kinh tế có các chi nhánh tại các tỉnh thành khác nhau của Trung Quốc
sẽ chịu thanh tra về thuế chống chuyển giá nhiều lần
Một điểm khác nữa là, khi cơ quan thuế của tỉnh này chấp nhận một vấn
đề nào đó về thuế thì chưa chắc cơ quan thuế ở địa phương khác chấp nhận Điều này khác hoàn toàn nếu các tập đoàn kinh tế có nhiều chi nhánh tại Mỹ, các vấn đề về thuế được cơ quan thuế tiểu bang chấp nhận thì xem như là được chấp nhận tại các tiểu bang khác
Trang 35 Nếu bị xác định là có hành vi chuyển giá tại công ty, thì các điều chỉnh
về định giá chuyển giao do cơ quan thuế Trung Quốc đưa ra sẽ được áp đặt cho tất cả các loại thuế có liên quan như: thuế TNDN, thuế GTGT, thuế xuất nhập khẩu… Trong khi tại Mỹ chỉ áp đặt tính lại thuế TNDN mà thôi
Tại Mỹ, các chỉ số về mức nâng giá hợp lý do cơ quan thuế lập nên dựa trên các nguồn thông tin đại chúng và mọi người đều biết Nhưng tại Trung Quốc thì cơ quan thuế Trung Quốc xây dựng các nguồn dữ liệu từ việc so sánh bí mật
Đặc biệt ngoài việc có lợi nhuận thấp hoặc lỗ, Cơ quan thuế Trung Quốc còn tập trung vào các công ty chi trả số lượng lớn tiền bản quyền cho các bên liên quan
ở nước ngoài hoặc một tỷ lệ lớn các hoạt động kinh doanh chính của họ là giao dịch với các bên liên quan
Trung Quốc đồng thời cũng đưa ra các biện pháp xử phạt cụ thể đối với hành
vi chuyển giá Điều 60-73 của Luật quản lý thuế quy định rằng hành vi vi phạm luật có thể bị phạt tiền, và những vi phạm nghiêm trọng như trốn thuế, gian lận thuế
có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự Luật thuế TNDN Trung Quốc cũng nêu rõ,
từ sau ngày 01 tháng 1 năm 2008 các khoản thuế bị trả thiếu liên quan đến giao dịch giữa các bên liên kết sẽ phải chịu một khoản lãi phí Khoản lãi suất này được tính bằng lãi suất cho vay cơ bản Nhân dân tệ của Ngân hàng Nhân Dân Trung Quốc cùng kì cộng 5% phí Tuy nhiên, nếu doanh nghiệp cung cấp được các tài liệu
và thông tin liên quan khác theo quy định này thì 5% phí tăng thêm này có thể được giảm bớt hoặc loại bỏ hoàn toàn
Các phòng thuế cũng tăng cường các công cụ như công nghệ thông tin và cơ
sở dữ liệu để hỗ trợ cho công tác chống tránh thuế Phòng thuế cũng đang gia tăng huấn luyện cho các chuyên gia chống trốn thuế bao gồm cả đào tạo ngắn hạn và dài hạn, cả đào tạo trong nước và đào tạo nước ngoài Ngoài ra, các sở thuế cũng đã tuyển dụng thêm sinh viên tốt nghiệp đại học các ngành liên quan để bổ sung thêm vào lực lượng chống trốn thuế
Trang 361.3.6.3 Kinh nghiệm khu vực Đông Nam Á
Thái Lan
Thái Lan đã xây dựng và thực hiện Luật Chống chuyển giá cách đây hơn 10 năm Những quy định chống chuyển giá ở nước này mô phỏng lại quy định của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) và áp dụng cho cả công ty trong nước
và nước ngoài
Cục thuế Thái Lan thường xem xét những công ty được ưu đãi về thuế và so sánh lợi nhuận của các công ty này với những công ty không được ưu đãi về thuế xem lợi nhuận của 2 nhóm công ty này có giống nhau hay không và thực hiện bước thanh tra tiếp theo
Mặt khác cơ quan thuế Thái Lan có cơ sở dữ liệu riêng và từ đó có thể dễ dàng đối chiếu được doanh nghiệp nào giao dịch theo hoặc không theo giá thị trường Đặc biệt, cơ quan thuế ở Thái Lan thanh tra rất kỹ, kiểm tra kỹ các chi phí trong nội bộ tập đoàn chẳng hạn như chi phí quản lý, chi phí bản quyền
Cơ quan thuế của Thái Lan tập trung vào các chứng cứ giá cả chính xác, tất
cả cần hợp lý để chứng tỏ sự minh bạch, tài liệu cập nhật để chỉ ra cơ cấu và mối liên hệ của nhóm các công ty, bao gồm tính chất của mỗi một kinh doanh, ngân sách của nó, kế hoạch kinh doanh và các chiến lược tài chính Cùng với đó là tài liệu giải thích doanh số của công ty, kết quả hoạt động, các giao dịch quốc tế của công ty với các tổ chức kinh doanh liên kết
Malaysia
Malaysia ban hành hai tờ khai về chuyển giá, một tờ khai dành cho các doanh nghiệp nước ngoài và một tờ khai dành cho các doanh nghiệp trong nước Hai tờ khai này được phát cho những đối tượng nộp thuế được chọn, sau khi khai đầy đủ, các doanh nghiệp này sẽ nộp tờ khai lại cho Cục Thuế Malaysia Sau đó, cục thuế sẽ xem xét, rà soát liệu có nên thanh tra doanh nghiệp này hay không
