Nhận xét chung về cán cân thương mại Việt Nam – ASEAN 5

Một phần của tài liệu kl hoang dinh tuan 2015 658 15 (Trang 57 - 61)

CHƯƠNG 2:THỰC TRẠNG CÁN CÂN THƯƠNG MẠI CỦA VIỆT NAM VỚI ASEAN-5 TRONG GIAI ĐOẠN 2005 – 2015

2.2. Thực trạng cán cân thương mại Việt Nam với ASEAN-5

2.2.4. Nhận xét chung về cán cân thương mại Việt Nam – ASEAN 5

2.2.4.1. Những điểm tích cực trong thực trạng thương mại Thứ nhất, kim ngạch xuất khẩu vào nhóm ASEAN-5 hàng năm tăng trưởng ổn định và có kết quả khả quan, hồi phục nhanh sau khủng hoảng kinh tế 2008. Việt

Nam đang chuyển hướng sang việc chú trọng xuất khẩu vào khu vực khi tốc độ tăng trưởng xuất khẩu tăng nhanh và kim ngạch nhập khẩu, dù giá trị còn cao, nhưng đang có dấu hiệu tăng trưởng chậm lại.

Thứ hai, sau thời gian thâm hụt rất sâu, cán cân thương mại Việt Nam – ASEAN-5 có chiều hướng giảm, tuy vẫn còn cao nếu so với tình hình kinh tế quốc gia. Dù cán cân thương mại giữa Việt Nam và khu vực vẫn còn âm nhưng việc giảm thiểu thâm hụt trong những năm vừa qua với nền kinh tế khu vực cũng góp phần cân bằng cán cân thương mại quốc gia sau nhiều năm nhập siêu. Ngoài ra, kim ngạch xuất nhập khẩu hàng năm với ASEAN-5 tăng trưởng mạnh, đạt gần 37 tỷ USD năm 2014.

Thứ ba, Việt Nam vẫn duy trì quan hệ xuất khẩu tốt với thị trường ASEAN-5, của các quốc gia mạnh về kinh tế trong khu vực, trong đó có Thái Lan, Singapore, Malaysia. Dù nền kinh tế trong những năm vừa qua gặp nhiều khó khăn nhưng giá lượng hàng hóa Việt Nam xuất khẩu đến các thị trường này đều tăng trưởng ổn định hàng năm, đặc biệt kể từ năm 2010 – 2011 khi ATIGA có hiệu lực.

Thứ tư, đã có những chuyển biến tích cực trong cơ cấu xuất nhập khẩu khi các mặt hàng thuộc nhóm ngành công nghiệp chế biến, chế tạo, đặc biệt trong giai đoạn từ năm 2010, tăng trưởng xuất khẩu mạnh mẽ. Bên cạnh đó, các mặt hàng chủ lực của Việt Nam như Nông sản, Dầu thô tuy vẫn đóng góp giá trị lớn trong kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam vào khu vực, nhưng đã có dấu hiệu giảm dần, khi giá trị của các mặt hàng này không cao.

Thứ năm, một số ngành công nghiệp chế tạo, như ngành máy móc thiết bị điện tử, hóa chất, kim loại (sắt thép) và các phương tiện vận tải, có giá trị xuất khẩu tăng rất cao trong những năm gần đây. Có thể thấy định hướng xuất khẩu trong thời kỳ này của Việt Nam là rất tích cực khi giảm lượng xuất khẩu hàng thô, đẩy mạnh xuất khẩu hàng hóa công nghiệp có hàm lượng, tri thức cao, mang lại giá trị lớn hơn.

2.2.4.2. Những điểm hạn chế trong thực trạng thương mại Thứ nhất, Việt Nam vẫn nhập siêu từ năm 2005 trong quan hệ với ASEAN-5 và phụ thuộc quá nhiều vào các nền kinh tế lớn của khu vực là Singapore, Thái Lan và Malaysia khi khối lượng nhập khẩu từ các quốc gia này vẫn ở mức cao, thậm chí

còn tăng. Giá trị nhập khẩu từ ASEAN-5 chiếm trên 90% tổng kim ngạch nhập khẩu từ ASEAN trong khi xuất khẩu có dấu hiệu chững lại trong những năm gần đây. Điều này thế hiện sự giãn cách ngày càng lớn về trình độ phát triển của kinh tế Việt Nam với các quốc gia trong khu vực và giá trị hàng hóa nhập khẩu từ các quốc gia này khá cao do trình độ sản xuất, công nghệ tốt hơn, dẫn đến mất cân đối thương mại. Trong tình hình các loại thuế nhập khẩu đối với khu vực đang tiến dần về 0, ngân sách mà Việt Nam thu về từ nhập khẩu không còn đáng kể.

