1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

kl do thi hang vi 082746q

75 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 75
Dung lượng 1,3 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ HOẠT ĐỘNG GIAO NHẬN (13)
    • 1.1.1. Những vấn đề cơ bản về giao nhận (13)
    • 1.2.1. Khái niệm giao nhận (13)
    • 1.1.2. Quyền hạn và trách nhiệm của người giao nhận (13)
      • 1.1.2.1. Với tƣ cách là đại lý (14)
      • 1.1.2.2. Với tư cách là người chuyên chở (15)
    • 1.1.3. Các dịch vụ giao nhận chủ yếu (16)
    • 1.1.4. Vai trò của hoạt động giao nhận hàng hóa (17)
    • 1.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh dịch vụ giao nhận hàng hóa xuất nhập khẩu tại doanh nghiệp (18)
      • 1.2.1. Các yếu tố bên ngoài (18)
        • 1.2.1.1. Yếu tố chính trị - pháp luật của nhà nước (18)
        • 1.2.1.2. Sự phát triển của kinh tế (19)
        • 1.2.1.3. Sự phát triển của khoa học kĩ thuật ngành vận tải giao nhận (20)
        • 1.2.1.4. Sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong ngành (22)
        • 1.2.1.5. Nhu cầu của khách hàng về dịch vụ giao nhận (23)
      • 1.2.2. Các yếu tố bên trong doanh nghiệp (24)
        • 1.2.2.1. Cơ sở vật chất kĩ thuật của công ty (24)
        • 1.2.2.2. Cơ cấu tổ chức hoạt động của doanh nghiệp (24)
        • 1.2.2.3. Nguồn nhân lực hiện hữu của doanh nghiệp (25)
        • 1.2.2.4. Cách thức tổ chức hoạt động kinh doanh dịch vụ giao nhận của (28)
    • 1.3. Hệ thống các chỉ tiêu phản ánh thực trạng hoạt động giao nhận hàng hóa nhập khẩu tại doanh nghiệp (28)
      • 1.3.1. Chất lƣợng dịch vụ cung ứng (28)
      • 1.3.2. Mức độ hài lòng của khách hàng (30)
      • 1.3.3. Sự phát triển số lƣợng khách hàng của doanh nghiệp (31)
      • 1.3.4. Số lƣợng hàng nhập khẩu (31)
      • 1.3.5. Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu hàng năm của doanh nghiệp (32)
  • CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH DỊCH VỤ (34)
    • 2.1. Giới thiệu chung về Công ty TNHH Dịch vụ vận tải tàu biển An Nhƣ Thành (34)
      • 2.1.1. Lịch sử hình thành và phát triển Công ty An Nhƣ Thành (34)
      • 2.1.2. Hệ thống tổ chức của Công ty An Nhƣ Thành (35)
        • 2.1.2.1. Sơ đồ cơ cấu tổ chức (35)
        • 2.1.2.2. Nhiệm vụ và chức năng các phòng ban (36)
      • 2.1.3. Tổng quan về tình hình nhân sự của Công ty An Nhƣ Thành (39)
      • 2.1.4. Tổng quan về lĩnh vực hoạt động của Công ty An Nhƣ Thành (40)
      • 2.1.5. Vai trò của bộ phận giao nhận hàng nhập khẩu đối với Công ty (40)
      • 2.1.6 Kết quả hoạt động kinh doanh giai đoạn 2009 – 2011 (41)
    • 2.2. Phân tích thực trạng hoạt động kinh doanh dịch vụ giao nhận hàng hóa nhập khẩu của Công ty TNHH Dịch vụ vận tải tàu biển An Nhƣ Thành (41)
      • 2.2.1. Về chất lƣợng dịch vụ cung ứng (41)
        • 2.2.1.1. Khâu chuẩn bị hồ sơ chứng từ vẫn còn chậm trễ, sai sót (42)
        • 2.2.1.2. Dịch vụ vận tải và giao hàng vẫn còn những bất cập (46)
        • 2.2.1.3. Đạt lợi thế về nghiệp vụ thanh toán và một số tiêu chí khác (47)
      • 2.2.2. Mức độ hài lòng của khách hàng (49)
      • 2.2.3. Sự phát triển số lƣợng khách hàng của Công ty An Nhƣ Thành (50)
        • 2.2.3.1. Số lƣợng khách hàng tăng nhẹ (50)
        • 2.2.3.2. Hoạt động tìm kiếm khách hàng chƣa thật sự hiệu quả (51)
      • 2.2.4. Sự phát triển số lƣợng hàng giao nhận (53)
      • 2.2.5. Tỷ suất lợi nhuận hàng năm của Bộ phận hàng Nhập khẩu (54)
        • 2.2.5.1. Doanh thu và lợi nhuận đạt đƣợc sau 3 năm hoạt động (54)
        • 2.2.5.2. Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu (56)
    • 2.3. Đánh giá hoạt động kinh doanh dịch vụ giao nhận hàng hóa nhập khẩu tại Công ty An Nhƣ Thành (57)
      • 2.3.1. Ƣu điểm (0)
      • 2.3.2. Tồn tại (58)
  • CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP ĐẨY MẠNH HOẠT ĐỘNG KINH DOANH DỊCH VỤ GIAO NHẬN HÀNG NHẬP KHẨU TẠI CT TNHH DỊCH VỤ VẬN TẢI TÀU BIỂN AN NHƢ THÀNH (59)
    • 3.1. Cơ sở đề xuất giải pháp (59)
      • 3.1.1. Đối với Nhà nước và toàn ngành Giao nhận nói chung (59)
        • 3.1.1.1. Định hướng phát triển hoạt động nhập khẩu của nhà nước từ (59)
        • 3.1.1.2. Tiềm năng, cơ hội và thách thức phát triển cho ngành giao nhận Việt Nam (60)
      • 3.1.2. Đối với Công ty TNHH Dịch vụ vận tải tàu biển An Nhƣ Thành (61)
        • 3.1.2.1. Hoạt động kinh doanh sau 3 năm thành lập của A.N.T (61)
        • 3.1.2.2. Định hướng phát triển của Công ty trong thời gian tới (62)
    • 3.2. Mục tiêu giải pháp (63)
    • 3.3. Hệ thống giải pháp đẩy mạnh hoạt động kinh doanh dịch vụ giao nhận hàng Nhập khẩu tại CT TNHH Dịch vụ vận tải tàu biển An Nhƣ Thành (63)
      • 3.3.1. Đẩy mạnh tìm kiếm khách hàng, mở rộng thị trường hoạt động (63)
      • 3.3.2. Đẩy mạnh đầu tƣ nguồn vốn kinh doanh vào thiết lập cơ sở vật chất hoặc cải thiện dịch vụ vận tải (64)
      • 3.3.3. Khắc phục nhƣợc điểm, hoàn thiện quy trình giao nhận hàng Nhập khẩu (65)
        • 3.3.3.1. Khắc phục sai sót trong kiểm tra, đối chiếu hồ sơ chứng từ (65)
        • 3.3.3.2. Khắc phục những chậm trễ trong tiếp nhận hồ sơ chứng từ (66)
        • 3.3.3.3. Hoàn thiện khâu nhận hàng và giao hàng cho người mua (67)
      • 3.3.4. Đào tạo và nâng cao trình độ chuyên môn cán bộ nhân viên (68)
  • KẾT LUẬN (69)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (70)
  • PHỤ LỤC (72)

Nội dung

[Type text] Page 1 TỔNG LIÊN ĐOÀN LAO ĐỘNG VIỆT NAM TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÔN ĐỨC THẮNG KHOA QUẢN TRỊ KINH DOANH KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP ĐẨY MẠNH HOẠT ĐỘNG KINH DOANH DỊ

Trang 1

[Type text] Page 1

TỔNG LIÊN ĐOÀN LAO ĐỘNG VIỆT NAM

TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÔN ĐỨC THẮNG KHOA QUẢN TRỊ KINH DOANH

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP ĐẨY MẠNH HOẠT ĐỘNG KINH DOANH DỊCH VỤ GIAO NHẬN HÀNG HÓA NHẬP KHẨU TẠI CÔNG TY TNHH DỊCH VỤ VẬN TẢI

TÀU BIỂN AN NHƯ THÀNH

GVHD: TS.TRẦN THANH LONG SVTH : ĐỖ THỊ HẰNG VI

MSSV: 082746Q KHÓA: 12

TP HCM, THÁNG 7/2012

Trang 2

LỜI CẢM ƠN



Sau bốn năm được học tập và rèn luyện tại trường Đại học Tôn Đức Thắng em

đã chuẩn bị cho mình một nền tảng kiến thước cơ bản, là hành trang vững chắc để bước ra làm một người có ích cho xã hội, chung tay cùng xây dựng một tổ quốc Việt Nam giàu mạnh Để có được những “vốn” kiến thức như ngày hôm nay, em không thể nào quên được công ơn dạy dỗ của các Thầy, các Cô, sự dìu dắt, chỉ bảo từng bước của khoa Quản trị kinh doanh trường Đại học Tôn Đức Thắng Em xin gửi lời cảm ơn chân thành đến quý Thầy, quý Cô!

Em cũng xin cảm ơn sự giúp đỡ nhiệt tình, tận tụy của các Anh/Chị tại Công ty TNHH Dịch vụ vận tải tàu biển An Như Thành trong suốt thời gian thực tập và thực hiện khóa luận đã giúp em tìm hiểu rõ hơn hoạt động giao nhận hàng nhập khẩu, những khó khăn, trở ngại thường gặp, những vấn đề tồn tại và đã hỗ trợ hết mình cho chương trình khảo sát chất lượng để em hoàn thành tốt khóa luận của mình, giúp cho mục tiêu nghiên cứu trở nên thực tiễn cũng như có ý nghĩa tích cực hơn đối với hoạt động của Công ty

Đặc biệt em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến Thầy giáo – Tiến sĩ Trần Thanh Long người đã luôn theo sát và chỉnh sửa cho em từng chi tiết nhỏ trong toàn bộ quá trình nghiên cứu và làm luận văn tốt nghiệp này Em xin chân thành cảm ơn Thầy!

Với kinh nghiệm thực tiễn còn non kém và thời gian thực hiện có hạn nên đề tài không tránh được những sai sót và ý kiến chủ quan của người viết, em mong nhận được sự góp ý chân thành của Quý Thầy, Cô, anh chị và bạn đọc Em xin cảm ơn!

Sinh viên thực tập

ĐỖ THỊ HẰNG VI

Trang 3

NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN



………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

Tp Hồ Chí Minh, Ngày… tháng… năm 2012

Trang 4

NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN PHẢN BIỆN



………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

Tp Hồ Chí Minh, Ngày… tháng… năm 2012

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 : NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ HOẠT ĐỘNG GIAO NHẬN 2

1.1.1 Những vấn đề cơ bản về giao nhận 2

1.2.1 Khái niệm giao nhận 2

1.1.2 Quyền hạn và trách nhiệm của người giao nhận 2

1.1.2.1 Với tư cách là đại lý 3

1.1.2.2 Với tư cách là người chuyên chở 4

1.1.3 Các dịch vụ giao nhận chủ yếu 5

1.1.4 Vai trò của hoạt động giao nhận hàng hóa 6

1.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh dịch vụ giao nhận hàng hóa xuất nhập khẩu tại doanh nghiệp 7

1.2.1 Các yếu tố bên ngoài 7

1.2.1.1 Yếu tố chính trị - pháp luật của nhà nước 7

1.2.1.2 Sự phát triển của kinh tế 8

1.2.1.3 Sự phát triển của khoa học kĩ thuật ngành vận tải giao nhận 9

1.2.1.4 Sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong ngành 11

1.2.1.5 Nhu cầu của khách hàng về dịch vụ giao nhận 12

1.2.2 Các yếu tố bên trong doanh nghiệp 13

1.2.2.1 Cơ sở vật chất kĩ thuật của công ty 13

1.2.2.2 Cơ cấu tổ chức hoạt động của doanh nghiệp 13

1.2.2.3 Nguồn nhân lực hiện hữu của doanh nghiệp 14

Về số lượng nhân sự 15

Về trình độ chuyên môn nghiệp vụ của cán bộ nhân viên 15

Chính sách đãi ngộ của công ty giành cho nhân viên 16

1.2.2.4 Cách thức tổ chức hoạt động kinh doanh dịch vụ giao nhận của doanh nghiệp 17

1.3 Hệ thống các chỉ tiêu phản ánh thực trạng hoạt động giao nhận hàng hóa nhập khẩu tại doanh nghiệp 17

Trang 6

1.3.1 Chất lượng dịch vụ cung ứng 17

1.3.2 Mức độ hài lòng của khách hàng 19

1.3.3 Sự phát triển số lượng khách hàng của doanh nghiệp 20

1.3.4 Số lượng hàng nhập khẩu 20

1.3.5 Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu hàng năm của doanh nghiệp 21

