CHƯƠNG 2:THỰC TRẠNG CÁN CÂN THƯƠNG MẠI CỦA VIỆT NAM VỚI ASEAN-5 TRONG GIAI ĐOẠN 2005 – 2015
2.2. Thực trạng cán cân thương mại Việt Nam với ASEAN-5
2.2.3. Diễn biến cán cân thương mại Việt Nam – ASEAN 5
2.2.3.1. Cán cân thương mại Việt Nam – Indonesia
Nguồn: Tổng hợp từ Trung tâm Tư liệu và Dịch vụ Thống kê [14] từ 2005 - 2014 Cán cân thương mại Việt Nam – Indonesia thâm hụt sâu trong giai đoạn 2005 – 2008 khi nhập siêu gần chạm mốc 1 tỷ USD vào năm 2008, do tình hình khủng hoảng kinh tế toàn cầu dẫn đến xuất khẩu của Việt Nam suy giảm. Nhưng từ năm 2009, cán cân đã có sự cải thiện khi giá trị thâm hụt giảm dần từ năm 2009 do xuất
2005 2006 2007 2008 2009 2010 2011 2012 2013 2014 CCTM -231 -55 -201 -978 -699 -476 111 110 80 397
-1200 -1000 -800 -600 -400 -200 0 200 400 600
Triệu USD
khẩu cải thiện, và đến năm 2011, cán cân thương mại Việt Nam – Indonesia đã dương, lần đầu tiên Việt Nam xuất siêu sang Indonesia sau nhiều năm thâm hụt, và tiếp tục tăng trưởng tích cực các năm sau đó.
Bảng 2.7. Các mặt hàng xuất khẩu chủ yếu vào Indonesia giai đoạn 2007 - 2014 Đơn vị tính: 1000 USD
MẶT HÀNG XUẤT BÌNH QUÂN TỔNG GIÁ TRỊ
Gạo 310.834 2.486.671
Điện thoại các loại và linh kiện 245.148 1.961.186
Sắt thép các loại 169.880 1.359.044
Dầu thô 143.970 1.151.763
Hàng dệt may 54.863 438.903
Phương tiện vận tải và phụ tùng 52.568 420.547 Máy móc thiết bị dụng cụ phụ tùng khác 50.224 401.789
Sản phẩm từ chất dẻo 40.341 322.731
Cà phê 34.837 278.697
Xơ, sợi dệt các loại 33.383 267.064
Nguồn: Tổng hợp từ Thống kê Hải quan[13] từ 2005 - 2014
Gạo là mặt hàng có giá trị xuất khẩu cao nhất của Việt Nam vào thị trường Indonesia trong 8 năm qua, với tổng giá trị xuất khẩu đạt trên 2,4 tỷ USD. Điện thoại, sắt thép và dầu thô là các mặt hàng xuất khẩu có giá trị tích lũy trên 1 tỷ USD trong quan hệ song phương của Việt Nam và Indonesia trong thời gian qua. Trong đó, hàng điện thoại, linh kiện điện thoại phát triển cùng với xu hướng phát triển ngành điện tử tại Việt Nam, đóng góp giá trị lớn trong kim ngạch xuất khẩu Việt Nam – Indonesia.
Các mặt hàng còn lại trong danh sách 10 mặt hàng xuất khẩu chủ lực có kim ngạch chưa cao khi kim ngạch bình quân chỉ dao động từ 33 triệu USD đến 55 triệu USD. Trong đó, hàng dệt may có giá trị bình quân hàng năm đạt 54,8 triệu USD, theo sau là phương tiện vận tải và máy móc thiết bị điện tử khác. Cà phê cùng với gạo là hai mặt hàng nông nghiệp duy nhất trong danh sách này, tuy nhiên, so với giá trị xuất khẩu gạo sang Indonesia, cà phê có kim ngạch khá khiêm tốn.
Thông qua phân tích xuất khẩu, Indonesia là một thị trường tiêu thụ tốt cho hàng hóa chủ lực của Việt Nam và có thể thấy quan hệ thương mại với Indonesia khá tích cực, khi các mặt hàng thô và hàng nông sản có giá trị thấp chiếm tỷ trọng không cao trong tổng giá trị xuất khẩu (trừ mặt hàng gạo), và các sản phẩm công nghiệp,
máy móc, công nghệ, nổi bật là hàng điện tử, và sắt thép có sự phát triển nhanh trong xuất khẩu trong thời gian qua.
Bảng 2.8. Các mặt hàng nhập khẩu chủ yếu từ Indonesia giai đoạn 2007 - 2014 Đơn vị tính: 1000 USD
MẶT HÀNG NHẬP BÌNH QUÂN TỔNG GIÁ TRỊ
Giấy các loại 198.247 1.585.974
Dầu mỡ động thực vật 148.928 1.191.424
Hoá chất 82.190 657.517
Máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng khác 73.022 584.176
Kim loại thường khác 62.445 499.560
Sắt thép các loại 60.649 485.190
Chất dẻo nguyên liệu 59.799 478.389
Máy vi tính và linh kiện 59.036 472.285
Linh kiện, phụ tùng ô tô 52.852 422.815
Xơ, sợi dệt các loại 48.602 388.819
Nguồn: Tổng hợp từ Thống kê Hải quan[13] từ 2005 - 2014
Giấy là mặt hàng được nhập khẩu nhiều nhất từ Indonesia, với giá trị bình quân gần 200 triệu USD mỗi năm. Dầu mỡ động thực vật có giá trị nhập khẩu cao thứ hai từ quốc gia này. Đây là các mặt hàng mà khả năng sản xuất tại Việt Nam còn rất hạn chế, do đó phụ thuộc chủ yếu vào nhập khẩu.
Các mặt hàng khác trong danh sách đều từ các ngành công nghiệp chế biến, chế tạo, với giá trị nhập khẩu lớn. Một số mặt hàng nổi trội như Hóa chất, chất dẻo, kim loại thường, sắt thép, linh kiện ô tô… đóng góp kim ngạch bình quân hàng năm dao động từ 48 triệu USD đến 82 triệu USD. Các mặt hàng này được Việt Nam nhập khẩu để tiêu thụ trong nước chứ không dùng để thương mại, hoặc để hỗ trợ cho chuỗi cung ứng của các công ty đa quốc gia tại Việt Nam. Sự hạn chế trong trình độ sản xuất của Việt Nam ở các ngành này khiến cán cân thương mại song phương với Indonesia chưa được cải thiện rõ nét.
Tuy nhiên từ năm 2009 độ phụ thuộc vào các mặt hàng công nghiệp nhập khẩu từ Indonesia đã giảm dần, và xuất khẩu sang Indonesia tăng mạnh ở các mặt hàng chủ lực do đó cán cân thương mại Việt Nam với Indonesia đã chuyển biến rất tích cực.