Thứ hai, nhìn vào cơ cấu nhóm ngành hàng xuất nhập khẩu, Việt Nam vẫn chủ yếu xuất khẩu các mặt hàng thô, sản phẩm, nguyên liệu sơ chế, sản phẩm nông nghiệp… Trong khi lại nhập khẩu các mặt hàng công nghệ hiện đại, xe ô tô, xe máy hoặc thành phẩm đã qua chế biến có giá trị cao, dẫn tới chênh lệch cán cân thương mại luôn thâm hụt. Trong đó nổi bật là nhóm ngành dầu mỏ khi chủ yếu xuất khẩu dầu thô, nhập khẩu xăng dầu từ Thái Lan và Singapore.

Thứ ba, các ngành chủ lực của Việt Nam như thủy sản, dệt may, cao su, nông nghiệp và chăn nuôi… vẫn chưa đóng góp nhiều về giá trị cho Việt Nam khi giá trị xuất khẩu còn tương đối thấp và tiếp tục diễn biến tiêu cực, giá hàng hóa chủ lực của Việt Nam ngày càng giảm sâu do cạnh tranh, và theo xu hướng giá hàng hóa của thế giới. Thậm chí, giá trị xuất khẩu gạo vào khu vực từ năm 2011 đã giảm khá mạnh khi gặp sự cạnh tranh lớn từ Thái Lan, quốc gia xuất khẩu gạo lớn nhất thế giới, và Việt Nam cũng vấp phải sự cạnh tranh ngay trong nước khi gạo Thái Lan nhập khẩu về Việt Nam theo lộ trình của ATIGA.

Thứ tư, hầu hết các hàng hóa xuất khẩu thuộc nhóm điện tử, công nghệ, xe cộ, đều thuộc sự đóng góp của doanh nghiệp FDI. Nếu nhìn vào cơ cấu chi tiết hàng hóa nhập khẩu, các mặt hàng nguyên phụ liệu, linh kiện trong các ngành công nghiệp hiện đại có giá trị khá cao. Đó là do ngành công nghiệp hỗ trợ ở Việt Nam còn rất hạn chế, trình độ của kinh tế Việt Nam chưa thể trở thành một mắc xích uy tín trong chuỗi cung ứng cho các doanh nghiệp nước ngoài. Các doanh nghiệp trong ngành hỗ trợ chủ yếu thực hiện các giai đoạn đơn giản như đóng gói, bao bì… mà chưa thể thực hiện sản xuất các sản phẩm theo yêu cầu của các doanh nghiệp nước ngoài. Do đó,

nguồn hàng này vẫn chủ yếu đến từ nhập khẩu, và rất thường xuyên, dẫn tới nhập siêu. Xét theo quan điểm lý thuyết lợi thế cạnh tranh quốc gia của Michael Porter, hạn chế trong ngành công nghiệp hỗ trợ và các ngành liên quan đang làm kìm hãm tốc độ phát triển của Việt Nam khi mô hình kim cương chưa hoàn thiện.

Thứ năm, về tổng thể, cán cân thương mại Việt Nam – ASEAN-5 vẫn tiếp tục âm mặc dù cán cân quốc gia đang diễn biến rất tích cực từ năm 2012. Và có thể cho rằng, thâm hụt từ khu vực ASEAN-5 đóng góp chủ yếu vào thâm hụt chung của cán cân thương mại khu vực ASEAN và cả quốc gia, và là rào cản khiến kinh tế quốc gia chưa đạt mức tăng trưởng kỳ vọng, kinh tế Việt Nam vẫn còn phụ thuộc vào các quốc gia mạnh của khu vực về cả mảng xuất và nhập khẩu.

Một phần của tài liệu kl hoang dinh tuan 2015 658 15 (Trang 57 - 61)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(84 trang)