Tóm tắt Chương 1: 22

CHƯƠNG 2 : THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH DỊCH VỤ GIAO NHẬN HÀNG HÓA NHẬP KHẨU TẠI CÔNG TY TNHH DỊCH VỤ VẬN TẢI TÀU BIỂN AN NHƯ THÀNH 23

2.1 Giới thiệu chung về Công ty TNHH Dịch vụ vận tải tàu biển An Như Thành 23

2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển Công ty An Như Thành 23

2.1.2 Hệ thống tổ chức của Công ty An Như Thành 24

2.1.2.1 Sơ đồ cơ cấu tổ chức 24

2.1.2.2 Nhiệm vụ và chức năng các phòng ban 25

2.1.3 Tổng quan về tình hình nhân sự của Công ty An Như Thành 28

2.1.4 Tổng quan về lĩnh vực hoạt động của Công ty An Như Thành 29

2.1.5 Vai trò của bộ phận giao nhận hàng nhập khẩu đối với Công ty 29

2.1.6 Kết quả hoạt động kinh doanh giai đoạn 2009 – 2011 30

2.2 Phân tích thực trạng hoạt động kinh doanh dịch vụ giao nhận hàng hóa nhập khẩu của Công ty TNHH Dịch vụ vận tải tàu biển An Như Thành 30

2.2.1 Về chất lượng dịch vụ cung ứng 30

2.2.1.1 Khâu chuẩn bị hồ sơ chứng từ vẫn còn chậm trễ, sai sót 31

2.2.1.2 Dịch vụ vận tải và giao hàng vẫn còn những bất cập 35

2.2.1.3 Đạt lợi thế về nghiệp vụ thanh toán và một số tiêu chí khác 36

2.2.2 Mức độ hài lòng của khách hàng 38

2.2.3 Sự phát triển số lượng khách hàng của Công ty An Như Thành 39

2.2.3.1 Số lượng khách hàng tăng nhẹ 39

2.2.3.2 Hoạt động tìm kiếm khách hàng chưa thật sự hiệu quả 40

Trang 7

2.2.4 Sự phát triển số lượng hàng giao nhận 42

2.2.5 Tỷ suất lợi nhuận hàng năm của Bộ phận hàng Nhập khẩu 43

2.2.5.1 Doanh thu và lợi nhuận đạt được sau 3 năm hoạt động 43

2.2.5.2 Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu 45

2.3 Đánh giá hoạt động kinh doanh dịch vụ giao nhận hàng hóa nhập khẩu tại Công ty An Như Thành 46

2.3.1 Ưu điểm 46

2.3.2 Tồn tại 47

Tóm tắt Chương 2 : 47

CHƯƠNG 3 : GIẢI PHÁP ĐẨY MẠNH HOẠT ĐỘNG KINH DOANH DỊCH VỤ GIAO NHẬN HÀNG NHẬP KHẨU TẠI CT TNHH DỊCH VỤ VẬN TẢI TÀU BIỂN AN NHƯ THÀNH 48

3.1 Cơ sở đề xuất giải pháp 48

3.1.1 Đối với Nhà nước và toàn ngành Giao nhận nói chung 48

3.1.1.1 Định hướng phát triển hoạt động nhập khẩu của nhà nước từ 2010 đến 2030 48

3.1.1.2 Tiềm năng, cơ hội và thách thức phát triển cho ngành giao nhận Việt Nam 49

3.1.2 Đối với Công ty TNHH Dịch vụ vận tải tàu biển An Như Thành 50

3.1.2.1 Hoạt động kinh doanh sau 3 năm thành lập của A.N.T Shipping đã bước đầu đạt được nhiều thành công 50

3.1.2.2 Định hướng phát triển của Công ty trong thời gian tới 51

3.2 Mục tiêu giải pháp 52

3.3 Hệ thống giải pháp đẩy mạnh hoạt động kinh doanh dịch vụ giao nhận hàng Nhập khẩu tại CT TNHH Dịch vụ vận tải tàu biển An Như Thành 52

3.3.1 Đẩy mạnh tìm kiếm khách hàng, mở rộng thị trường hoạt động 52

3.3.2 Đẩy mạnh đầu tư nguồn vốn kinh doanh vào thiết lập cơ sở vật chất hoặc cải thiện dịch vụ vận tải 53

3.3.3 Khắc phục nhược điểm, hoàn thiện quy trình giao nhận hàng Nhập khẩu 54

Trang 8

3.3.3.1 Khắc phục sai sót trong kiểm tra, đối chiếu hồ sơ chứng từ 54

3.3.3.2 Khắc phục những chậm trễ trong tiếp nhận hồ sơ chứng từ 55

3.3.3.3 Hoàn thiện khâu nhận hàng và giao hàng cho người mua 56

3.3.4 Đào tạo và nâng cao trình độ chuyên môn cán bộ nhân viên 57

Tóm tắt Chương 3: 57

KẾT LUẬN 58

TÀI LIỆU THAM KHẢO 59

PHỤ LỤC 61

Trang 9

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

WTO World Trade Organization Tổ chức Thương mại Thế giới B/L Bill of Lading Vận đơn đường biển

HBL House Bill of Lading Vận đơn nhà

MBL Master Bill of Lading Vận đơn chủ

C/O Certificate of Origin Chứng nhận xuất xứ

D/O Delivery Order Lệnh giao hàng

P/L Packing List Phiếu đóng gói hàng hóa FCL Full container load Hàng nguyên container

LCL Less than container load Hàng lẻ

CFS Container freight Station Trạm đóng hàng vào container

Trang 10

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

Bảng 2.1 Kết quả hoạt động kinh doanh từ năm 2009 – 2011 30

Bảng 2.2 Kết quả khảo sát về Chất lượng dịch vụ tại A.N.T Shipping 31

Bảng 2.3 Mô tả quy trình nhập khẩu theo sơ đồ hình 2.2 33

Bảng 2.4 Kết quả khảo sát về mức độ hài lòng của khách hàng 38

Trang 11

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ

Hình 2.1 Sơ đồ cơ cấu tổ chức 24

Hình 2.2 Quy trình nhập khẩu hàng hóa theo yêu cầu của Đại lý 32

Hình 2.3 Quy trình nhập khẩu theo yêu cầu của khách hàng nội địa 34

Hình 2.4 Sơ đồ lưu chuyển hàng hóa từ Công ty đến tay khách hàng 36

Hình 2.5 Biểu đồ sự gia tăng số lượng khách hàng qua các năm 40

Hình 2.6 Biểu đồ số lượng khách hàng được thu hút theo kênh thông tin 41

Hình 2.7 Biểu đồ số lượng hàng giao nhận tính trung bình tháng 42

Hình 2.8 Doanh thu sau 3 năm đầu thành lập 43

Hình 2.9 Doanh thu từng quý năm 2011 44

Hình 2.10 Tỷ suất lợi nhuận qua 3 năm đầu hoạt động 45

Trang 12

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

An Như Thành là một công ty dịch vụ giao nhận hàng hóa còn khá nhỏ và mới

mẻ trên thị trường ngành logistics Việt Nam Thế nhưng, ra đời vào đúng thời điểm

đất nước nói chung và doanh nghiệp nói riêng đang chú trọng phát triển kinh tế

ngoại thương mà Công ty này đã gặt hái được khá nhiều thành công Ba năm hoạt

động, thị phần và số lượng khách hàng của Công ty đang tăng dần nhờ vào một

quy trình hoạt động nghiêm túc và tương đối hoàn thiện Thế nhưng, để sánh kịp

và phát triển hơn nữa đòi hỏi An Như Thành phải có nhiều nỗ lực khắc phục những

tồn tại dù nhỏ, cải thiện cơ sở vật chất để củng cố hình ảnh, niềm tin vững chắc

trong lòng khách hàng

Sau quá trình thực tập tại Công ty TNHH Dịch vụ vận tải tàu biển An Như

Thành, nhìn nhận được một số vấn đề mà tổ chức cần xem xét, em đã quyết định

lựa chọn đề tài “Thực trạng và giải pháp đẩy mạnh hoạt động kinh doanh dịch vụ

giao nhận hàng hóa nhập khẩu tại Công ty TNHH Dịch vụ vận tải tàu biển An Như

Thành” để thực hiện khóa luận với mong muốn những nghiên cứu của mình sẽ

đóng góp vào giúp Công ty phát triển hoàn thiện hơn nữa

Mục tiêu nghiên cứu của đề tài : Tìm hiểu thực trạng hoạt động kinh doanh dịch

vụ giao nhận hàng nhập khẩu tại Doanh nghiệp và đề ra những giải pháp đẩy mạnh

hoạt động kinh doanh này tại Công ty An Như Thành

Phương pháp nghiên cứu : Bằng phương pháp thống kê, tổng hợp số liệu, thông

qua phỏng vấn cán bộ, nhân viên Công ty để lấy thông tin, khảo sát khách hàng

mẫu, cuối cùng phân tích kết quả ghi nhận thực trạng và đề ra giải pháp

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu : Đề tài được phân tích, đánh giá và tổng hợp

dựa trên nghiên cứu, thu thập thông tin về hoạt động nhập khẩu hàng hóa và kết

quả đạt được tại các phòng ban: Nhập khẩu, giao nhận, kinh doanh của Công ty

TNHH Dịch vụ vận tải tàu biển An Như Thành

Luận văn của em được hoàn thành với 3 chương sau :

Chương 1 : Những vấn đề cơ bản về hoạt động giao nhận

Chương 2 : Thực trạng kinh doanh dịch vụ giao nhận hàng nhập khẩu tại CT

TNHH Dịch vụ vận tải tàu biển An Như Thành

Chương 3 : Giải pháp đẩy mạnh hoạt động kinh doanh dịch vụ giao nhận

hàng hóa nhập khẩu tại CT TNHH Dịch vụ vận tải tàu biển An Như Thành

Trang 13

Trang 2

CHƯƠNG 1 : NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ HOẠT ĐỘNG GIAO NHẬN 1.1.1 Những vấn đề cơ bản về giao nhận

1.2.1 Khái niệm giao nhận

Khác hẳn với những nền kinh tế tự cung tự cấp ngày xưa, ngày nay hầu hết các quốc gia đều chú trọng vào hoạt động mua bán ngoại thương để phát triển kinh tế đất nước Một đặc điểm nổi bật của kinh doanh quốc tế đó là khoảng cách giữa người mua và người bán ở rất xa nhau Việc giao dịch, vận chuyển hàng hóa giữa hai quốc gia là không hề đơn giản, buổi ban đầu các thương gia phải tự thực hiện tất cả các vấn đề này, tuy nhiên, theo sự phát triển của kinh tế ngoại thương đã dần xuất hiện một bộ phận đội tàu và tổ chức khác cung cấp từ một phần đến toàn bộ các công đoạn trong chu trình mua bán này, giao nhận bắt đầu hình thành từ đó Và

“Người xuất khẩu – Người giao nhận – Người nhập khẩu” dần trở thành một quy trình chuẩn tắc cho hoạt động mua bán quốc tế này

Theo định nghĩa được thống nhất của Liên đoàn các hiệp hội giao nhận quốc tế FIATA (Fédération Internationale des Associatíon de transitaires et Assimiles) thì giao nhận là bất kì dịch vụ có liên quan đến vận chuyển, gom hàng, lưu kho, đóng gói, xếp dỡ, thủ tục hải quan, hay tư vấn các vấn đề trên kể cả thanh toán, mua bảo hiểm, thu thập chứng từ liên quan đến hàng hóa

Theo Luật Thương mại Việt Nam 2005, điều 233 thì “Dịch vụ Logistics (giao nhận) hàng hóa là hoạt động thương mại, theo đó thương nhân tổ chức thực hiện một hoặc nhiều công đoạn bao gồm nhận hàng, vận chuyển, lưu bãi, làm thủ tục hải quan, các thủ tục giấy tờ khác, tư vấn khách hàng, đóng gói bao bì, ghi ký mã hiệu, giao hàng hoặc các dịch vụ khác có liên quan tới hàng hóa theo thỏa thuận với khách hàng để hưởng thù lao” (“Mục 4 – Dịch vụ Logistics, Chương IV – Một

số hoạt động thương mại cụ thể khác, Luật Thương Mại 2005; Vietlawconsultants – Pháp điển Luật Việt Nam; vietlaw.biz)

