1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

kl dang kim ngan 710050v

60 1 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 60
Dung lượng 893,7 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đến thế kỷ 15-16, hàng gốm Việt Nam đã xuất sang Nhật Bản và các nước Đông Nam Á.Đồ gốm là một phần trong cuộc sống thường nhật của người Việt Nam, từ lúc nằm trong nôi cho đến khi về vớ

Trang 1

Ph ần mở đầu

1 Lý do ch ọn đề tài (tính cấp thiết của đề tài)

Loài người đã biết sản xuất gốm từ khi tìm ra lửa Người Việt Nam đã biết sản xuất gốm

từ thời Hùng Vương dựng nước Đến thế kỷ 15-16, hàng gốm Việt Nam đã xuất sang

Nhật Bản và các nước Đông Nam Á.Đồ gốm là một phần trong cuộc sống thường nhật

của người Việt Nam, từ lúc nằm trong nôi cho đến khi về với đất mẹ, con người đã sử

dụng nhiều loại đồ gốm: từ cái ang rửa ráy, cái chum đựng nước, chĩnh đựng gạo, nêu nấu nướng, bát ăn cơm cho đến bát hương đặt trên bàn thờ gia tiên để tưởng nhớ tổ tiên quá

cố…

Ngày nay, trong thời buổi kinh tế thị trừơng, những người thợ gốm đã cải tiến những đồ

gốm thô mộc cho phù hợp với thị hiếu hiện đại, các sản phẩm được làm từ gốm với nhiều

mẫu mả đa dạng, vừa mang tính hiện đại vừa có những sản phẩm toát lên nét đẹp dân dã,

mộc mac của vùng quê, tuy nhiên chúng vẫn phản ánh rõ mục đích nguyên thuỷ là phục

vụ cho đời sống con người, vừa mang tính ứng dụng vừa mang tính trang trí, thể hiện tính

thẫm mỷ trong cuộc sống

Nghề gốm là ngành nghề truyền thống của dân tộc Việt Nam, được ra đời từ rất sớm nên

rất đa dạng phong phú và mang tính ứng dụng cao Để được tiếp cận, kế thừa và phát triển ngành nghề truyền thống, mang tính dân tộc và tính thẫm mỹ, vừa phù hợp với ngành tạo dáng mà em đã được học , nên em chọn đề tài này để có thể học tập thêm nhiều kiến thức

và góp sức nhỏ vào việc phát triển của nghề gốm Việt sau này

thận, hiểu rõ các vấn đề để giải quyết một cách hiệu quả và thiết thực nhất

Bắt kì một đề tài mới nào trong quá trình tạo dáng đều đòi hỏi người tạo dáng phải cho nó

một nội dung mới, sự cạnh tranh trong thế giới hàng hoá là động lực cơ bản thúc đẩy quá trình tìm tòi và sáng tạo, để tạo được sản phẩm có thể sử dụng và tồn tại trên thị trường, ta

Trang 2

cần phải giải quyết tất cả các vấn đề sao cho đạt được hiệu quả tối ưu nhất, dể sản xuất, giá thành hợp lí, kiểu dáng mang tính thẩm mỹ cao và được sử dụng rộng rãi…

3 Đối tượng nghiên cứu

Thiết kế đèn sân vườn với chất liệu làm từ gốm, kết hợp hiệu quả của ánh sáng và kiểu dáng sản phẩm để tạo ra không gian sân vườn ấm cúng, đẹp và sinh động, góp thêm yếu

tố thẩm mỹ để làm đẹp cuộc sống

4 Nhi ệm vụ nghiên cứu

Sản phẩm phải mang tính mới lạ về mặt kiểu dáng, chất liệu, kỉ thuật và ý tưởng mới lạ Tìm cho sản phẩm chất liệu và màu sắc thích hợp với không gian sử dung

Sản phẩm là đèn sân vườn, vị trí đặt nằm ở ngoài trời nên phải tạo cho sản phẩm có khả năng thích nghi với khí hậu ngoài trời, khó vở, bảo vệ được thiết bị ánh sáng bên trong lâu hơn…

