CHƯƠNG 2:THỰC TRẠNG CÁN CÂN THƯƠNG MẠI CỦA VIỆT NAM VỚI ASEAN-5 TRONG GIAI ĐOẠN 2005 – 2015
2.2. Thực trạng cán cân thương mại Việt Nam với ASEAN-5
2.2.1. Hoạt động xuất khẩu trong giai đoạn 2005 – 2014
2.2.1.2. Cơ cấu chủng loại hàng xuất khẩu
Chủng loại hàng hóa trong nghiên cứu được phân loại trên cơ sở mục Phần của Biểu thuế Xuất Nhập Khẩu của Tổng cục Hải quan Việt Nam. Nghiên cứu đề xuất phân loại thành những chủng loại chung như sau:
Bảng 2.2. Cơ cấu chủng loại hàng xuất khẩu vào ASEAN-5
Đơn vị: triệu USD CHỦNG LOẠI 2007 2008 2009 2010 2011 2012 2013 2014
Cao su 85 63 80 222 282 617 577 371
Chất dẻo – Nhựa 71 80 97 171 232 305 374 421
Công nghiệp hóa chất - - 83 109 175 221 305 352
Dầu mỏ & Nhiên liệu 2.773 2.824 2.367 1.702 1.645 1.993 1.783 2.078
Dầu, mỡ động thực vật - 7 - - - - - -
Dệt may và nguyên phụ liệu dệt may 151 198 216 249 571 553 752 895 Máy móc, thiết bị điện tử 734 773 1.028 1.133 2.102 3.851 5.386 4.803
Giấy và sản phẩm từ giấy - - 37 55 71 88 88 88
Gỗ và sản phẩm gỗ 27 31 21 48 64 68 79 86
Khoáng sản 76 138 88 114 97 108 69 53
Kim loại cơ bản và sản phẩm - - 184 453 907 1.046 1.182 1.193
Nông nghiệp, Chăn nuôi, Thủy sản 1.395 1.950 1.712 2.161 2.668 2.339 1.537 2.160
Phương tiện vận chuyển 23 23 140 296 491 619 771 698
Thực phẩm chế biến 5 6 30 33 41 46 53 147
Xi măng, thủy tinh và NVL liên quan 14 15 81 127 235 439 389 677
Khác 1.583 2.502 1.217 1.665 1.172 1.638 1.481 1.527
Nguồn: Tổng hợp từ Thống kê Hải quan[13] từ 2005 - 2014
Bảng 2.3. Các mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu tích lũy cao nhất từ năm 2007 đến năm 2014
(Đơn vị tính: triệu USD)
MẶT HÀNG TÍNH CHẤT
HÀNG HÓA
TRUNG BÌNH NĂM
GIÁ TRỊ TÍCH LŨY
Dầu thô Nguyên, nhiên, vật liệu 2.036 16.284
Gạo Lương thực & Thực phẩm 1.347 10.773
Máy vi tính, hàng điện tử, linh kiện Hàng tiêu dùng 972 7.779 Điện thoại các loại và linh kiện Hàng tiêu dùng 891 7.129 Máy móc, thiết bị, phụ tùng khác Máy móc, phụ tùng 538 4.300
Sắt thép các loại Nguyên, nhiên, vật liệu 497 3.977
Phương tiện vận tải và phụ tùng Hàng tiêu dùng 377 3.015
Cao su Nguyên, nhiên, vật liệu 270 2.161
Hàng thủy sản Lương thực & Thực phẩm 267 2.137
Hàng dệt, may Hàng tiêu dùng 196 1.565
Cà phê Lương thực & Thực phẩm 181 1.445
Thủy tinh và các sản phẩm Hàng tiêu dùng 174 1.395
Sản phẩm từ chất dẻo Hàng tiêu dùng 142 1.133
Nguồn: Tổng hợp từ Thống kê Hải quan[13] từ 2005 - 2014
Các mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam thuộc nhóm Nông nghiệp – Chăn nuôi – Thủy sản, dầu mỏ & nhiên liệu luôn chiếm tỷ trọng lớn trong kim ngạch xuất khẩu đến thị trường ASEAN-5 giai đoạn từ năm 2007 – 2014. Trong đó, xuất khẩu Gạo chiếm giá trị lớn nhất, là mặt hàng chủ lực của ngành Nông nghiệp Việt Nam bên cạnh các sản phẩm như rau quả, cà phê, hạt điều cùng một số nông sản khác.