Vậy, giao nhận là tập hợp những nghiệp vụ, thủ tục có liên quan đến quá trình vận tải nhằm thực hiện việc di chuyển hàng hóa từ nơi gửi hàng (người gửi hàng) đến nơi nhận hàng (người nhận hàng) Người giao nhận có thể làm các dịch vụ một cách trực tiếp hoặc thông qua đại lý và thuê dịch vụ của người thứ ba

1.1.2 Quyền hạn và trách nhiệm của người giao nhận

Điều 235 Luật Thương mại Việt Nam năm 2005 có quy định đầy đủ về quyền và nghĩa vụ của Người giao nhận Trong đó, Người giao nhận có quyền :

Trang 14

lệ

- Người giao nhận cũng có quyền cầm giữ số hàng hóa nhất định và các chứng

từ có liên quan đến hàng hóa để đòi nợ đã đến hạn của khách hàng Sau 45 ngày kể

từ ngày cầm giữ, nếu khách hàng không trả tiền nợ thì người làm dịch vụ giao nhận

có quyền định đoạt hàng hóa và chứng từ đó theo các quy định của pháp luật, mọi chi phí cầm giữ và định đoạt hàng hóa do khách hàng chịu

- Trong trường hợp có tranh chấp về hàng hóa xảy ra, Người giao nhận có quyền kiểm tra thực tế hàng hóa, mời các cơ quan chức năng giám định và có quyền không bồi thường nếu chứng minh được nguyên nhân thiệt hại không thuộc

về mình

Bên cạnh những quyền lợi trên, cũng đặt ra cho Người giao nhận những nghĩa

vụ và trách nhiệm nặng nề Nghĩa vụ của họ là phải thực hiện đúng như những yêu cầu đã thỏa thuận của các bên liên quan trong hợp đồng vận tải.Và dù hoạt động với tư cách là Đại lý hay là Người chuyên chở thì đều phải chịu trách nhiệm về những hành vi sơ suất của mình

1.1.2.1 Với tƣ cách là đại lý

Người giao nhận phải chịu trách nhiệm với những sai sót như sau :

- Giao hàng khác với chỉ dẫn của khách hàng như đã thỏa thuận trong hợp đồng Mắc phải những lỗi nghiệp vụ như xếp dỡ không theo chỉ dẫn trên bao bì hàng hóa như tránh mưa, nắng, đổ vỡ…

- Quên hoặc cố tình không mua bảo hiểm cho hàng hóa mặc dù đã có chỉ dẫn Nếu lô hàng bị tổn thất trên đường vận chuyển, không được đền bù vì không mua bảo hiểm, nếu Ngân hàng phát hành thư tín dụng bảo hiểm thì lúc này Người giao nhận phải đền bù tất cả những thiệt hại đó cho chủ hàng

- Sai sót trong quá trình làm thủ tục hải quan

- Chở hàng đến sai địa điểm Lý do có thể là không quy định cụ thể địa điểm trong hợp đồng vận tải, Người vận tải có thể sẽ đưa hàng đến một địa điểm khác gây thiệt hại tài chính cho chủ hàng do phải tốn một khoản phí để đưa hàng về

Trang 15

Trang 4

đúng địa điểm Chi phí đó dĩ nhiên Người giao nhận cuối cùng phải gánh chịu do

sơ suất của anh ta khi ký kết hợp đồng vận tải

- Giao hàng không đúng Người nhận Đây là trường hợp năng nề nhất, nếu để mất lô hàng vào tay một Người thứ ba không rõ ràng thì Người giao nhận phải chịu toàn bộ tổn thất xảy ra cho hợp đồng thương mại của lô hàng đó

- Không thực hiện sự cần mẫn hợp lý khi thay mặt khách hàng lựa chọn người chuyên chở, thủ kho hoặc các đại lý khác

- Giao hàng không lấy vận đơn hoặc các chứng từ liên quan đến hàng hóa : Người giao nhận có trách nhiệm lấy vận đơn từ Người vận tải để giao cho chủ hàng và còn phải kiểm tra xem nội dung ghi trong vận đơn đã chính xác chưa, yêu cầu điều chỉnh lại nếu phát hiện có sai sót Vì một lý do nào đó mà Người giao nhận quên lấy vận đơn, lỗi lầm nghiệp vụ này tương đối nghiêm trọng, do Người nhận hàng sẽ không lấy được hàng và Người bán hàng cũng không nhận được tiền thanh toán Điều này tất yếu dẫn đến thiệt hại về tài chính và tất nhiên Người giao nhận sẽ là người gánh chịu tổn thất này

- Tái xuất hàng không tuân theo những thủ tục cần thiết để hoàn thuế Điều này làm tăng chi phí không đáng có cho Doanh nghiệp, và điều đương nhiên do vậy mà phí này Người giao nhận phải gánh chịu cùng tất cả các vấn đề liên quan

- Không thông báo cho Người nhận hàng Sau khi giao hàng, lấy chứng từ vận tải gửi cho Người nhận hàng, Người giao nhận còn phải thông báo cho Người nhận hàng về hành trình vận chuyển, dự kiến thời gian dỡ hàng để Người nhận hàng có

kế hoạch chuẩn bị việc nhận hàng Nếu Người nhận hàng không được báo trước thì rất có thể phát sinh nhiều chi phí do lưu tàu, lưu kho, giao hàng chậm cho khách hàng và Người giao nhận sẽ chịu tất cả khoản phí này

1.1.2.2 Với tư cách là người chuyên chở

Người giao nhận phải chịu trách nhiệm với hành vi sơ suất của mình cũng như của người mà mình thuê

Người giao nhận phải chịu trách nhiệm đối với những mất mát, hư hỏng của hàng hóa và chậm giao hàng Đây là trách nhiệm lớn nhất của Người giao nhận khi đóng vai trò là Người chuyên chở Khi đóng vai trò này, Người giao nhận có thể là người thầu chuyên chở hay người chuyên chở thực tế Dù trong trường hợp nào thì Người giao nhận cũng phải chịu trách nhiệm về hàng hóa từ nơi nhận hàng để chở đến nơi giao hàng mà quá trình này có thể gồm nhiều phương thức vận tải khác nhau

Trách nhiệm của Người chuyên chở gồm ba nội dung cơ bản :

Trang 16

Trang 5

- Cơ sở trách nhiệm (Basic of Liability)

- Thời hạn trách nhiệm (Period of Responsibity)

- Giới hạn trách nhiệm (Limits of Liabiity)

Đối với chuyên chở hàng hóa bằng đường biển , trách nhiệm của Người chuyên chở được quy định trong các Công ước quốc tế và các Nghị định thư sửa đổi, bổ sung Hiện nay có ba quy tắc song song tồn tại đồng thời có hiệu lực là : Quy tắc Hague, Quy tắc Hague – Visby, Quy tắc Hamburg

Theo quy tắc Hague và Hague – Visby thì Người chuyên chở có ba trách nhiệm

- Cấp vận đơn (Bill of Lading)

Theo quy tắc Hamburg, Người chuyên chở phải chịu trách nhiệm về mất mát hư hỏng của hàng hóa và chậm giao hàng khi hàng hóa còn thuộc trách nhiệm của mình trừ khi Người chuyên chở chứng minh được rằng anh ta đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết, hợp lý để ngăn ngừa sự cố xảy ra và hậu quả của nó Trách nhiệm của Người chuyên chở dựa trên nguyên tắc “Lỗi hoặc sơ suất suy đoán” , có nghĩa

là khi có tổn thất thì suy đoán rằng Người chuyên chở có lỗi, muốn thoát lỗi Người chuyên chở phải chứng minh là mình không có lỗi

Giới hạn trách nhiệm của Người chuyên chở :

- Theo quy tắc Hague thì Người chuyên chở không chịu trách nhiệm về hư hỏng mất mát của hàng hóa vượt quá 100 bảng Anh (GBP) cho một kiện hàng hay đơn vị đóng hàng trừ khi tính chất và trị giá hàng hóa được người gửi hàng khai trước khi xếp hàng và đã nêu trong vận đơn

- Đối với quy tắc Hague – Visby thì giới hạn trách nhiệm của Người chuyên chở ở mức tiền cao hơn là 30Fr cho một kg trọng lượng hàng hóa cả bì (tương đương 2SDR – Special Drawing Rights) hoặc 10.000Fr cho một kiện hoặc một đơn

vị (tương đương với 666.67 SDR)

- Theo quy tắc Hamburg thì giới hạn trách nhiệm của Người chuyên chở đã tăng lên rất nhiều so với hai quy tắc trên : 835 SDR cho một kiện hay đơn vị chuyên chở hoặc 2.5 SDR cho một kg hàng hóa cả bì bị mất

1.1.3 Các dịch vụ giao nhận chủ yếu

Trang 17

Trang 6

Cùng với sự phát triển chung của kinh tế - xã hội, hoạt động giao nhận hàng hóa cũng ngày càng hoàn thiện hơn với đa dạng hóa dịch vụ cung ứng và linh hoạt hơn

ở mọi phương thức vận tải Các dịch vụ chủ yếu có thể kể đến là :

- Dịch vụ bốc xếp hàng hóa, bao gồm cả hoạt động bốc xếp container

- Dịch vụ kho bãi và lưu giữ hàng hóa, bao gồm cả hoạt động kinh doanh kho

bãi container và kho xử lý nguyên liệu, thiết bị

- Dịch vụ đại lý vận tải, bao gồm cả hoạt động đại lý làm thủ tục hải quan và

lập kế hoạch bốc dỡ hàng hóa

- Dịch vụ bổ trợ khác, bao gồm cả hoạt động tiếp nhận, lưu kho và quản lý thông tin liên quan đến vận chuyển và lưu kho hàng hóa trong suốt cả chuỗi logistic, hoạt động xử lý lại hàng hóa bị khách hàng trả lại, hàng hóa tồn kho, hàng hóa quá hạn, lỗi mốt và tái phân phối hàng hóa đó, hoạt động cho thuê và

thuê mua container

- Dịch vụ logistics liên quan khác như : Dịch vụ kiểm tra và phân tích kỹ thuật; Dịch vụ bưu chính; Dịch vụ thương mại bán buôn; Dịch vụ thương mại bán lẻ, bao gồm cả hoạt động quản lý hàng lưu kho, thu gom, tập hợp, phân loại

hàng hóa, phân phối lại và giao hàng

1.1.4 Vai trò của hoạt động giao nhận hàng hóa

Vai trò đầu tiên, giao nhận hàng hóa xuất nhập khẩu giúp hoàn thiện chu trình mua bán hàng hóa giữa các bên trong kinh tế ngoại thương Bởi lẽ, giữa người bán

và người mua là một khoảng cách rất xa nhau về địa lý, về ngôn ngữ, họ cần phải

có một bên thứ ba để giúp đỡ trong vận chuyển, môi giới, tư vấn hoặc thậm chí là thực hiện toàn bộ khâu vận chuyển, thông quan xuất nhập khẩu Nếu thiếu đi bộ phận này, chắc chắn vấn đề mua bán quốc tế sẽ gặp khó khăn hoàn toàn, dù ít dù nhiều, các bên trong hợp đồng ngoại thương đều phải nhờ cậy đến hoạt động giao nhận vận tải, vì thế, không thể phủ nhận vai trò quan trọng của ngành này

Vai trò thứ hai, theo một nghiên cứu của trường Đại học Quốc Gia Michigan (Hoa Kỳ) cho thấy, chỉ riêng hoạt động giao nhận đã chiếm từ 10 – 15% GDP của hầu hết các nước lớn ở Châu Âu, Bắc Mỹ và một số nền kinh tế Châu Á – Thái Bình Dương (theo Rushton Oxley & Croncher, 2000) Vì vậy, có thể thấy rằng giao nhận đóng góp rất nhiều vào việc hoàn thành các chỉ tiêu kinh tế đặt ra của một quốc gia, sự phát triển của giao nhận cũng sẽ chính là sự phát triển của kinh tế

- xã hội quốc gia đó

Thứ ba, như nhà kinh tế học người Anh Ullman từng nói : “Khối lượng hàng hóa luân chuyển giữa hai nước tỷ lệ thuận với tỷ số tiềm năng kinh tế hai nước và

Trang 18

Trang 7

tỷ lệ nghịch với khoảng cách của hai nước đó” Thật vậy, không chỉ vấn đề về tăng trưởng kinh tế mà giao nhận còn là vấn đề hợp tác thương mại song phương, gắn kết mối bang giao hữu nghị giữa các nước với nhau

Thứ tư, là một ngành đầy tiềm năng, giao nhận cũng như bao ngành khác trước mắt đã giải quyết công ăn việc làm cho một lượng lớn người lao động, tính riêng tại thị trường Việt Nam, đến tháng 02/2012 có khoảng 1.5 triệu lao động đang hoạt động logistics (“Ngành Logistics đang thiếu nguồn lực nghiêm trọng”, vietnamshipper.com, 14/02/2012), giúp giảm rõ rệt tình trạng thất nghiệp trong xã hội

