CHƯƠNG 3: CÁC GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN XUẤT NHẬP KHẨU VÀ CẢI THIỆN CÁN CÂN THƯƠNG MẠI VIỆT NAM VỚI NHÓM ASEAN-5
3.2. Những cơ hội và thách thức cho Việt Nam trong giai đoạn tiến tới hội nhập kinh tế khu vực ASEAN
3.2.1. Cộng đồng kinh tế ASEAN – AEC 3.2.1.1. Vài nét về sự hình thành AEC
Cộng đồng kinh tế ASEAN - AEC là một trong ba mục tiêu của ASEAN trong việc đẩy mạnh hội nhập khu vực, bên cạnh Cộng đồng An ninh ASEAN (ASC) và Cộng đồng Văn hóa – Xã hội ASEAN (ASCC) và đặt mục tiêu hoàn tất hình thành cộng đồng chung ASEAN vào năm 2020.
Ý tưởng hình thành Cộng đồng kinh tế ASEAN đã được đề cập từ lâu, khi lộ trình cắt giảm thuế quan và các rào cản phi thuế quan của nhóm ASEAN-5 và Brunei cơ bản đã hoàn tất sau khi ký kết thành lập AFTA năm 1993, do đó không còn tiềm năng đáng kể cho tự do hóa thương mại giữa nhóm ASEAN-6. Đến tháng 12 năm 1997, ASEAN bắt đầu thực hiện “Tầm nhìn ASEAN năm 2020” với mục tiêu chuyển đổi ASEAN thành một khu vực ổn định, thịnh vượng, khả năng cạnh tranh cao với phát triển kinh tế công bằng, giảm đói nghèo và sự bất bình đẳng kinh tế - xã hội.
“… tạo ra một Khu vực Kinh tế ASEAN ổn định, thịnh vượng, có khả năng cạnh tranh cao, trong đó hàng hoá, dịch vụ và đầu tư được lưu chuyển thông thoáng, vốn được lưu chuyển thông thoáng hơn, kinh tế phát triển đồng đều, nghèo đói và phân hoá kinh tế-xã hội giảm bớt”
Tầm nhìn ASEAN 2020, Kuala Lumpur, 1997 [1]
Tháng 11 năm 2011 tại Singapore, lãnh đạo 10 quốc gia ASEAN đã nhất trí sửa đổi Nghị quyết của Hội nghị Thượng đỉnh ASEAN năm 2003 ở Bali để thống nhất về việc rút ngắn kế hoạch hình thành AEC vào cuối 2015. Quyết định này nhằm nhanh chóng nâng cao năng lực cạnh tranh của cả khối ASEAN trước sự lớn mạnh của kinh tế Trung Quốc. Ðây được xem là cột mốc quan trọng nhất kể từ năm 2002 sau khi ASEAN hoàn thành cơ bản Chương trình thuế quan ưu đãi có hiệu lực chung để thực hiện Khu vực Thương mại tự do ASEAN (CEPT/AFTA). [16]
Cộng đồng Kinh tế ASEAN được thiết lập dựa trên nhiều lĩnh vực khác nhau như thương mại hàng hóa, thương mại dịch vụ, đầu tư, chính sách cạnh tranh, sở hữu trí tuệ, v.v, trong đó, thương mại hàng hóa là một nội dung xương sống. Có thể nói, đây là lĩnh vực truyền thống, là mục tiêu mà các nước ASEAN hướng tới trong suốt quá trình hợp tác.
AEC được thiết lập trên cơ sở 4 trụ cột của chiến lược hội nhập kinh tế khu vực ASEAN:
TRỤ CỘT 1 Cơ sở sản xuất và thị
trường thống nhất
TRỤ CỘT 2 Khu vực kinh tế
cạnh tranh
TRỤ CỘT 3 Phát triển kinh tế đồng
đều
TRỤ CỘT 4 Hội nhập vào nền kinh tế
toàn cầu
•Tự do lưu chuyển hàng hoá và dịch vụ
•Tự do lưu chuyển dịch vụ
•Tự do hoá đầu tư
•Tự do hoá dòng vốn
•Tự do lưu chuyển lao động có tay nghề
•Khu vực ưu tiên hội nhập
•Lương thực, nông nghiệp và lâm nghiệp
•Chính sách cạnh tranh
•Bảo vệ người tiêu dùng
•Quyền sở hữu trí tuệ
•Phát triển cơ sở hạ tầng
•Thuế
•Thương mại điện tử
•Phát triển các doanh nghiệp vừa và nhỏ (SMEs)
•Tiếp cận thống nhất đối với hợp tác kinh tế ngoại khối
•Tăng cường tham gia vào chuỗi cung ứng toàn cầu
Nguồn: Báo cáo thường niên kinh tế Việt Nam 2014, Trung tâm Nghiên cứu Kinh tế và Chính sách (VEPR), Đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội [15].