Kiểu dáng của sản phẩm phải phù hợp với thực tế, dể sản xuất và có giá trị thẩm mỹ cao Nghiên cứu giá thành của sản phẩm, thị trường tiêu thụ, không gian sử dụng, và tính ứng

dụng của sản phẩm

5 Phương pháp nghiên cứu

Việc thiết kế tạo dáng phải kết hợp với cán bộ chuyên môn về kỷ thuật sản xuất gốm để

hiểu rõ về cách thức sản xuất của sản phẩm, tránh việc thiết kế lang mang không phù hợp

với việc sản xuất, bản thiết kế không thiết thực và không có khả năng sản xuất

Nghiên cứu tất cả các giải pháp có thể để tìm ra phương án khả thi nhất

Phát huy những sản phẩm đả có để tìm ra những cái mới cái hay của sản phẩm, tránh việc thiết kế trùng với những sản phẩm đã có trên thị trường

Việc đi tìm cho sản phẩm những cái mới cần phải xác định rõ những ưu điểm và khuyết điểm để giải quyết các vấn đề, tránh việc tạo ra cái mới mà giá trị của sản phẩm không có

gì tốt hơn so với những sản phẩm cũ

Nghiên cứu các kỷ thuật làm gốm, từ hoạ tiết, men màu, kết hợp chất liệu để tạo cho sản

phẩm tính phong phú, mới lạ, hiện đại…

Nghiên cứu phương án sản xuất đầu tư, kinh doanh để áp dụng các phương pháp tiếp cận

thị trường, tập hợp và phân tích dữ liệu, tiếp cận khách hàng, xác định giá cả và tổ chức

sản xuất, và những vấn đề có liên quan để sản phẩm ra đời có chổ đứng

Trang 3

Ph ần nội dung Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiển

1.1 T ổng quan lịch sử của đề tài

1.1.1 L ịch sử đề tài nghiên cứu :

Vài nét đại cương về đồ gốm Việt Nam:

S ự ra đời:

Cuối thời đa cũ-vài vạn năm cách ngày nay, người ta đã biết dùng đất

sét để nặn tượng ngừơi và động vật Có khi ho đã nung các tượng đó

trong lửa, nhưng cuộc sống đi hái lượm, du cư khiến con người chưa

biết chưa chế tạo đồ đựng bằng đất nung, tức đồ gốm

Đầu thời đá mới- cách đây trên dưới một vạn năm- đồng thời với việc

xuất hiện nghề trồng trọt và chăn nuôi và với một nếp sống mới – sự

Định Cư - ở nhiều nơi trên thế giới, đồ gốm đã ra đời, ban đầu được

nặn trực tiếp bằng tay và lần lần được nặn và sửa sang trên những bàn

xoay nhanh, chậm cũng như ban đầu được nung trực tiếp ở bếp, ở

đóng lửa ngoài trời, sau mới trát vách, xây lò nung để làm chủ được

độ lửa và khiến đồ đựng bằng đất nung chín đều

Đồ gốm được xuất hiện sớm nhất ở Việt Nam-theo tài liệu hiện nay biết được, là thuộ c

nền văn hoá Bắc Sơn, một nền văn hoá đầu thời đá mới nổi tiếng, có niên đại – định bằng phương pháp C14 – đồng vị phóng xạ cacbon là trên dưới một vạn năm Chất liệu, loại hình, hoa văn trang trí cùng kỷ thuật chế tạo đồ gốm… là những tài liệu quan trọng để nghiên cứu về trình độ văn hoá, tộc thuộc, nơi cư trú, ý thức thẩm mỹ… của các bộ lạc

Việt Nam thời cổ Gồm Bắc Sơn chất liệu thô pha cát để tránh

rạn nứt khi nung – miệng loe, đáy tròn để bắt trên những “đấu rau bếp” bằng đá cuội, có dấu vết đồ đan hoặc trang trí đơn giản:

Vạch chéo, văn song nước, văn chải răng lược… (dùng que nhọn

vạch hoặc dùng bàn đập đập bên mặt ngoài đồ gốm khi còn ướt)

M ột vạn năm phát triển liên tục của đồ gốm cổ Việt Nam Các giai đoạn phát triển:

Những phát hiện liên tiếp về đồ gốm Bắc Sơn, đồ gốm Quỳnh

Trang 4

Văn, đồ gốm Đa Bút, đồ gốm Mai Pha, Ba xã, đồ gốm Bầu Tró Trạch lạc trên suốt chặn đường 5000-6000 năm của thời đá mới Việt Nam tiếp đến những đồ gốm của nền văn hoá