Vai trò cuối cùng, đối với Việt Nam mà nói, ngành giao nhận còn rất nhỏ bé so với Thế giới Bởi lẽ điều kiện vật chất, kĩ thuật không có nên nhà xuất nhập khẩu Việt Nam thường chọn phương thức xuất FOB, nhập CIF, điều này vô tình cũng là một yếu tố cản trở sự phát triển ngành vận tải Việt Nam Lúc này, từng bước thúc đẩy, hoàn thiện công tác giao nhận vận tải là đã đóng góp vào mục đích nâng cao sức mạnh, vị thế cạnh tranh ngành giao nhận trong nước, đồng thời sẽ dần cải tiến vật chất kĩ thuật, cơ sở hạ tầng cho đội tàu vận chuyển, kho cảng…Bên cạnh đó, sử dụng dịch vụ nước nhà phần nào giảm thiểu chi phí xuất nhập khẩu cho thương nhân Việt Nam, bán CIF, nhập FOB đương nhiên sẽ mang lại lợi nhuận cao hơn đồng thời giành lại cho họ thế chủ động trong mua bán quốc tế

1.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh dịch vụ giao nhận hàng hóa xuất nhập khẩu tại doanh nghiệp

1.2.1 Các yếu tố bên ngoài

1.2.1.1 Yếu tố chính trị - pháp luật của nhà nước

Các quyết định chiến lược, hoạt động của một doanh nghiệp thường chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của những diễn biến trong môi trường chính trị - pháp luật Môi trường này được hình thành từ cơ quan nhà nước các cấp, các nhóm áp lực và từ hệ thống pháp luật của quốc gia Các lực lượng này điều chỉnh hoạt động của các doanh nghiệp theo đúng khuôn khổ cho phép của pháp luật

Hệ thống pháp luật của một quốc gia bao gồm : Hiến pháp, các đạo luật như dân

sự, luật doanh nghiệp, luật thương mại, luật thuế thu nhập doanh nghiệp, luật thuế giá trị gia tăng, luật đầu tư nước ngoài, …các pháp lệnh như pháp lệnh quảng cáo, pháp lệnh vệ sinh an toàn thực phẩm…các nghị định của chính phủ và các chỉ thị thông tư của các cơ quan trực thuộc chính phủ như các Bộ, chính quyền địa phương…

Trang 19

Trang 8

Môi trường chính trị - pháp luật có 3 chức năng chủ yếu, thứ nhất là bảo vệ quyền lợi các công ty trong quan hệ với nhau, thứ hai là bảo vệ người tiêu dùng tránh được các kinh doanh gian dối của doanh nghiệp, thứ ba là bảo vệ lợi ích rộng lớn của xã hội tránh khỏi những hành vi kinh doanh sai lệch

Hoạt động của toàn ngành Giao nhận nói chung cũng chịu ảnh hưởng bởi các yếu tố thuộc môi trường vĩ mô này Nếu nhà nước có những chính sách hỗ trợ tích cực như : mở cửa kinh tế, tự do mua bán thương mại, gỡ bỏ hàng rào thuế quan, khuyến khích xuất nhập khẩu với những mức thuế ưu đãi… sẽ tạo động lực cho các doanh nghiệp xuất nhập khẩu mở rộng kinh doanh, đó cũng chính là cơ hội cho ngành giao nhận phát huy hết khả năng, lợi thế cũng như hoàn thiện hơn nữa hoạt động của ngành

Việc hiểu rõ và nắm bắt kịp thời các chính sách của nhà nước giúp doanh nghiệp tận dụng hết những cơ hội giảm chi phí hoạt động, từ đó giảm giá dịch vụ cho khách hàng, nâng cao hiệu quả giao nhận, thông quan hàng hóa trong diện chính sách,… Bên cạnh đó, Công ty chắc chắn sẽ còn nhận được sự đánh giá cao từ khách hàng bởi tính chuyên nghiệp và mức độ am hiểu, cập nhật thông tin chính xác của mình

Tuân thủ pháp luật cũng là vấn đề được đặt lên hàng đầu đối với bất kỳ một tổ chức hay một cá nhân nào Sai phạm về luật, điều đó không chỉ ảnh hưởng đến uy tín thương hiệu của Công ty mà có thể dẫn đến việc bị tước giấy phép kinh doanh, cấm hoặc đình chỉ kinh doanh – một điều mà không một doanh nghiệp nào mong muốn Công ty cần thiết phải nắm rõ các điều khoản luật định có liên quan và cập nhật điều khoản đổi mới, điều khoản bổ sung kịp thời để thực hiện đúng, hoặc nhắc nhở khách hàng của mình tránh mắc phải các sai phạm đáng tiếc gây cản trở quá trình xuất nhập hàng, nghiêm trọng hơn là ảnh hưởng đến cả hợp đồng kinh doanh với đối tác của họ

1.2.1.2 Sự phát triển của kinh tế

“Môi trường kinh tế bao gồm những yếu tố tác động đến khả năng chi tiêu của khách hàng và tạo ra những tiêu dùng khác biệt” (Nhóm biên soạn trường Đại học kinh tế tp.HCM, “Marketing căn bản”, NXB Lao Động, 2010, -32-) Đối với hoạt động của ngành giao nhận hàng hóa xuất nhập khẩu thì yếu tố này đặc biệt đóng vai trò quan trọng Kinh tế phát triển thể hiện qua sự gia tăng và đẩy mạnh kinh doanh trong nước (tự sản xuất hoặc nhập khẩu) và quốc tế (xuất khẩu) của doanh nghiệp Và dù phát triển theo hướng nào, giao nhận hàng hóa cũng gần như phụ thuộc hoàn toàn vào hoạt động của các thành phần này Hơn thế nữa, việc xác định

Trang 20

Nền kinh tế Việt Nam từ sau gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới WTO đã

có nhiều bước phát triển vượt bậc khi đã tận dụng và khai thác khá thành công các lợi ích và cơ hội, gặt hái được nhiều thành tựu quan trọng về phát triển kinh tế, đặc biệt là tốc độ tăng trưởng kinh tế cao và đứng trong số ít nước duy trì được mức tăng trưởng GDP cao nhất Thế giới (8.5% năm 2007, 6.2% năm 2008) (theo “Kinh

tế Việt Nam sau gia nhập WTO”, Phạm Quốc Trụ, 09/2012), thậm chí mặc dù bị ảnh hưởng nặng nề của cuộc khủng hoảng tài chính – kinh tế toàn cầu vừa qua và trong khi phần lớn các nền kinh tế trên thế giới rơi vào suy thoái thì nền kinh tế Việt Nam vẫn duy trì được mức tăng trưởng 5.2%(2010), 5.69%(2011)

Trong hai năm 2007 và 2008 mức tăng xuất nhập khẩu của Việt Nam đạt bình quân khoảng 25%/năm, sụt giảm 12% vào năm 2009 do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế năm 2008 và tăng mạnh trở lại vào năm 2010 với 23,6% và 2011 là 33.3% đối với xuất khẩu, 24.7% đối với nhập khẩu

Và năm 2012, theo số liệu thống kê của Tổng cục Hải quan, tính đến hết quý I/2012, tổng trị giá xuất nhập khẩu của cả nước là 49.39 tỷ USD, tăng 13.7% so với cùng kỳ năm trước, trong đó xuất khẩu là 24.81 tỷ USD, tăng 24.2% và nhập khẩu

1.2.1.3 Sự phát triển của khoa học kĩ thuật ngành vận tải giao nhận

Yếu tố khoa học kĩ thuật luôn đi cùng bất kể một ngành nghề kinh doanh nào

Và ngành giao nhận vận tải thì gắn liền với cảng, tàu, phương tiện vận chuyển, thiết bị hỗ trợ bốc dỡ, kiểm tra, thông quan hàng hóa, … Càng áp dụng khoa học kĩ thuật tiên tiến thì hoạt động ngành càng trở nên dễ dàng hơn, thuận tiện, tiết kiệm thời gian và hiệu quả cũng tăng lên đáng kể

Trang 21

Trang 10

Ngay từ những năm đầu xuất hiện (Năm 1522, hãng giao nhận đầu tiên trên thế giới đã xuất hiện ở Badiley – Thụy Sĩ với tên gọi là E.Vasnai) giao nhận vận tải hoạt động bằng những phương tiện vận chuyển lạc hậu, quãng đường vận chuyển ngắn đến nay đã phát triển với đa dạng loại hình, đặc biệt vận chuyển container ra đời đánh dấu một bước ngoặt thay đổi lớn cho ngành vận tải giao nhận trên toàn cầu Hoặc có thể kể đến tiến bộ trong khai báo hải quan, thay vì phải khai báo trực tiếp thì nay người giao nhận có thể thực hiện khai báo hải quan điện tử - một hình thức tiết kiệm tối đa thời gian, chi phí và linh hoạt hơn cho các bên sử dụng dịch

vụ Vậy, có thể nói rằng, khoa học kĩ thuật ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng cũng như chất lượng hoạt động ngành giao nhận hàng hóa Muốn phát triển ngành phải đẩy mạnh hiện đại hóa cơ sở vật chất cũng như áp dụng khoa học tiên tiến vào quy trình làm việc và hoạt động mỗi ngày

Đối với Việt Nam, nhìn chung ngành vận tải giao nhận còn non kém so với sự phát triển của ngành giao nhận Thế giới, cơ sở hạ tầng chưa được đầu tư thỏa đáng, khoa học kỹ thuật lạc hậu, điều đó ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng hoạt động giao nhận hàng hóa của toàn ngành

Không phải tự nhiên mà các nhà xuất khẩu lựa chọn phương thức xuất FOB, các nhà nhập khẩu chọn nhập CIF để làm tăng thêm chi phí hợp đồng Khi mà điều kiện hoạt động không có khiến cho họ có tâm lý lo sợ rủi ro, nghi ngại về chất lượng dịch vụ của vận tải giao nhận trong nước, các nhà xuất nhập khẩu Việt Nam thường ủy quyền phần vận tải chuyên chở sang cho đối tác nước ngoài để đảm bảo

an toàn dù có phải tốn thêm một khoản không nhỏ, hay điều đó làm độn giá thành sản phẩm của họ lên cao hơn

Vấn đề yếu kém do cơ sở vật chất thể hiện rất rõ như : các cảng đang trong quá trình container hóa nhưng chỉ có thể tiếp nhận các đội tàu nhỏ và chưa được trang

bị các thiết bị xếp dỡ container hiện đại, còn thiếu kinh nghiệm trong điều hành và xếp dỡ container Khả năng bảo trì và phát triển đường bộ còn thấp, đường không được thiết kế để vận chuyển container, các đội xe tải chuyên dùng hiện đang lạc hậu, năng lực vận tải đường sắt không được vận dụng hiệu quả do chưa được hiện đại hóa Đường hàng không hiện nay cũng không đủ phương tiện chở hàng (máy bay) cho việc vận chuyển vào mùa cao điểm

Do vậy mà doanh nghiệp khi muốn cải tiến chất lượng dịch vụ giao nhận hàng hóa trong khi còn phụ thuộc rất nhiều vào cơ sở hạ tầng của toàn ngành, cần thiết phải có những phương hướng chung tay xây dựng nền tảng vật chất kỹ thuật, hệ thống cầu cảng, kho bãi mới mong đáp ứng toàn diện tốc độ phát triển, nhu cầu tăng mạnh của người kinh doanh xuất nhập khẩu hiện nay

Trang 22

Trang 11

1.2.1.4 Sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong ngành

Doanh nghiệp khi tham gia vào môi trường kinh doanh luôn ý thức được tầm quan trọng của tên tuổi, thương hiệu và vị thế cạnh tranh trong ngành của mình Ngoại trừ những ngành kinh doanh độc quyền (hầu hết là chỉ chịu sự chi phối của nhà nước) thì không một ngành nào thoát khỏi sự cạnh tranh gay gắt Ngay cả khi doanh nghiệp đã thực sự có được một “chỗ đứng” trên thị trường cũng phải luôn cải tiến không ngừng vì lo sợ bị thay thế bởi một tổ chức kinh doanh khác Và một điều thực tế rằng, doanh nghiệp càng có vị thế cạnh tranh, càng dễ hoạt động và thu hút khách hàng hơn những doanh nghiệp khác