3.2.1.2. Giai đoạn quan trọng tiến tới hình thành AEC Năm 2010 là năm có nhiều dấu mốc trong chặng đường thực hiện mục tiêu AEC. Từ tháng 1-2010, đã có tới 99% tổng số dòng thuế, đã được xóa bỏ trong thương
mại trong khối ASEAN. Mức thuế quan trung bình đã giảm xuống còn 0,9% trong năm 2009 từ mức 4,4% năm 2000. Việc thực hiện các cam kết tự do hóa đối với 12 lĩnh vực ưu tiên hội nhập của ASEAN đang đi vào giai đoạn cuối. Hiệp định về thương mại hàng hóa mới của ASEAN thay thế cho Hiệp định CEPT/AFTA trước đây có hiệu lực từ ngày 1-5-2010 đã kịp thời khắc phục những hạn chế pháp lý và mở ra cơ hội hợp tác chặt chẽ hơn nữa để thúc đẩy các chương trình thuận lợi hóa thương mại. Các luồng di chuyển vốn, dịch vụ được cởi mở thông thoáng trên định hướng của AEC.
Năm 2014 – 2015 là giai đoạn nước rút quan trọng của ASEAN để tiến đến mục tiêu xây dựng AEC. ASEAN đang rất có triển vọng để tăng cường vị thế của mình để trở thành khu vực kinh tế có sức cạnh tranh cao. Đây cũng là thời điểm doanh nghiệp có rất nhiều cơ hội nếu nhạy bén, linh hoạt và khẩn trương nhận diện, nắm bắt những lợi ích tiềm năng từ AEC để phát triển quy mô kinh tế của mình trong nội khối ASEAN, và lớn hơn là với các thị trường khác đã, đang, và sẽ hợp tác với ASEAN.
3.2.2. Những lợi ích tạo ra từ AEC đối với khu vực và Việt Nam Đối với kinh tế khu vực, tiến tới AEC, ASEAN sẽ trở thành một thị trường thống nhất, một không gian sản xuất chung, hàng hóa chuyển dịch tự do với một môi trường thuận lợi cho các hoạt động thương mại, hướng tới sự phát triển năng động và cạnh tranh hơn.
Đối với riêng doanh nghiệp Việt Nam: Nhìn vào các trụ cột phát triển của AEC, có thể thấy cơ hội cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ của Việt Nam có cơ hội vươn ra biển lớn khi các chính sách được hướng tới nhóm doanh nghiệp này, hiện chiếm đa số trong cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam. Ngoài ra, các ngành chủ lực của Việt Nam như nông nghiệp, dệt may, thủy sản, và hiện nay là xuất khẩu hàng điện tử sẽ được hưởng lợi từ các chính sách khu vực.
Xa hơn, tiềm năng phát triển kinh tế Việt Nam lớn nhất là từ nguồn vốn đầu tư đổ vào thị trường. Có thể nói, nguồn vốn FDI là yếu tố rất quan trọng trong định hướng phát triển kinh tế của Việt Nam, khi nhìn lại sự thành công từ các FDI lớn hiện nay như Samsung, Honda.
Nhìn chung, AEC sẽ tạo ra thêm các cơ hội mới, thị trường mới với các rào cản được loại trừ. Thuế quan được cắt giảm, áp dụng các tiêu chuẩn chất lượng trong sản xuất và thuận lợi từ thương mại sẽ góp phần nâng cao sức mạnh cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam. Cuối cùng nhưng vô cùng quan trọng, là cơ hội thu hút đầu tư nước ngoài.
3.2.3. Những thách thức cho Việt Nam
Những thách thức cho Việt Nam trong tương lai cũng không hề nhỏ. Việt Nam cần vượt qua những thử thách sau trước khi có những bước phát triển cao hơn, nâng cao vị thế kinh tế Việt Nam trong khu vực.
T1:Sự chênh lệch về trình độ sản xuất giữa Việt Nam và nhóm ASEAN-5 Hội nhập kinh tế không chỉ mang lại cơ hội phát triển, mà đi kèm với đó là những thách thức rất lớn cho các quốc gia có nền kinh tế yếu thế hơn so với các quốc gia khác trong khu vực. Việt Nam hiện nay có trình độ sản xuất còn hạn chế, nếu so sánh với các quốc gia ASEAN-5. Do đó, Việt Nam vẫn có thể sẽ tiếp tục xuất khẩu hàng thô, giá trị thấp, và nhập khẩu các hàng hóa công nghiệp, công nghệ giá trị cao.