Điều chủ yếu cục thuế muốn thấy ở tờ khai này là cấu trúc của tập đoàn, những chi phí mà công ty phải trả như chi phí bản quyền, chi phí quản lý doanh nghiệp, những bằng chứng chứng minh doanh nghiệp có hưởng những dịch vụ đó
Trang 37và trả đúng với những dịch vụ mà doanh nghiêp đã hưởng hay không Cơ quan thuế
ở Malaysia sẽ dùng các tờ khai này để thanh tra thuế và thanh tra chuyển giá đối với các công ty
Hình thức phạt: Không có quy định riêng biệt, áp dụng quy định xử phạt vi phạm thuế chung trong luật Mức phạt dao động từ 100-300% số thuế bị phát hiện gian lận
1.3.6.4 Rút bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
Từ kinh nghiệm chống chuyển giá các nước, có thể rút ra một vài kinh nghiệm có thể áp dụng cho việc chống chuyển giá ở Việt Nam:
Xây dựng và hoàn chỉnh pháp luật về kinh tế, đảm bảo rằng pháp luật bắt kịp
và tạo điều kiện thuật lợi cho sự phát triển kinh tế, đồng thời ngăn chặn hiệu quả các hành vi gây tổn thất cho nền kinh tế quốc gia
Xây dựng luật thuế phù hợp với tình hình kinh tế trong nước và xu hướng phát triển của quốc tế Luật thuế phải đảm bảo tính công bằng về quyền lợi và nghĩa
cụ thuế của các thành phần kinh tế, đảm bảo cho nguồn thuế thu và việc thu hút vốn đầu tư nước ngoài Bên cạnh việc tăng cường cạnh tranh trong việc thu hút đầu tư phải chọn lọc được dự án đầu tư mang lại hiệu quả kinh tế xã hội cao
Nghiên cứu học hỏi và tiếp thu những kinh nghiệm từ các nước phát triển, nhằm rút ngắn thời gian phát triển kinh tế đồng thời hạn chế những sai lầm trong quá trình phát triển
Cần chuẩn bị nguồn nhân lực chất lượng cao nhằm phục vụ cho việc quản lý nguồn vốn đầu tư nước ngoài Đội ngũ này phải được thường xuyên cập nhật kiến thức kinh tế, kinh nghiệm quản lý kinh tế, kinh nghiệm về hoạt động chuyển giá của các MNC tại các quốc gia trên thế giới
Trang 38CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CHUYỂN GIÁ Ở VIỆT NAM
2.1 Thực trạng hoạt động của các công ty FDI tại Việt Nam
2.1.1 Tình hình thu hút vốn FDI tại Việt Nam
Kể từ khi Luật đầu tư trực tiếp nước ngoài có hiệu lực năm 1988, các MNC bắt đầu đổ FDI vào Viêt Nam Nhưng lượng FDI vào Việt Nam là chưa đáng kể (tính đến năm 1991 chỉ nằm ở khoảng hơn 200 triệu USD) do Việt Nam chỉ vừa mở rộng cửa giao thương tự do với nước ngoài, nhiều doanh nghiệp còn e ngại trước một môi trường hoàn toàn mới mẻ này Trong những năm kế tiếp, nước ta không ngừng đổi mới và phát triển nền kinh tế, từng bước vượt qua khó khăn hội nhập thị trường quốc tế, thu hút ngày càng nhiều vốn đầu tư từ nước ngoài, tạo dựng được lòng tin với các doanh nghiệp ngoại, khẳng định được vị thế trên trường quốc tế Tháng 7/1995 Việt Nam gia nhập Hiệp hôi các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) và chính thức tham gia Khu vực thương mại tự do ASEAN (AFTA), năm 2006 Việt Nam chính thức trở thành viên thứ 150 của Tổ chức thương mại quốc tế (WTO),… Qua những nổ lực và những bước tiến đáng kể nêu trên đã mang về thành công tương ứng trong việc thu hút FDI, đến 01/01/1996 dòng vốn FDI đầu tư vào Việt Nam bắt đầu tăng lên nhanh chóng, giao thương với các nước khác cũng thông thoáng hơn và nền kinh tế tăng trưởng tích cực Điều này là động lực mạnh mẽ thúc đẩy quá trình phát triển nền kinh tế, xã hội của nước ta, hội nhập vào nền kinh tế thế giới
Tính đến 31/12/2014 đã có 101 quốc gia và vùng lãnh thổ có đầu tư tại Việt Nam với 17.768 dự án, tổng vốn đăng ký 252,715 tỷ USD Đóng góp về vốn của FDI (không chỉ tính trong năm 2014) tới kinh tế Việt Nam là không nhỏ, FDI trong hơn 26 năm qua đã chiếm khoảng 25% tổng vốn đầu tư toàn xã hội; 45% giá trị sản xuất; 65% giá trị xuất khẩu; 20% GDP (bắt đầu từ 2% trong năm 1992); 20% thu ngân sách Đầu tư tập trung nhiều nhất trong lĩnh vực công nghiệp chế biến chế tạo với 9.600 dự án, vốn đăng ký 141,4 tỷ USD, chiếm 54% số dự án và 56% tổng vốn đăng ký, tiếp theo là lĩnh vực kinh doanh bất động sản, xây dựng, dịch vụ lưu trú,…