Châm ngôn vốn có câu “Thương trường là chiến trường”, câu nói này quả nhiên đúng từ trước đến nay Giữa các doanh nghiệp luôn diễn ra những trận chiến âm thầm, họ giành nhau khách hàng, giành nhau thị phần, giành nhau những cơ hội,…các “trận chiến” này đôi khi cũng vô cùng khốc liệt khiến doanh nghiệp phải cạnh tranh trong tình huống đối đầu để duy trì sự phát triển và tăng lợi nhuận Và

ở môi trường kinh doanh cạnh tranh càng lớn thì doanh nghiệp càng khó “sống” nếu không có những nỗ lực thực sự

Theo quan điểm của Michael Porter, điều quan trọng đối với bất kỳ một tổ chức kinh doanh nào là xây dựng cho mình lợi thế cạnh tranh bền vững, có nghĩa là doanh nghiệp phải liên tục cung cấp cho thị trường một giá trị đặc biệt mà không

có đối thủ cạnh tranh nào có thể cung cấp được

Ngành giao nhận cùng với sự gia tăng lượng hàng hóa xuất nhập khẩu, đã có ngày càng nhiều các công ty tham gia vào, tại Việt Nam hiện nay có ít nhất 300.000 doanh nghiệp đang kinh doanh dịch vụ Logistics (theo thông tin từ Viện nghiên cứu & phát triển Logistics Việt Nam) Do vậy, trên thị trường luôn tồn tại một sự cạnh tranh gay gắt Phần lớn các doanh nghiệp đều có hạ tầng cơ sở vật chất tương đồng nhau, cái khác chăng còn lại là chất lượng phục vụ và giá cả giao dịch Khách hàng khi lựa chọn và sử dụng dịch vụ sẽ đưa ra nhiều tiêu chí để so sánh giữa các công ty giao nhận với nhau Lượng công ty càng nhiều, khách hàng

có muôn vàn những lựa chọn, điều đó yêu cầu công ty phải cải tiến chất lượng liên tục để theo kịp đà phát triển của thị trường và giữ chân khách hàng của mình Hiện nay ngành vận tải giao nhận Việt Nam cũng gặp những khó khăn và thách thức mới từ sức ép cạnh tranh không chỉ ở thị trường nội địa mà ở cả thị trường quốc tế, khi sự độc quyền trong ngành không còn tồn tại và ngày càng nhiều các doanh nghiệp nước ngoài cùng ngành nghề có lợi thế về kinh nghiệm, uy tín và điều kiện kỹ thuật tham gia vào thị trường Việt Nam Thị phần hoạt động của các doanh nghiệp vận tải giao nhận so với nước ngoài còn rất nhỏ bé, năng lực cạnh

Trang 23

Trang 12

tranh thấp Vì vậy, toàn ngành giao nhận Việt Nam nói chung cần có sự nỗ lực xây dựng, hiện đại hóa cơ sở hạ tầng đồng thời nâng cao nghiệp vụ chuyên môn để sớm bắt kịp và chống chọi lại sức ép phát triển của thị trường quốc tế

1.2.1.5 Nhu cầu của khách hàng về dịch vụ giao nhận

Theo định nghĩa của Philip Kotler : “Nhu cầu là cảm giác thiếu hụt một cái gì đó

mà con người cảm nhận được” (TS.Nguyễn Thị Minh Lý, “Giáo trình Nguyên lý Marketing”, ĐH Tôn Đức Thắng) Đây là yếu tố có tác động rất lớn đến hoạt động của doanh nghiệp Khách hàng tìm đến là những người đang có nhu cầu, cần được thỏa mãn Bản thân doanh nghiệp phải hiểu khách hàng của mình muốn gì, cần gì thì mới có thể phục vụ tốt, tạo cảm nhận tốt đối với họ Ngược lại, không nắm rõ

và đáp ứng đúng nhu cầu của khách hàng, doanh nghiệp sẽ dần đánh mất hình ảnh

và vô tình sẽ tự dâng khách hàng cho đối thủ của mình

Thực tế cho thấy, không một doanh nghiệp nào có khả năng thỏa mãn đầy đủ tất

cả các yêu cầu của khách hàng Thường thì doanh nghiệp có lợi thế về mặt này lại

có hạn chế về mặt khác Vấn đề cơ bản là, doanh nghiệp phải nhận biết được điều này và cố gắng phát huy tốt nhất những điểm mạnh mà mình đang có để đáp ứng tốt nhất những đòi hỏi của khách hàng Thông qua nhu cầu của khách hàng, doanh nghiệp có thể tận dụng được lợi thế theo quy mô, từ đó cải thiện các hoạt động kinh doanh và dịch vụ của mình Nhu cầu của khách hàng còn gợi mở doanh nghiệp để phát triển các loại hình dịch vụ mới Các loại hình này có thể được phát triển rộng rãi ra thị trường bên ngoài và khi đó doanh nghiệp sẽ là người trước tiên

có lợi thế cạnh tranh

Hoạt động mua bán ngoại thương hiện nay đang là một xu hướng nóng, ngày càng phát triển và được khẳng định rõ nét qua việc phạm vi hoạt động đã được mở rộng hơn ở khắp năm châu Về phương thức mua bán, vận tải cũng trở nên đa dạng hơn, các bên tham gia hợp đồng thương mại có thể lựa chọn vận chuyển bằng đường bộ, đường biển hoặc đường hàng không tùy thuộc vào tính chất hàng hóa và nhu cầu của các bên Ngành giao nhận gắn liền với hoạt động xuất nhập khẩu cũng

từ đó mà phát triển đa dạng hơn để phù hợp và phục vụ tốt hơn nữa khách hàng của mình

Dịch vụ giao nhận hàng hóa ngày nay chẳng còn đơn thuần là việc làm thủ tục xuất nhập khẩu, gom hàng, gửi hàng như trước đây mà đã hoàn thiện rất nhiều khi

có thể đảm nhận toàn bộ các khâu, các công đoạn của công việc mua và bán hàng giữa hai quốc gia khác nhau, đảm bảo nguồn hàng được giao nhận thỏa yêu cầu

“door to door” của người kinh doanh ngoại thương

Trang 24

Trang 13

Khi có nhu cầu về giao nhận hàng hóa, khách hàng có thể chọn một trong muôn vàn những công ty giao nhận ở thị trường trong nước lẫn quốc tế, vì thế mà hoạt động kinh doanh giao nhận của Công ty chịu áp lực bởi vấn đề có đáp ứng được mọi yêu cầu dịch vụ của khách hàng hay không Một khi hoạt động dịch vụ của Công ty có khả năng đáp ứng đầy đủ và chất lượng các mong muốn của khách hàng, thì Công ty đã thực sự gầy dựng được uy tín và thương hiệu của mình, ngược lại, việc cung không thỏa cầu của người sử dụng dịch vụ sẽ tạo cảm nhận không tốt

về chất lượng phục vụ của Công ty

1.2.2 Các yếu tố bên trong doanh nghiệp

1.2.2.1 Cơ sở vật chất kĩ thuật của công ty

Cơ sở vật chất kỹ thuật chính là tài sản cố định của công ty, là nền tảng ban đầu của hầu hết các tổ chức, doanh nghiệp khi tham gia vào thị trường kinh doanh Hạ tầng ban đầu đối với một công ty giao nhận có thể là văn phòng đại diện, đội xe chuyên vận, kho bãi lưu giữ hàng hóa, thiết bị phục vụ việc bốc xếp hàng hóa, thiết

bị kiểm tra và đóng mở container, …

Khách hàng lựa chọn Công ty giao nhận sẽ có thể dựa vào nhiều tiêu chí khác nhau, trong đó yếu tố đầy đủ, đảm bảo về phương tiện kỹ thuật hiện đại là một chỉ tiêu không thể bỏ qua Một điều đương nhiên dễ chấp nhận đó là, một công ty với máy móc thiết bị lỗi thời bao giờ cũng làm việc chậm chạp và thiếu tính an toàn hơn công ty có trang bị đầy đủ nguồn năng lực kỹ thuật tiên tiến

Do vậy có thể nói cơ sở vật chất tác động trực tiếp đến hoạt động và chất lượng dịch vụ, tuy nhiên, riêng với nghiệp vụ giao nhận, doanh nghiệp có thể trực tiếp thực hiện hoặc thuê ngoài Song, vì hiện nay trên thị trường có quá nhiều đối thủ, việc tự sắm sửa thiết bị phục vụ cho hoạt động sẽ giúp nâng cao hiệu quả công việc cũng như tăng vị thế cạnh tranh cho Công ty

1.2.2.2 Cơ cấu tổ chức hoạt động của doanh nghiệp

Vấn đề xây dựng cơ cấu hệ thống của một tổ chức là yếu tố tác động trực tiếp đến hiệu quả hoạt động của tổ chức đó Không phải ngẫu nhiên mà các công ty sẵn sàng bỏ ra đến hàng ngàn USD để có được những nhà lãnh đạo hàng đầu chỉ để tái thiết cơ cấu tổ chức hoạt động của một doanh nghiệp Mấu chốt của việc hoạch định nằm ở yếu tố các nhà đầu tư tin tưởng rằng, với một bộ máy hoạt động mạnh

mẽ, đủ lực, cùng quy trình quản lý thông minh, đồng nhất sẽ là nền tảng vững chắc cho mọi thành công của doanh nghiệp “Các thiết kế được đưa ra không chỉ trình bày những sơ đồ tổ chức, chú trọng đến các mối quan hệ báo cáo thông thường,

Trang 25

Trang 14

chức danh công việc, trách nhiệm và thẩm quyền mà còn vạch rõ chiến lược của một tổ chức, sự định hình quá trình hoạt động, sự tác động đến hiệu quả công việc cũng như sự ảnh hưởng đến những giá trị tổ chức sẽ phát triển cùng với thời gian” (Allan R.Cohen, “MBA trong tầm tay – Quản trị kinh doanh”, - 265 - )

Bản chất của việc xây dựng cơ cấu tổ chức là để doanh nghiệp hoạt động có một trình tự nhất định Người lao động sẽ xác định được phạm vi, quyền hạn và trách nhiệm công việc mình làm hoặc khi gặp vấn đề xảy ra sẽ báo cáo cho ai, tham mưu với ai để giải quyết vấn đề, …Một tổ chức có cơ cấu càng đơn giản, càng thống nhất thì hoạt động cũng sẽ nhanh và hiệu quả hơn rất nhiều

Bởi lẽ không một bộ phận nào trong công ty bạn có thể tách rời hoạt động của

nó với các phòng ban khác Đối với công việc giao nhận hàng hóa thì càng phải có một sự phối hợp chặt chẽ giữa các bộ phận chức năng với nhau, phòng kinh doanh, chăm sóc khách hàng, bộ phận chứng từ, bộ phận giao nhận, cuối cùng là bộ phận

kế toán, một lô hàng thực hiện giao dịch tại công ty ít nhất phải có sự can thiệp của các bộ phận trên, do vậy, phân công và phân quyền rõ ràng là yếu tố cơ bản giúp các phòng có trách nhiệm hơn đối với công việc của mình

Cơ cấu tổ chức là cái “sườn” để doanh nghiệp vẽ lên kế hoạch hoạt động cụ thể trong các chiến lược, mục tiêu đề ra Mỗi một bước hoạch định, nhà lãnh đạo sẽ xác định rõ ràng bộ phận nào sẽ tham gia và thời gian cho công đoạn đó là bao lâu

Do vậy, nói rằng cơ cấu tổ chức ảnh hưởng đến cả chiến lược phát triển, đi cùng sự tồn tại của tổ chức là không hề sai Thật lý tưởng khi cấu trúc tổ chức phù hợp với môi trường và chiến lược của tổ chức đó, nó có thể giúp doanh nghiệp hoàn thành được mục tiêu của mình

Các yếu tố của cấu trúc bao gồm :

- Thành lập nên các tiểu đơn vị như các bộ phần hoặc phân khu

- Phân cấp quản lý nhằm định rõ quyền hạn

- Các cơ chế kết nối như các ủy ban và những bộ phận chuyên trách nhằm bảo đảm các nhóm này cùng phối hợp với nhau

Vậy, muốn “xây nhà” trước tiên phải “đổ móng”, doanh nghiệp muốn hoạt động tốt phải thiết lập ngay từ đầu cho mình một cơ cấu tổ chức chặt chẽ, rõ ràng, thể hiện được các mối liên hệ mật thiết và thống nhất với nhau

1.2.2.3 Nguồn nhân lực hiện hữu của doanh nghiệp

“Con người là xương sống của thiết kế tổ chức vì nếu hoàn thành công việc hay nhiệm vụ, họ sẽ giúp tổ chức đạt được thành công trong việc đạt được chiến lược