Hạ Long, Hoa Lộc trong giai đoạn bắt đầu từ thời đại Đá sang thời đại Đồng; rồi cả một

khối lượng phong phú và đa dạng đồ gốm đã được nghiên cứu tương đối kỹ của thời đại Đồng Thau Việt Nam trong khoảng trên dưới hai thiên niên kỷ trước Công Nguyên, kể từ giai đoạn sơ khởi Phùng Nguyên, qua trung gian Đồng Đậu, Gò Mun rồi đến chặn cuối cùng Đông Sơn – Đường Cồ khi bắt đầu đan xen với luồng đồ gốm từ phương Bắc tràn

xuống, đã xoá bỏ hoàn toàn truyền thuyết về đồ gốm Viện Nam là do thợ thủ công Trung Hoa truyền cho lối chừng thế kỷ III trước Công Nguyên

Ở miền nam nước ta, tuy công tác khảo cổ chưa tiến triển nhiều, song cũng đã tìm thấy đồ

gốm thời đá mới và đồ đồng ở Tây Nguyên, ở Biên Hoà(sưu tầm của L.m.Fontaie) Dầu dây, những đồ gốm thuộc văn hoá Sa Huỳnh(trước sau Công Nguyên) và nhiều đĩa bằng đất nung thuộc văn hoá Oóc eo Tây Nam Bộ (thế kỷ III -IV) mà kyõ thuật chế tác và trang trí còn được bảo lưu rất lâu về sau này nữa

Bên những nét giống nhau, gốm đáy tròn, có khi chân đề hoa văn chải, văn thừng, văn

khắc vạch, gốm của các bộ lạc thời đá mới, Việt Nam đã có nhiều nét đa dạng, bên gốm văn khắc vạch có cả gốm tô màu thổ hoàng (ven biển Nghệ Tĩnh Bình) Ở thời đại đồ Đồng Thau cũng vậy, ngoài đồ gốm của hệ thống văn hoá sông Hồng với các giai đoạn phát triển khác nhau, ở từng địa phương đồ gốm cũng có những nét khu biệt Đồ gốm là

chữ cái, là tờ lịch của khảo cổ học mà cũng là chỉ tiêu thời – không gian của nền văn hiến

Việt Nam thời bắt đầu dựng nước và giữ nước

Một vài thế kỷ trước Công Nguyên, trong nhiều di tích cuối thời đại đồng, đầu thời đại sắt

ở lưu vực sông Hồng đã thấy xuất hiện một ít đồ gốm mang ảnh hưởng của giao lưu văn hoá Trung Hoa thời Chiến Quốc, với miền biển Đông Nam Trung Quốc, với văn hoá Nam

Việt Nam thời trước sau Tần-Hán, đặc biệt là sự xuất hiện đồ gốm văn in hình học, sau này chiếm ưu thế trong số đồ gốm của mộ tang cổ thuộc thời Lưỡng Hán và Tam Quốc (một vài thế kỷ sau Công Nguyên) Nhiều lò nung đồ gốm thời kỳ này đã tìm thấy ở Hà

Bắc-Thanh Hoá.Trung Quốc- là miền Hoa Trung và Hoa Nam là nơi xuất hiện đồ sứ ở lâu đời nhất thế giới Niên đại ra đời của sứ Trung Quốc là vào khoảng cuối Hán đầu Ngô (thế kỷ II-III sau Công Nguyên)

Trang 5

Trong thời gian này, ngồi đồ đựng bằng đất nung chế tạo theo truyền thống cũ và đồ sành, đã xuất hiện ở Việt Nam đồ bán sứ (đồ Tráng Men), đồ sứ ngà và một ít men xanh, men nâu mang nhiều ảnh hưởng đồ sứ Trung Hoa tuy nhiên vẫn cĩ nhiều nét riêng biệt địa phương hoặc bảo lưu phong cách Đơng Sơn

