CHƯƠNG 3: CÁC GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN XUẤT NHẬP KHẨU VÀ CẢI THIỆN CÁN CÂN THƯƠNG MẠI VIỆT NAM VỚI NHÓM ASEAN-5
3.4. Các giải pháp thúc đẩy phát triển xuất khẩu, cải thiện cán cân thương mại với ASEAN-5 và hướng đến hội nhập hiệu quả
3.4.1. Cải thiện cán cân thương mại Việt Nam – ASEAN-5
Để cải thiện cán cân thương mại Việt Nam – ASEAN-5 cần tập trung vào hai nhiệm vụ: Hạn chế kim ngạch nhập khẩu và nâng cao giá trị xuất khẩu sang khu vực.
Một số biện pháp cho từng nhiệm vụ như sau:
Nhiệm vụ 1: Hạn chế kim ngạch nhập khẩu
Thứ nhất, Chính phủ Việt Nam nên quy hoạch, đầu tư những vùng đặc thù để trồng và sản xuất các nguyên phụ liệu của các ngành chủ lực như dệt may, giày dép, giảm phụ thuộc vào các nhà cung cấp nước ngoài nguyên phụ liệu linh kiện điện tử, máy móc..., trong nhóm ASEAN-5 như Thái Lan, Singapore, Malaysia.
Thứ hai, Chính phủ nên áp dụng chính sách phát triển công nghiệp hỗ trợ để doanh nghiệp Việt Nam có thể cung ứng tại chỗ cho các doanh nghiệp nước ngoài đang hoạt động sản xuất tại Việt Nam với các yêu cầu kỹ thuật cao. Qua đó, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia so với khu vực.
Khó khăn lớn nhất trong ngành công nghiệp hỗ trợ là chi phí đầu tư ban đầu khá cao về máy móc thiết bị sản xuất. Chính phủ cùng Ngân hàng Nhà nước nên có những gói vay ưu đãi cho doanh nghiệp dạng này, đồng thời gỡ bỏ rào cản thuế quan nhập khẩu máy móc, thiết bị chuyên dụng để khuyến khích doanh nghiệp cải tiến công nghệ sản xuất, thiết lập các khu công nghiệp hiện đại, hỗ trợ mặt bằng sản xuất cho doanh nghiệp.
Một cách khác mà Việt Nam có thể thực hiện phát triển các ngành công nghiệp hỗ trợ đó là mở đường cho các doanh nghiệp lớn đầu tư vào Việt Nam và xúc tiến các dự án đã đăng kí nhưng vẫn còn trên giấy. Một dự án đã được đăng kí nổi bật là Công ty Forever Glorious thuộc Tập đoàn Sheico (Đài Loan, Trung Quốc) đã cam kết đầu tư 50 triệu USD vào dây chuyền sản xuất ngành dệt may, từ khâu nguyên liệu đến sản phẩm hoàn chỉnh. Việt Nam cần phát triển hơn định hướng này (Báo Sài Gòn Giải Phóng, ngày 17/03/2015) [22]
Thứ ba, Việt Nam cần phát triển sản xuất nội địa ở một số ngành hiện nay đang nhập khẩu rất nhiều từ khu vực như phương tiện vận tải, đặc biệt là ô tô, phụ tùng xe máy, sắt thép, sản phẩm linh kiện vi tính, điện tử.
Hiện nay Việt Nam đang thực hiện các chính sách thu hút đầu tư, sản xuất kinh doanh các lĩnh vực công nghiệp nặng và công nghệ cao với những ưu đãi về thuế, vay vốn… như dự án đang được triển khai tại Đà Nẵng. Chính phủ cần quy hoạch nhiều hơn những khu công nghiệp hiện đại để tạo điều kiện cho doanh nghiệp tham gia thị trường và thu hút đầu tư nước ngoài về lĩnh vực công nghệ, kỹ thuật, điện tử.
Bên cạnh đó, riêng đối với ngành sắt thép, theo Quy hoạch phát triển ngành thép Việt Nam có xác định rõ mục tiêu “Đáp ứng tối đa nhu cầu về các sản phẩm thép của nền kinh tế quốc dân, tăng cường xuất khẩu” [6], nhưng tới thời điểm này ngành sắt thép vẫn đang nhập siêu đáng báo động từ khu vực. Một số khó khăn của ngành bao gồm: sản phẩm không đa dạng, thiếu vốn đầu tư, nâng cấp dây chuyển sản xuất, cạnh tranh mạnh mẽ… Để cải thiện tình hình ngành sắt thép, cần thực hiện các biện pháp sau:
o Bản thân doanh nghiệp cần phải tích cực đổi mới về công nghệ, cải thiện chất lượng, mẫu mã để tăng sức cạnh tranh, nâng cao trình độ quản lý doanh nghiệp.
o Ngân hàng Nhà nước cần có những chỉ thị cho các ngân hàng thương mại mạnh dạn hơn trong việc cấp vốn, linh hoạt hơn trong chính sách tín dụng, tài sản đảm bảo khi có thể sử dụng sắt thép để làm chính tài sản đảm bảo cho khoản vốn được cấp cho doanh nghiệp để tiếp vốn kịp thời.
o Hiệp hội ngành Thép phải thường xuyên cập nhật thông tin thị trường cho các doanh nghiệp sản xuất để tránh tình trạng cung vượt cầu, dẫn đến kẹt vốn.
o Các doanh nghiệp ngành Thép thuộc sở hữu Nhà nước nên tiến hành cổ phần hóa để gọi vốn, đa dạng nguồn vốn cho doanh nghiệp.
o Chính phủ bảo vệ thị trường bằng cách áp dụng các hàng rào kỹ thuật và tiêu chuẩn chất lượng, môi trường.