đề ra” (Allan R.Cohen, “MBA trong tầm tay – Quản trị kinh doanh, - 265 -) Quả

Trang 26

Trang 15

thật vậy, mọi thành tựu và vinh quang mà doanh nghiệp có được đều do chính những con người trong cộng đồng doanh nghiệp ấy cùng chung sức tạo ra Họ chính là thành phần nòng cốt, nếu ví nguồn tài chính, tiền tệ của doanh nghiệp là máu thì con người trong tổ chức chính là khí Ôxi giúp dòng máu lưu thông mạch lạc và tạo nên quần thể công ty sống, phát triển không ngừng

Yếu tố con người do vậy gắn liền với mọi hoạt động của một tổ chức Hiệu quả của công việc tác động lên hiệu quả chung của cả doanh nghiệp đến từ ý thức và trình độ chuyên môn nghiệp vụ của nhân viên thực hiện Hơn nữa, sử dụng nguồn lực với sự phân bổ hợp lý sẽ giúp các nhà lãnh đạo tận dụng tối đa những tiềm năng mình đang có, giảm thiểu hao phí lao động Lượng nhân sự mà công ty đang

sử dụng cũng phản ánh khá tốt quy mô hoạt động của doanh nghiệp, vì thế, để xem xét tính hiệu quả trong vấn đề sử dụng nhân lực cho hoạt động của tổ chức, phải bàn đến cả “lượng” và “chất” của nguồn nhân lực đó

Về số lượng nhân sự

Với khối lượng công việc cụ thể, nhà lãnh đạo phải phân công công việc đó một cách hợp lý cho số nhân viên cần thiết của mình Việc đánh giá được có bao nhiêu công việc cần làm, và cần bao nhiêu nhân công thì đủ là một điều không khó nhưng cũng không hề dễ dàng Khối lượng công việc quá tải sẽ khiến nhân viên bị

áp lực đôi khi là bất mãn, dẫn đến hiệu quả làm việc không cao Ngược lại, sự nhàn rỗi dễ dẫn đến tâm lý lười biếng, không tích cực làm việc ở người lao động, hơn nữa gây tốn chi phí nhân công không hợp lý cho doanh nghiệp Phải qua kinh nghiệm và một thời gian nhìn nhận về quá trình hoạt động, kết quả đạt được thì nhà lãnh đạo mới có thể phân bổ một cách tốt nhất nguồn lực này của mình

Về trình độ chuyên môn nghiệp vụ của cán bộ nhân viên

Đây cũng là một trong yếu tố chủ đạo ảnh hưởng đến chất lượng hoạt động dịch

vụ giao nhận tại doanh nghiệp Theo Susan J.Lindner, người sáng lập và là CEO của Lotus Public Relations thì : Sản phẩm + Chuyên môn + Uy tín = Thương hiệu Quan điểm này hoàn toàn đúng, trình độ chuyên môn của mỗi nhân viên được biểu hiện rõ trong từng khâu làm việc cụ thể, do vậy có tính quyết định trực tiếp đến kết quả hoạt động, doanh thu hoạt động của tổ chức

Chuyên môn là yếu tố vô hình nhưng lại rất dễ dàng nhìn thấy được, khách hàng

sử dụng dịch vụ tại doanh nghiệp có thể đánh giá năng lực phục vụ của mỗi cán bộ nhân viên trong tổ chức thông qua cách thức và thái độ làm việc của họ Cùng với

Trang 27

Chính sách đãi ngộ của công ty giành cho nhân viên

Việc sở hữu những nhân tài luôn là khao khát của các nhà tuyển dụng, “săn” được họ cũng không dễ dàng gì, do vậy công ty cần thiết phải có những chính sách giữ chân tích cực mới mong họ tiếp tục ở lại và tiếp tục hết mình với tổ chức “Các nghiên cứu về chi phí thay đổi nhân sự rất đa dạng tin rằng, nếu một quản lý bỏ công ty, thì sẽ tốn ít nhất 150% lương hàng năm của người đó để tìm người thay thế” (William J.Rothwell, “Các chiến lược phát triển nhân tài nhanh chóng và hiệu quả”, - 228-) Chẳng hề vô lý chút nào khi nói thế, để có được một nhân tài đã thích ứng với môi trường, văn hóa làm việc nội tại thì doanh nghiệp phải trải qua

cả một quá trình tuyển dụng, chọn lựa và đào tạo lâu dài, chi phí bỏ ra là không hề nhỏ thế nhưng xác suất để người mới bằng người cũ còn tùy thuộc vào “duyên số” của doanh nghiệp, đôi khi chi phí bỏ ra còn không nhận đúng lại giá trị của nó Ngày nay, cũng khá nhiều các công ty đã nhận ra rằng, những lời khen về tinh thần hay những khoản thưởng đãi về vật chất dù nhỏ cũng là tạo sự khuyến khích, niềm động viên lớn lao làm gia tăng nhiệt huyết làm việc, thúc đẩy tính sáng tạo và hiệu quả làm việc của nhân viên, từ đó các cá nhân hoạt động trong tổ chức luôn cảm thấy mình được công ty quan tâm và coi trọng thì sẽ mãi trung thành, đi cùng với sự tồn tại hay thành bại của tổ chức “Năng lực của nhân viên phụ thuộc vào các kỹ năng được phát triển thông qua những chương trình đào tạo và huấn luyện Tuy nhiên, mức cố gắng dành cho công việc lại phụ thuộc vào các chế độ đãi ngộ của công ty cũng như phụ thuộc vào hy vọng họ sẽ có thể thành công và được đối

xử công bằng” (Allan R.Cohen, “MBA trong tầm tay – Quản trị kinh doanh”, - 315 -)

Vấn đề lương thưởng, khoản đãi sẽ càng tạo được hiệu ứng thúc đẩy công việc hơn nữa nếu đó là những buổi tiệc, du lịch có tất cả nhân viên cùng tham gia Những chuyến đi như thế sẽ gắn kết các cá nhân trong tổ chức lại với nhau, để họ luôn hiểu và hợp tác với nhau ăn ý hơn nữa trong công việc, công ty sẽ như một ngôi nhà thứ hai để những con người nơi đây luôn cảm nhận mình được sống, làm

Trang 28

1.2.2.4 Cách thức tổ chức hoạt động kinh doanh dịch vụ giao nhận của

doanh nghiệp

“Hoạt động là quá trình mà thông qua đó các công ty tạo ra và chuyển giao giá trị Các quá trình đó thể hiện các năng lực và quyết định vị thế của công ty trong tương lai” (Nhóm tác giả biên soạn, “MBA trong tầm tay – Tổng quan”, NXB Tổng hợp Tp.HCM, -151-) Có thể nói rằng hiệu quả kinh doanh và tầm vóc mà tổ chức đang vươn tới sẽ được quyết định bởi cách thức hoạt động mà tổ chức đó lựa chọn

Đối với loại hình kinh doanh dịch vụ mà các công ty giao nhận đang hướng tới thì vấn đề lựa chọn cách thức hoạt động càng trở nên quan trọng Vì nhiều các nhân tố ảnh hưởng trực tiếp như cơ sở vật chất, nguồn vốn kinh doanh, nguồn nhân lực mà doanh nghiệp có thể lựa chọn hình thức trực tiếp thực hiện dịch vụ hoặc thuê ngoài

Nếu được trang bị đầy đủ trang thiết bị và điều kiện để tự thân thực hiện toàn bộ các dịch vụ cung ứng, doanh nghiệp sẽ hoàn toàn chủ động trong mọi tình huống kinh doanh của mình, quy mô và hình ảnh thương hiệu trong mắt khách hàng cũng

vì thế mà được củng cố hơn rất nhiều

Ngược lại, thuê ngoài cũng là một cách thức mà phần lớn các công ty nhỏ và vửa trên thị trường Việt Nam hiện nay đang lựa chọn Với nguồn vốn kinh doanh nhỏ, các doanh nghiệp này lựa chọn cách mua bán giá cước, chủ yếu ở nghiệp vụ vận tải hàng hóa quốc tế và nội địa Điều này làm ảnh hưởng đến khả năng phát triển cũng như tính chủ động trong mọi thời điểm của doanh nghiệp, hoạt động vì thế mà không mang lại hiệu quả cao

Trang 29

Trang 18

thời gian suy nghĩ và nghiên cứu cũng chưa chắc đạt được trước khi đưa vào sản phẩm của mình Để đánh giá chất lượng của một hàng hóa nào đó phải dựa vào nhiều tiêu chí, các chỉ tiêu đánh giá cũng khác nhau ở việc sản phẩm đó là hàng hóa hay là dịch vụ Chất lượng hàng hóa được đánh giá bằng chỉ tiêu kỹ thuật cụ thể, còn chất lượng dịch vụ đến từ cảm nhận của khách hàng, người quyết định kết quả đánh giá chất lượng là khách hàng

Theo nghiên cứu do tiến sĩ Leonard Berry và các đồng nghiệp của ông tại Đại học Texas A & M đã phát minh ra rằng, chất lượng dịch vụ thường được khách hàng đánh giá thông qua năm tiêu chí xếp hạng RATER như : Sự đáng tin cậy, Sự đảm bảo, Tính hữu hình, Sự đồng cảm và Sẵn sàng đáp ứng

Sự đáng tin cậy phản ảnh tính nhất quán và mức độ đáng tín nhiệm về dịch vụ của Công ty Cho dù khách hàng sử dụng dịch vụ chuẩn bị hồ sơ chứng từ xuất nhập khẩu hay thông quan hàng hóa, vận chuyển hàng hóa, … thì mọi thao tác thực hiện phải hạn chế được tối đa sai sót, đúng thời gian và không làm tổn thất thêm bởi các chi phí vô lý khác

Một yếu tố quan trọng để khách hàng đưa đến quyết định có lựa chọn dịch vụ của Công ty hay không đó là tính đảm bảo Điều này thể hiện ở sự hiểu biết về sản phẩm, hiểu biết về công ty, kỹ năng lắng nghe, kỹ năng giải quyết vấn đề của người phục vụ bao gồm cả các yếu tố nghiệp vụ và cơ sở vật chất kỹ thuật của doanh nghiệp

Dịch vụ là yếu tố vô hình, cho nên khách hàng ở mức độ nào đấy sẽ dựa vào yếu

tố hữu hình là môi trường phục vụ, trong đó bao gồm cơ cấu, thiết bị, ngoại hình của nhân viên phục vụ để đưa ra đánh giá phán đoán Môi trường hữu hình là biểu hiện hữu hình đòi hỏi nhân viên phục vụ tiến hành chăm sóc và quan tâm chu đáo đối với khách hàng

Sự đồng cảm thể hiện ở độ quan tâm, chăm sóc của người giao nhận và các bộ phận có liên quan đến hàng hóa của khách hàng Người làm dịch vụ phải đặt mình vào vị trí của khách hàng để có sự cần mẫn đúng nghĩa, bảo quản tốt nhất cho chất lượng cũng như số lượng hàng Đặc biệt là luôn quan tâm, bảo vệ cho lợi ích của khách hàng khi có tranh chấp xảy ra

Sự sẵn sàng đáp ứng phản ảnh mức độ thực hiện lời hứa phục vụ của doanh nghiệp, đề cập đến ý nguyện và tính tự giác phục vụ của nhân viên Có khi khách hàng cảm thấy bối rối, khó khăn trong việc lựa chọn dịch vụ hay không rõ các điều kiện cần thiết để phục vụ nhu cầu của mình Lúc này đây sự tận tình, sẵn sàng tư vấn, giúp đỡ khách hàng sẽ được ghi nhận và đánh giá cao về chất lượng dịch vụ của doanh nghiệp

Trang 30

Trang 19

1.3.2 Mức độ hài lòng của khách hàng

Có nhiều quan điểm khác nhau về sự thỏa mãn của khách hàng “Sự thỏa mãn của khách hàng là phản ứng của họ về sự khác biệt cảm nhận giữa kinh nghiệm đã biết và sự mong đợi” (Parasuraman & ctg, 1988 ; Spreng & ctg, 1996 ; Terry,2002) Còn theo Kotler & Keller (2006), sự thỏa mãn là mức độ của trạng thái cảm giác của một người bắt nguồn từ việc so sánh nhận thức về một sản phẩm

so với mong đợi của người đó Tùy vào kết quả so sánh giữa nhận thức và mong đợi có thể đánh giá được mức độ hài lòng của khách hàng đó ở ba cấp độ : không hài lòng, hài lòng và rất hài lòng (yêu thích)