Dầu thô là mặt hàng xuất khẩu chủ yếu trong chủng loại Dầu mỏ & Nhiên liệu, Việt Nam cũng bắt đầu xuất khẩu xăng dầu từ năm 2009 nhưng giá trị không đáng kể.
Giai đoạn 2007 – 2010, kim ngạch xuất khẩu tăng đều hàng năm, chủ yếu đến từ sản phẩm Nông nghiệp, dầu thô, và máy móc thiết bị điện tử (một số mặt hàng nổi trội như máy vi tính và linh kiện, dây điện và cáp điện). Giá trị đóng góp từ các chủng loại hàng khác không thực sự đáng kể, dù tốc độ tăng trưởng ở các chủng loại là khá tích cực. Đáng chú ý từ năm 2009, sản lượng dầu thô xuất khẩu sang ASEAN-5 hàng năm bắt đầu giảm khá mạnh, hơn 1 tỷ USD chỉ trong vòng 2 năm. Bên cạnh đó, Việt Nam đã bắt đầu xuất khẩu được kim loại cơ bản sang thị trường ASEAN-5, với các mặt hàng sắt thép, và nhóm hàng Phương tiện vận chuyển, chủ yếu là xe máy, cả hai ngành tốc độ tăng trưởng hàng năm khá cao đến năm 2010. Trong giai đoạn này,
nhóm hàng cao su dù được cho là thế mạnh của Việt Nam nhưng xuất khẩu sang khu vực không cao.
Giai đoạn 2011 – 2014, giá trị xuất khẩu hàng năm của nhóm hàng Dầu mỏ &
Nhiên liệu diễn biến không ổn định, nhưng tổng quan, sản lượng dầu thô xuất khẩu đến ASEAN-5 đã suy giảm, nhưng Việt Nam cũng chưa thể đẩy mạnh xuất khẩu xăng dầu sang thị trường này. Tương tự với nhóm hàng Nông nghiệp, sau khi đạt đỉnh vào năm 2011 khi đạt kim ngạch gần 2,7 tỷ USD, đã suy giảm khá mạnh trong những năm tiếp theo. Điều này được lý giải do sản lượng gạo Việt Nam xuất khẩu trong khu vực giảm mạnh, do cạnh tranh từ quốc gia xuất khẩu gạo lớn nhất thế giới, Thái Lan.
Các chủng loại hàng hóa khác đều có ghi nhận sự tăng trưởng kim ngạch rất mạnh, như mặt hàng xe máy, linh kiện xe các loại đã đóng góp cho nhóm Phương tiện vận chuyển kim ngạch 700 triệu USD ở năm 2014, cao hơn rất nhiều so với 7 năm trước (23 triệu USD). Sắt thép cùng với một số kim loại khác cũng đóng góp cho sự tăng trưởng xuất khẩu nhóm hàng Kim loại cơ bản, khi đã vượt mốc 1 tỷ USD.
Việt Nam cũng đã xuất khẩu được sản phẩm hóa chất từ năm 2009 và kim ngạch tăng trưởng hàng năm rất đáng kể. Nhóm mặt hàng khoáng sản của Việt Nam xuất khẩu không mạnh sang ASEAN-5 nhưng kim ngạch diễn biến ổn định, và có xu hướng giảm dần, đây là tín hiệu tốt do tài nguyên thiên nhiên ngày càng giảm.
Nhóm hàng xuất khẩu nổi bật nhất trong giai đoạn trên là hàng máy móc, thiết bị, điện tử, với sự đóng góp rất lớn từ mặt hàng điện thoại và mặt hàng máy vi tính.
Tuy nhiên, chủ yếu đóng góp trong mảng này đến từ khối doanh nghiệp FDI, nổi bật là Samsung. Một số loại máy móc, thiết bị điện tử chuyên dụng khác cũng đóng góp giá trị lớn cho chủng loại này.
Nhìn chung, định hướng xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường ASEAN-5 rất tích cực khi kim ngạch xuất khẩu tăng trưởng hàng năm với xu hướng giảm dần xuất khẩu sản phẩm giá trị thấp như Nông sản, khoáng sản, giảm xuất khẩu dầu thô và tăng trưởng xuất khẩu các mặt hàng có hàm lượng công nghệ, tri thức cao như nhóm hàng máy móc, thiết bị, điện tử, vận tải, hóa chất và các ngành công nghiệp khác. Việt Nam đang cải thiện năng lực cạnh tranh rất tích cực với khu vực.