Thứ tư, đẩy mạnh sản xuất để đáp ứng nhu cầu nội địa một số ngành có lợi thế so sánh với khu vực như dệt may, nông nghiệp, vật liệu từ các loại khoáng sản, kim loại cơ bản… để hạn chế kim ngạch nhập khẩu các mặt hàng trên từ ASEAN-5, gia tăng khả năng cung ứng tại chỗ cho các doanh nghiệp sản xuất, và cho nhu cầu tiêu dùng của thị trường.
Nhiệm vụ 2: Nâng cao giá trị xuất khẩu vào khu vực
Thứ nhất, tăng nhanh tỉ lệ nội địa hóa sản phẩm để giảm nhập khẩu, tiết kiệm chi phí từ đó đưa ra thị trường sản phẩm giá cạnh tranh hơn, có cơ hội xuất khẩu lớn hơn và gia tăng lợi thế cạnh tranh quốc gia.
Thứ hai, Việt Nam cần thu hút nhiều hơn vốn đầu tư nước ngoài sau thành công của các FDI lớn hiện nay như Samsung, Honda, Canon khi kim ngạch xuất khẩu từ khối FDI chiếm tỷ trọng rất cao và giá trị ngày càng tăng.
Thứ ba, khuyến khích xuất khẩu các hàng hóa chủ lực, có lợi thế so sánh của Việt Nam như hiện nay như thủy sản, gạo, dệt may... Tuy thủy sản là mặt hàng đứng thứ 5 trong nhóm các mặt hàng có giá trị xuất khẩu toàn thế giới cao nhất của Việt Nam nhưng kim ngạch hiện nay vào ASEAN-5 vẫn còn hạn chế. Trong điều kiện ngành thủy sản không gặp quá nhiều cạnh tranh, đây là điều hoàn toàn khả thi.
Đối với gạo, Việt Nam đang gặp thử thách lớn nhất trong khu vực là Thái Lan.
Kim ngạch xuất khẩu gạo hiện nay đang trên đà suy giảm do áp lực từ gạo Thái.
Ngành gạo cần chủ động hơn trong việc tìm kiếm khách hàng trong khu vực, hợp đồng cung cấp số lượng lớn cho quốc gia trong khu vực như trường hợp đấu thầu tại thị trường Philippines nửa đầu năm 2015. Ngoài ra, ngành gạo cần tiếp tục phát triển các giống cây năng suất cao, cải tiến khả năng canh tác để giảm giá thành, nâng cao chất lượng gạo Việt Nam.
Ngành dệt may trong những năm vừa qua dù phát triển nhanh trong nước nhưng thị trường xuất khẩu còn khá khó khăn khi các lợi thế so sánh kém hơn ASEAN-5. Ngoài ra, ngành dệt may Việt Nam chưa thể tự sản xuất nguyên phụ liệu đủ cung cấp cho thị trường do đó phải nhập khẩu, và chịu áp lực lớn từ việc tăng giá nguyên phụ liệu quốc tế, một cách hoàn toàn bị động. Do đó, Việt Nam cần phát triển các ngành công nghiệp hỗ trợ và các vùng quy hoạch trồng trọt, chế biến các loại nguyên phụ liệu để chủ động hơn về chi phí, tăng tính cạnh tranh. Xa hơn, ngành dệt may Việt Nam cần thoát dần hoạt động gia công giá rẻ, thay vào đó phải đẩy mạnh thiết kế, sáng tạo, xây dựng thương hiệu để tạo giá trị gia tăng, đóng góp vào cán cân
thương mại. Một số thương hiệu dệt may Việt Nam xuất khẩu nổi tiếng như TNG, Việt Tiến, Thái Tuấn… đang hoạt động hiệu quả.
Thứ tư, Việt Nam cần tận dụng sức mạnh sẵn có từ một số mặt hàng đang có lợi thế tại các thị trường ASEAN-5, là Thủy sản xuất khẩu đến Thái Lan, Gạo đến Philippines, Indonesia và các mặt hàng điện tử chủ lực như điện thoại, linh kiện vi tính để chiếm được thị trường các thị trường nước ngoài. Từ đó khuyến khích sản xuất hướng đến xuất khẩu, nâng cao chất lượng hàng Việt Nam có lợi thế cạnh tranh và lợi thế so sánh.