Và dù xét theo quan điểm nào, ta cũng nhận thấy một điều rõ ràng rằng mức độ hài lòng của khách hàng ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động kinh doanh của một doanh nghiệp “Khách hàng được thỏa mãn là yếu tố quan trọng để duy trì được thành công lâu dài trong kinh doanh và các chiến lược phù hợp nhằm thu hút và duy trì khách hàng” (Zeithaml & ctg, 1996) Do vậy mà, việc thỏa mãn khách hàng trở thành một tài sản quan trọng đối với doanh nghiệp và tổ chức trong nỗ lực nâng cao chất lượng dịch vụ, giữ vững sự trung thành, nâng cao năng lực cạnh tranh của Doanh nghiệp

Mức độ hài lòng của khách hàng được phản ánh qua nhiều yếu tố, trong đó ngoài tính chuyên nghiệp trong hoạt động còn có yếu tố giá cả, sự đa dạng trong dịch vụ cung ứng và thanh toán cũng như chất lượng của các dịch vụ đó Tuy nhiên, “Chỉ thỏa mãn khách hàng vẫn chưa đủ, cần phải khiến khách hàng “vui thích” – khiến họ ngạc nhiên bởi những gì họ cần đã đạt được, thậm chí còn vượt

ra ngoài mong đợi của họ” (Ron Zemke & Kristin Anderson, “Delivering knock your sock off service”, - 13 -) tức là người phục vụ phải chú trọng hơn nữa về thái

độ ứng xử và những yếu tố liên quan đến cảm nhận của khách hàng Đối với những ngành dịch vụ như giao nhận hàng hóa thì càng phải lấy việc thỏa mãn khách hàng làm trọng, bởi bán một hàng hóa vô hình trong thị trường vô vàn người bán là vô cùng khó khăn Làm hài lòng khách hàng là bước đệm quan trọng nhất để doanh nghiệp bước đến thành công

Để đo lường được mức độ hài lòng của khách hàng, ngày nay hầu hết các doanh nghiệp sử dụng phương pháp khảo sát Việc lựa chọn hình thức khảo sát, xây dựng bảng hỏi cũng như thang đo sẽ cụ thể theo từng ngành nghề và tính chất khách hàng của từng công ty

Ưu điểm của phương pháp khảo sát : Công ty có thể lựa chọn nhóm khách hàng khảo sát mục tiêu cho mình, thông qua bảng hỏi có thể nắm được khá nhiều thông

Trang 31

tế cho doanh nghiệp

1.3.3 Sự phát triển số lƣợng khách hàng của doanh nghiệp

Một công ty, một tổ chức để tồn tại lâu dài trên thị trường nào bắt buộc phải vận động và phát triển theo sự phát triển chung của thị trường đó Một trong những tiêu thức đánh giá sự đi lên của Công ty đó là số lượng khách hàng Lượng khách hàng

sử dụng dịch vụ phải được cải thiện và tăng dần qua từng kỳ kinh doanh mới chứng minh được khả năng “sống” lâu dài của công ty

Khách hàng chính là người mang lại doanh thu cho doanh nghiệp, việc làm thỏa mãn hay hài lòng khách hàng đều nhằm mang lại một mục đích cuối cùng là giữ chân khách hàng cũ, tạo mối quan hệ, uy tín để thu hút thêm nhiều khách hàng mới thông qua xác định các khách hàng trọng tâm của mình

Trên thực tế, ta khó có thể đánh giá được một khách hàng sẽ mang lại cho Công

ty nguồn lợi nhuận là bao nhiêu, bởi những khách hàng hiện tại không chỉ mang lại lợi nhuận trực tiếp mà khách hàng còn là người tuyên truyền, quảng bá hiệu quả nhất cho hình ảnh của Công ty, từ một khách hàng Công ty sẽ có thêm nhiều khách hàng hơn nữa khi có được sự tin tưởng và một mối bang giao tốt với khách hàng hiện tại, doanh thu cũng từ đó mà tăng lên đáng kể Vấn đề đặt ra sẽ còn là : “Làm thế nào để khách hàng giới thiệu thêm bạn bè của họ cho mình?” Theo tác giả Fred Reitheld trong cuốn “Đẩy mạnh doanh thu và nâng cao lợi nhuận” đã chỉ ra rằng, muốn có được sự hài lòng của khách hàng, trước tiên tổ chức phải chinh phục được lý trí (bao gồm vấn đề dịch vụ, chất lượng, giá cả) và sau đó là tình cảm của khách hàng (những cảm nhận thú vị, niềm yêu thích và cả sự tin tưởng) thì việc họ sẵn lòng giới thiệu bạn bè đến cho công ty không còn khó khăn nữa Vậy, quả nhiên không đơn giản để có thể tính hết được chữ “lợi” mà một khách hàng có thể mang lại, doanh nghiệp phải phát triển được số lượng càng nhiều khách hàng mới càng tạo được lợi thế phát triển cho mình

1.3.4 Số lƣợng hàng nhập khẩu

Nếu với công ty mua bán các sản phẩm hàng hóa thông thường thì sẽ cân đo hiệu quả hoạt động của mình qua doanh số bán ra, tuy nhiên đối với công ty dịch

Trang 32

Trang 21

vụ như giao nhận, số lượng hàng nhập khẩu sẽ là một con số phản ánh thực trạng hoạt động kinh doanh Số lô hàng được thông quan và cần đến dịch vụ giao nhận gắn liền với số lượng khách hàng sẵn có “80% lợi nhuận của doanh nghiệp đến từ 20% khách hàng lớn, họ chính là cây hái tiền của bạn” (Lý Tiễn, “Cây tiền”, - 2 -.2011) Việc thống kê số lượng hàng giao nhận đánh giá được tình trạng hoạt động

có thường xuyên hay không của một công ty giao nhận Hơn nữa, những số liệu đưa ra giúp ta nhận định được đâu là những khách hàng thường xuyên, đâu là khách hàng quan trọng của doanh nghiệp để có những chính sách giữ chân khách hàng thích hợp Có thể số lượng khách hàng là không cao nhưng số hàng hóa thông quan là lớn, ngược lại, số khách hàng là nhiều nhưng nếu là khách hàng nhỏ lẻ thì cũng không mang lại cho Công ty nguồn doanh thu đáng kể

Nếu sự gia tăng khách hàng là một con số trừu tượng cho thấy tiềm năng phát triển của doanh nghiệp thì sự gia tăng lượng hàng hóa thông quan là một con số phản ánh trực tiếp hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp đó Đây chính là thông số cấu thành nên doanh thu của doanh nghiệp, do vậy, muốn phát triển công ty thì phải tăng doanh thu, đồng nghĩa với việc phải tăng số lượng hàng giao nhận

1.3.5 Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu hàng năm của doanh nghiệp

Khi nhìn vào quy mô hoạt động và thành quả hoạt động của một doanh nghiệp, mọi người thường nhìn vào doanh thu và lợi nhuận mà công ty đó đạt được Một công ty phát triển có thể không trực tiếp tăng nguồn lợi nhuận trong thời gian ngắn, nhưng về lâu dài, con số thể hiện nguồn tài chính của doanh nghiệp này bắt buộc phải tăng lên mới có thể nói rằng doanh nghiệp này hoạt động thực sự hiệu quả Doanh thu của công ty giao nhận là yếu tố được cấu thành bởi số lượng khách hàng và số lượng hàng giao nhận Tuy nhiên, doanh thu cao không có nghĩa là công ty hoạt động tốt, điều đó phải được tính toán kỹ lưỡng bởi còn có nhiều những chi phí liên quan như : chi phí hoạt động, chi phí lao động, thuế thu nhập doanh nghiệp,…Vậy, muốn đánh giá hiệu quả hoạt động cần tính được tỷ lệ trên một đồng doanh thu mang lại thì doanh nghiệp có bao nhiêu % lợi nhuận trong đó,

và thông số được tính ra chính là tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu mà tổ chức đạt được

Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu (còn gọi là hệ số sinh lời của DN) là tỷ số tài chính dùng để theo dõi tình hình sinh lợi của công ty Nó phản ánh quan hệ giữa lợi nhuận ròng và doanh thu của doanh nghiệp

Công thức tính tỷ số này như sau :

Trang 33

Trang 22

Lợi nhuận ròng (hoặc lợi nhuận sau thuế)

Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu = 100% x

Doanh thu

Thông thường, doanh nghiệp hoạt động đều đặt ra mục tiêu doanh thu cao, qua

đó lợi nhuận sẽ cao dần lên, tuy nhiên, nhà lãnh đạo khôn khéo sẽ tìm cách làm cho

tỷ số lợi nhuận của mình cao hơn nữa qua khai thác nguồn nhân lực hoặc giảm chi phí hoạt động Điều gì sẽ xảy ra nếu thị trường bão hòa, số khách hàng khó có thể tăng lên liên tục và đều đặn qua các năm, điều đó đặt nhà quản lý trong tình huống không biết làm sao để tiền trong túi đầy thêm lên nữa nếu không tính toán cách làm tăng tỷ suất lợi nhuận của mình

Vậy, tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu là con số phản ánh gần như trung thực nhất hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp, nếu con số này có thể tăng lên qua thời gian,

có thể khẳng định rằng, công ty ấy đã hoạt động rất hiệu quả

Tóm tắt Chương 1:

Chương 1 đã nêu lên một số vấn đề căn bản về giao nhận như : Khái niệm giao nhận, quyền hạn trách nhiệm của người giao nhận và các dịch vụ cung ứng thông thường Bên cạnh đó cũng đã làm nổi bật vai trò của hoạt động giao nhận đối với vấn đề phát triển kinh tế xã hội quốc gia hiện nay

Giao nhận cũng như bao ngành khác, chịu sự tác động trực tiếp và gián tiếp bởi các yếu tố thuộc môi trường vĩ mô, vi mô như môi trường kinh tế chính trị, sự phát triển của khoa học kĩ thuật ngành, tính cạnh tranh cũng như nhu cầu, tính chất khách hàng hay những yếu tố nội tại của tổ chức như cơ cấu hoạt động hoặc vấn đề chuyên môn, nguồn lực của tổ chức đó

Có thể đánh giá thực trạng hoạt động của tổ chức giao nhận thông qua các tiêu chí về số lượng hàng giao nhận và tỷ lệ lợi nhuân đạt được Đồng thời có thể xem xét tiềm năng phát triển của doanh nghiệp ở sự gia tăng các chỉ tiêu trên cùng sự lớn mạnh ở số lượng khách hàng, chất lượng dịch vụ cũng như mức độ hài lòng của khách hàng khi sử dụng dịch vụ tại đây

Những yếu tố ảnh hưởng và các tiêu chí đánh giá thực trạng ở chương này sẽ là

cơ sở lý luận để phân tích và kết luận về thực trạng hoạt động kinh doanh dịch vụ giao nhận hàng nhập khẩu tại A.N.T Shipping ở chương 2 và đề ra giải pháp ở chương 3

Trang 34

Trang 23

CHƯƠNG 2 : THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH DỊCH VỤ GIAO NHẬN HÀNG HÓA NHẬP KHẨU TẠI CÔNG TY TNHH DỊCH VỤ VẬN TẢI TÀU BIỂN AN NHƯ THÀNH

2.1 Giới thiệu chung về Công ty TNHH Dịch vụ vận tải tàu biển An Như

Thành

2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển Công ty An Như Thành

Tên Công ty : Công ty TNHH Dịch vụ vận tải tàu biển An Như Thành

Tên giao dịch : A.N.T Shipping Service Co.,LTD (A.N.T Shipping)

Ngày thành lập : Ngày 24 tháng 03 năm 2009

Giấy phép kinh doanh : Số 0309380999/BTC – GPKD ngày 24/03/2009

Ngày 01/08/2010, A.N.T Shipping chuyển về địa chỉ : Lầu 4, Tòa nhà Toàn An,

190 Bạch Đằng, Phường 24, Quận Bình Thạnh, TP Hồ Chí Minh, Việt Nam Công ty Dịch vụ vận tải tàu biển An Như Thành chuyên trách mọi dịch vụ vận tải trong và ngoài nước với tất cả mọi loại hình : đường bộ, đường sắt, đường thủy, đường hàng không, đảm nhận các khâu thủ tục xuất nhập khẩu đến nhận và giao hàng tận kho khách hàng

Là một công ty giao nhận mới ra đời không lâu nhưng A.N.T Shipping luôn hoạt động nỗ lực với sứ mệnh phát triển hoàn chỉnh các khâu giao nhận hàng xuất nhập khẩu, vận tải hàng hóa quốc tế và nội địa, cung cấp đa dạng dịch vụ logistics, mang những “giá trị thực sự” đến cho khách hàng

Mục tiêu mà Giám đốc Công ty cùng toàn bộ cán bộ nhân viên luôn hướng đến

đó là trở thành một trong những Công ty dịch vụ vận tải tàu biển hàng đầu tại Thành phố Hồ Chí Minh