Điều này ảnh hưởng trực tiếp đến cán cân thương mại, khi nguy cơ thâm hụt là rất cao do chênh lệch về giá trị xuất và nhập khẩu.
T2: Nhận thức của doanh nghiệp Việt về hội nhập kinh tế còn thấp
Theo cuộc điều tra về nhận thức và sự quan tâm của doanh nghiệp ở các quốc gia ASEAN của Viện Nghiên cứu Đông Nam Á của Singapore năm 2013 (ISEAS,2013) cho rằng các doanh nghiệp Việt Nam có hiểu biết và nhận thức rất hạn chế về hội nhập kinh tế khu vực, cụ thể là AEC. Kết quả cụ thể như sau: có 76% số doanh nghiệp được điều tra không biết về AEC. Các doanh nghiệp được hỏi cũng không hiểu rõ những cơ hội cũng như thách thức đối với Việt Nam nói chung và với các doanh nghiệp nói riêng khi Việt Nam gia tham gia vào AEC 2015. Có đến 63%
doanh nghiệp cho rằng AEC không có ảnh hưởng hoặc ảnh hưởng rất ít đến việc kinh doanh của mình. Đây là tỷ lệ lớn nhất trong số các quốc gia ASEAN. Đây là một thực trạng rất nguy hiểm khi nguy cơ doanh nghiệp Việt Nam sẽ thua ngay chính trên sân nhà khi can thiệp của Chính phủ trong tương lai sẽ không còn nhiều.
T3: Môi trường kinh doanh chưa thu hút được nhiều cơ hội đầu tư
Các doanh nghiệp vốn đầu tư nước ngoài FDI hiện nay đang được rất nhiều ưu đãi khi đầu tư Việt Nam và bộ phận này đã chứng minh được sự quan trọng trong kinh tế Việt Nam nói chung, và đóng góp vào kim ngạch xuất nhập khẩu nói riêng.
Tuy nhiên, nhiều thủ tục hành chính phiền hà, những quy định ngặt nghèo của các bộ, ngành chức năng, hay tình hình vĩ mô diễn biến chưa ổn định… cũng đang hạn chế cơ hội đầu tư của các doanh nghiệp nước ngoài.
T4: Cạnh tranh căng thẳng trên cả hai thị trường nội địa và quốc tế
Hội nhập kinh tế là cơ hội mở rộng thị trường xuất khẩu cho Việt Nam, và ngược lại, Việt Nam cũng sẽ là điểm đến tiềm năng cho các quốc gia khác trong khu vực, đặc biệt từ nhóm ASEAN-5 khi tiềm lực kinh tế của họ là rất lớn. Thực tế, Thái Lan, Singapore và Malaysia đã có những động thái để thâm nhập thị trường Việt Nam không chỉ từ hoạt động xuất nhập khẩu, mà còn từ hoạt động đầu tư.
Như vậy, ngoài việc hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam khai thác thị trường khu vực, thì doanh nghiệp Việt Nam phải cạnh tranh với hàng hóa nhập khẩu từ các quốc gia ASEAN-5, có chất lượng tốt hơn ở một số ngành hàng. Nếu thị trường Việt Nam mất vào tay các doanh nghiệp nước ngoài, kim ngạch nhập khẩu sẽ tăng rất cao trong khi xuất khẩu hạn chế do không thể cạnh tranh. Cán cân thương mại sẽ thâm hụt nặng nề. Trong tình trạng thuế suất khu vực dần về 0, kim ngạch nhập khẩu cao cũng không làm tăng ngân sách cho Việt Nam.
T5: Nguy cơ trở thành thị trường tiêu thụ do sản xuất yếu kém, lợi thế cạnh tranh yếu dần
Đây là một thách thức không nhỏ cho Việt Nam nhưng hoàn toàn hiện hữu nếu nền sản xuất trong nước chưa được cải thiện. Thị trường tiêu dùng ngày càng đòi hỏi cao hơn về chất lượng và hàng hóa nước ngoài, đặc biệt là hàng Thái Lan được rất nhiều người tiêu dùng ưa chuộng, và Thái Lan cũng đã tiến hành chiến lược chiếm lĩnh thị trường Việt Nam thông qua đầu tư. Ngoài ra, Singapore cũng thâm nhập Việt Nam bằng con đường tài chính. Việt Nam đang mất dần những lợi thế so sánh và có nguy cơ thất bại ngay tại thị trường nội địa.