Sau gần 1 năm hoạt động, đến ngày 18/08/2010, A.N.T Shipping được xác nhận trở thành thành viên chính thức của Hiệp hội giao nhận kho vận Việt Nam (VIFFAS)

Thời điểm mới thành lập, Công ty có 14 nhân sự, tính đến đầu năm 2012, đã tăng lên 20 nhân sự, chủ yếu cho bộ phận giao nhận và sale – marketing

Trang 35

Trang 24

Hệ thống đại lý cũng dần mở rộng trên cả nước và toàn thế giới Một số đại lý tiêu biểu cho Công ty :

1/ Agi Logistic Pty LTD

2/ Lingga (Fannie) Margosutjahjo Allegro Freight Services Inc

3/ CTS International Logistics Corporation Limited Project Logistics Division 5/ Fast Forward Freight GmbH

Zweigniederlassung Hamburg

Sachsenstraße 4 / 6 OG

6/ Kita Logistics moving ideas

Kita Ulastirma Hizmetleri Tic.A.S

7/ Khai Minh Global Co., LTD

8/ M&P International Co., LTD

9/ ABC European Air & Sea Cargo Distribution, d.o.o

10/ Johny – Wil Logistics

2.1.2 Hệ thống tổ chức của Công ty An Nhƣ Thành

2.1.2.1 Sơ đồ cơ cấu tổ chức

Hình 2.1 : Sơ đồ cơ cấu tổ chức (Nguồn : Phòng kinh doanh)

Công ty có cơ cấu tổ chức khá đơn giản và chặt chẽ, mạng lưới không quá rộng

đủ để cấp lãnh đạo giám sát hết được hoạt động của tổ chức, đảm bảo tính thống nhất đồng thời luôn đạt được những mục tiêu đặt ra

Director

Vice – Director

Account Sale Cus service Import Export Logistic

s

Trang 36

Trang 25

Tính đơn giản của tổ chức sẽ tạo ra sự phân công công việc rõ ràng ở từng phòng ban, tránh sự chồng chéo công việc và quyền hạn trách nhiệm ở các bộ phận khác nhau

Công ty chia thành 6 phòng ban dưới sự lãnh đạo của Giám Đốc và Phó Giám Đốc Nguồn thông tin phục vụ cho việc ra quyết định chiến lược hay xử lý các vấn

đề hoạt động khác sẽ được truyền tải kịp thời, chính xác, đảm bảo hoạt động của tổ chức hiệu quả cao

Hoạt động hiệu quả nhưng không dư thừa và lãng phí nguồn nhân lực là một cách giảm bớt chi phí cho Công ty

2.1.2.2 Nhiệm vụ và chức năng các phòng ban

Giám đốc : Là người điều hành hoạt động kinh doanh hằng ngày của Công ty,

chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc thực hiện các quyền và nhiệm vụ của mình

Tại Công ty A.N.T Shipping thì Giám đốc là người có quyền hạn tối cao nhất, Giám đốc sẽ đưa ra mọi quyết định về các vấn đề liên quan đến hoạt động kinh doanh hằng ngày của công ty đồng thời tổ chức thực hiện kế hoạch kinh doanh và các phương án đầu tư đó

Giám đốc cũng là người đứng ra ký kết hợp đồng nhân danh công ty, chịu trách nhiệm pháp lý về nghĩa vụ thực hiện và phạt hợp đồng khi có tranh chấp, mâu thuẫn xảy ra

A.N.T Shipping là một công ty có quy mô nhỏ, do vậy hầu hết các vị trí tuyển dụng đều được trực tiếp Giám đốc Công ty quan tâm và xét tuyển Cùng với sự hỗ trợ thêm của phòng ban trực thuộc, Giám đốc và trưởng bộ phận thực hiện việc lựa chọn ứng viên thích hợp nhất cho Công ty của mình

Phó Giám đốc : Là người giúp Giám đốc công ty điều hành một số lĩnh vực

quản lý hoạt động kinh doanh của công ty theo phân công và ủy quyền của Giám đốc, chịu trách nhiệm trực tiếp trước Giám đốc công ty và pháp luật về nhiệm vụ được phân công và ủy quyền, những công việc vượt quá thẩm quyền thì báo cáo đề xuất xin ý kiến Giám đốc công ty quyết định

Phòng Kế Toán

Nhìn vào bộ phận kế toán ở mỗi công ty, ta có thể đánh giá được độ mạnh và rõ ràng về tài chính của công ty đó, bởi lẽ phòng kế toán thực hiện công việc cân đối thu chi, theo dõi doanh thu và kết quả hoạt động kinh doanh của công ty qua từng

Trang 37

Trang 26

kỳ, quý và giai đoạn cụ thể Phòng kế toán vận hành tốt, là đã hoạch định được cho công ty các phương án tài chính vững chắc, luôn đặt công ty trong trạng thái kinh doanh an toàn

Bên cạnh đó, phòng Kế toán thường xuyên tham mưu cho Giám đốc công ty trong công tác quản lý, sử dụng vốn (tài sản, nguyên vật liệu, nguồn vốn, chi phí hoạt động kinh doanh)

Luôn luôn thu thập và xử lý thông tin có liên quan đến nghiệp vụ kinh tế tài chính phát sinh trong công ty

Đảm bảo các nguồn vốn cho các mặt hoạt động kinh doanh của Công ty

Thu hồi vốn nhanh chóng tránh tình trạng bị chủ đầu tư, khách hàng chiếm dụng vốn

Giữ bí mật về số liệu kế toán – tài chính và bí mật kinh doanh của Công ty Tiến hành các thủ tục, thanh quyết toán các loại thuế với cơ quan thuế

Lập và nộp các báo cáo tài chính đúng và kịp thời cho các cơ quan thẩm quyền theo chế độ quy định của Nhà nước

Phòng Kinh Doanh

Phần lớn thu nhập của bất kỳ công ty nào cũng là đều do phòng kinh doanh mang lại, bộ phận này sẽ tham mưu giúp Ban Giám đốc công ty hoạch định các phương án kinh doanh của toàn Công ty dài hạn, ngắn hạn, hoặc trong từng thương

vụ kinh doanh cụ thể

Thực hiện công tác Marketing, nghiên cứu thị trường và tìm kiếm khách hàng

Mở rộng mạng lưới kinh doanh trên thị trường nội địa và phát triển kinh doanh xuất, nhập khẩu Chủ động giao dịch, đàm phán trong và ngoài nước, ký các thư từ, đơn chào hàng, trao đổi thông tin với khách hàng trong nước và nước ngoài trong quá trình giao dịch khi đi ký kết hợp đồng kinh doanh của Công ty

Lưu trữ các hồ sơ, hợp đồng kinh tế có liên quan đến công tác kinh doanh của Công ty theo đúng quy định của pháp luật hiện hành

Theo dõi chặt chẽ và nắm bắt kịp thời tình hình thị trường, giá cả, nhu cầu hàng hóa xuất nhập khẩu để tham mưu cho Ban Giám đốc trong việc đàm phán ký kết các hợp đồng kinh tế

Nghiên cứu theo dõi các chủ trương chính sách xuất nhập khẩu, thuế của Nhà nước ban hành để tổ chức triển khai và thực hiện đúng quy định

Thực hiện chức năng quản lý thương hiệu của Công ty Theo dõi và báo cáo Giám đốc về công tác xúc tiến thương mại, quảng bá thương hiệu

Ngày đăng: 30/10/2022, 00:45

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1/ Ron Zemke & Kristin Anderson, Delivering knock your sock off service, NXB Lao Động Xã Hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Delivering Knock Your Socks Off Service
Tác giả: Ron Zemke, Kristin Anderson
Nhà XB: NXB Lao Động Xã Hội
2/ Allan R.Cohen, MBA trong tầm tay – Quản trị kinh doanh, NXB Tổng hợp Tp Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: MBA trong tầm tay – Quản trị kinh doanh
Tác giả: Allan R.Cohen
Nhà XB: NXB Tổng hợp Tp Hồ Chí Minh
3/ William J.Rothwell, Các chiến lược phát triển nhân tài nhanh chóng và hiệu quả, NXB Lao Động Xã Hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các chiến lược phát triển nhân tài nhanh chóng và hiệu quả
Tác giả: William J. Rothwell
Nhà XB: NXB Lao Động Xã Hội
4/ Fred Reitheld, Đẩy mạnh doanh thu và nâng cao lợi nhuận, NXB Lao Động Xã Hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đẩy mạnh doanh thu và nâng cao lợi nhuận
Tác giả: Fred Reitheld
Nhà XB: NXB Lao Động Xã Hội
5/ Triệu Hồng Cẩm, Vận tải quốc tế - Bảo hiểm vận tải quốc tế, NXB Văn hóa Sài Gòn, 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vận tải quốc tế - Bảo hiểm vận tải quốc tế
Tác giả: Triệu Hồng Cẩm
Nhà XB: NXB Văn hóa Sài Gòn
Năm: 2009
6/ Dương Hữu Hạnh, Cẩm Nang Nghiệp Vụ Xuất Nhập Khẩu, NXB Thống kê, Tp. Hồ Chí Minh, 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cẩm Nang Nghiệp Vụ Xuất Nhập Khẩu
Tác giả: Dương Hữu Hạnh
Nhà XB: NXB Thống kê
Năm: 2009
7/ Trần Hoè, Nghiệp Vụ Kinh Doanh Xuất Nhập Khẩu, NXB Trường ĐH Kinh Tế Quốc dân, Hà Nội, 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiệp Vụ Kinh Doanh Xuất Nhập Khẩu
Tác giả: Trần Hoè
Nhà XB: NXB Trường ĐH Kinh Tế Quốc dân
Năm: 2009
8/ Lý Tiễn, Cây tiền, NXB Lao Động Xã hội, 2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cây tiền
Tác giả: Lý Tiễn
Nhà XB: NXB Lao Động Xã hội
Năm: 2011
9/ Đoàn Ngọc Quế, và Đào Tất Thắng, Phân Tích Hoạt Động Kinh Doanh, NXB ĐH Kinh Tế Tp. HCM, 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân Tích Hoạt Động Kinh Doanh
Tác giả: Đoàn Ngọc Quế, Đào Tất Thắng
Nhà XB: NXB ĐH Kinh Tế Tp. HCM
Năm: 2009
10/ GSTS Đoàn Thị Hồng Vân, Logistics – những vấn đề cơ bản, NXB Lao Động Xã Hội, 9/2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Logistics – những vấn đề cơ bản
Tác giả: Đoàn Thị Hồng Vân
Nhà XB: NXB Lao Động Xã Hội
Năm: 2010
11/ PGS. TS. Đinh Ngọc Viện (Chủ biên), “Giao nhận vận tải hàng hóa quốc tế”, NXB Giao Thông Vận Tải, 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giao nhận vận tải hàng hóa quốc tế
Tác giả: Đinh Ngọc Viện
Nhà XB: NXB Giao Thông Vận Tải
Năm: 2002
12/ “Một số giải pháp khắc phục khó khăn của hoạt động giao nhận vận tải hàng hóa ở Việt Nam”, TS. Nguyễn Hồng Vân, Khoa Kinh tế, trường Đại học Hàng hải Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số giải pháp khắc phục khó khăn của hoạt động giao nhận vận tải hàng hóa ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Hồng Vân
13/ Vũ Phương Thanh – Hoàng Thị Thu Hà. “Báo cáo phân tích ngành Hàng hải tháng 8/2009” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo phân tích ngành Hàng hải tháng 8/2009
Tác giả: Vũ Phương Thanh, Hoàng Thị Thu Hà
Năm: 2009
16/ “Thông cáo báo chí về một số nội dung của kỳ họp Chính phủ thường kỳ tháng 4/2012”, vpcp.chinhphu.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông cáo báo chí về một số nội dung của kỳ họp Chính phủ thường kỳ tháng 4/2012
Nhà XB: Văn phòng Chính phủ
Năm: 2012
26/ “Toàn cầu hóa hội nhập”, nghiencuubiendong.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn cầu hóa hội nhập
14/ “Tiềm năng Logistics Việt Nam,” , logistics-vaa.com.vn 15/ Vietlawconsultant – Pháp điển Luật Việt Nam, vietlaw.biz Khác
18/ “Kinh tế Việt Nam sau gia nhập WTO”, Phạm Quốc Trụ, 03/2010 19/ “Dịch vụ giao nhận hàng hóa”, xuatnhapkhauvietnam.com Khác
21/ “Định hướng chiến lược xuất nhập khẩu giai đoạn 2010 – 2030”, Hồng Hải 22/ “Chính sách ưu đãi và hỗ trợ đầu tư của nhà nước”, OEM Khác
w