Cĩ nhiều vệt mỏ Kao-lin và Feshpath ở Đơng triều khả dĩ cung cấp nguyên liệu cho đồ

gốm sứ ở Việt Nam phát triển rực rỡ nhất vào thời Lý Trần và thời Lê

Thời Lý Trần, Phật giáo thịnh đạt, nhiều chùa tháp được xây dựng với cung điện Đế vương và phủ đệ vương hầu quí tộc, gạch ngĩi được sản xuất nhiều, cĩ cả ngĩi ống, ngĩi

bản bằng sứ trắng, sứ xanh, nhiều tồ tháp xây dựng bằng đá và đất nung- trong đĩ thợ

Việt và thợ Chàm cùng hợp sức xây dựng- mà tiêu biểu cịn sĩt lại là tháp Bình Sơn ở

Vĩnh Phú vừa được trùng tu Rất nhiều chi tiết kiến trúc được chế tạo bằng đất nung và

những nét chạm trỗ cơng phu như chạm gỗ Đồ sứ với mo-tip hình hoa sen cách điệu hết

sức đa dạng, tráng những men tốt và đẹp: men nâu, men ngọc, men trắng ngà, hoa văn trang nhã: hoa lá, chim thú, người; hoặc khắc chìm, hoặc chạm nổi, chạm lộng, thuần phác mà sống động, thanh thốt chứ khơng rậm rườm

Sang thời Lê, loại sứ trắng hoa lam, hoa xanh đặc biệt phát triển (cuối thế kỷ XIV-XV) Nhiều bình lớn, bình hương cĩ niên hiệu thời Mạc cịn bảo tồn ở một số đình, chùa Đồ sứ

Việt Nam thời trần, thời Lê đã được xuất khẩu, hoặc dưới hình thức quà tặng hoặc là do con đường mua bán Nhiều đồ gốm Vịêt Nam đã tìm thấy trong các cuộc khai quật ở Philippin(1958) Sử sách các cuốn Du Ký cịn ghi hàng vạn đồ gốm Việt Nam được xuất

cảng sang Idonexia thế kỷ XVI-XVII và thứ gốm Nhật Bản-xứ sở của Trà đạo, từ thế kỷ XVI và thứ gốm Nhật Bản đả chế tạo bát sứ phỏng theo đồ sứ Đại Việt

Cho đến giửa thế kỷ XIX những trung tâm sản xuất đồ gốm xứ cổ truyền và nổi tiếng là

Bồ Bát (Ninh Bình) Lị Chum (Thanh Hố) và nhất là Bát Tràng (Hà Nội), Thổ hà, Phù Lãng (Hà Bắc) Hương Canh (Vĩnh Phú) Ở Miền Trung, những tháp chàm cổ kính bằng đất nung cho đến nay vẫn cịn ẩn dấu nhiều bí mật về kỹ thuật xây dựng, phát triển song song với nghề gốm thủ cơng dân gian thuần phát khơng chuộn sự quí, hiếm, lạ mắt mà đơn giản, chắc chắn như sành, với những chi tiết trang trí hình song nước, hàng chuỗi

ngọc, nặn bằng tay và bằng khuơn, khơng sứ, khơng bán sứ, khơng phủ men màu mè… Dưới ảnh hưởng – cĩ lẽ vậy – của đồ sứ Lý – Trần miệt Thanh Nghệ, ở Bình Định cũng

Trang 6

nổi lên trung tâm sản xuất gốm sứ sau này, đến thời Lê vẫn là một nơi sản xuất sứ nâu và

sứ men màu ngọc Đồng Thanh (Céladon) Những “choé” rượu miền Thượng, thường là đất nung, đôi khi do nhiệt độ cao nên mặt ngoài đã có phần thuỷ tinh hoá dẫn ta về một nhóm đồ gốm độc đáo khác của Việt Nam

Ngày nay, Đồ Sứ Biên Hoà, Thủ Dầu Một ở Nam hay đồ gốm sứ Bát Tràng, Thổ Hà, Phù Lãng ở Bắc vẫn tiếp tục là niềm tự hào của cả nước, phục vụ quốc kế dân sinh và phục vụ

xuất khẩu

Giá tr ị nghệ thuật của gốm Việt Nam:

Gốm ra đời trước khi xã hội có giai cấp; gốm bắt nguồn từ nghệ thuật dân gian: tình cảm con người, tình cảm nghệ sĩ trực tiếp chuyển vào bản thân của gốm trước tiên qua lao động “nhào

nặn”, làm cho bản thân của gốm rung cảm, nói lên tiếng nói của nghệ sĩ, của cuộc sống xã hội Điều đơn giản này không phải dễ phát hiện ngay Châu Âu vốn tự hào với truyền thống công nghiệp gốm phát triển Khi đồ sứ trung Quốc và Nhật Bản tràn sang, mới thấy “cần phải

học tập không chỉ về kỹ thuật, mà cả khái niệm đúng đối với hình dáng và lối trang trí tuỳ thuộc chất liệu này”

Ở Nhật Bản, K.Phu-ki-ni, nhà nghiên cứu gốm lâu năm có một nhận xét đáng lưu ý: “Từ

buổi bình minh của muôn vật, đời sống con người không bao giờ tồn tại mà không tự biểu

hiện trong một loạt nào đó của tác phẩm gốm”

Gốm Việt Nam nổi bật với những đặt tinh truyền thống đó Gốm Việt Nam không phân

biệt gốm “lò quan” và gốm “lò dân” như một số nước thời phong kiến, mặc dù có một số

gốm làm ra phần nào phục vụ cho vua chúa

Cho nên, muốn đánh giá nghệ thuật gốm Việt Nam, đều quan trọng là cần đứng chổ đứng nghệ thuật của dân gian, cần nhìn rõ mối quan hệ của gốm và cuộc sống đông đảo quần chúng đương thời Không vì thấy thiếu hào nhoáng, thiếu lộng lẫy mà không thấy cái cốt lõi rất quý của gốm Việt Nam, thường mang tính trong sáng, nhuần nhuyễn, bình dị, có khi còn thô sơ như tiếng nói giọng hò quen thuộc trong nhân dân

Dưới đây xin lược qua đặc điểm của một số loại gốm chính Việt Nam bao gồm:

Bu ổi sơ khai của nghệ thuật gốm đất nung

Trang 7

Nhiều cuộc khai quật trong vòng 20 năm trở lại đây cho thấy bộ mặt gốm đất nung cách đây 5000 năm đến đầu công nguyên thật là phong phú Có thể nêu lên một số điển hình:

Gốm Phùng Nguyên (và gốm nhiều di chỉ cùng loại), cách đây 5.000 đến 4.000 năm trước công nguyên, tổ tiên ta đã biết sử dụng bàn xoay thành thục, đã biết trang trí lên gốm

bằng những nét khắc tinh xảo, chủ yếu là hoa văn răng lược, khắc vạch, làn song, một số thiên về lối hình học (như gốm Gò Bông) Đã biết dung màu đất trắng và màu đá son tô

thắm lên bề mặt hình khắc của gốm trước khi nung; đã biết độ nung lữa già nhất của đất nung (như gốm Việt Tiến)

Gốm Đồng Đậu (và gốm di chỉ cung loại), cách đây khoảng 3.500 năm, hoa văn càng đa

dạng: xoắn ốc, răng cưa, đường chấm song song, hình tram in,v.v… Đặc biệt còn tìm thấy tượng bò tót, tượng chim, đầu gà…

Gốm Gò Mun (và nhiều di chỉ cùng loại), cách đây trên 3.000 năm, hoa văn hình học chiếm ưu thế Nhiều hoa văn rõ rang bắt chước hoa văn trên đồ đồng (kể cả một số hoa văn thuộc gốm Đồng Đậu)

Gốm Phùng Nguyên, Đồng Đậu, Gò Mun không chỉ sớm phong phú về hoa văn, mà cũng phong phú về hình dáng Nhiều hình dáng cho đến sau này vẫn còn được bảo tồn trong các lò gốm dân gian, như loại vò có miệng loe đứng, cổ cao, bụng nở ( Đồng Đậu); loại

vò cũng như nồi cỏ miệng loe rộng cổ ngắn, bung nở (Đồng Đậu); loại vò, nồi, có miệng xiên, cổ thắt (Đồng Xấu); bát, bình, cốc, ống nhỏ chân thấp, chân cao (Phùng Nguyên), v.v… Ở miền nam, gốm vung châu thổ song Cửu Long, khoảng những thế kỷ đầu công nguyên, gốm Sa Huỳnh quãng thế kỷ thứ 5, cũng có nhiều hoa văn làn song, hình học, nhiều hình dáng rất gần gũi với gốm cổ vùng đồng bằng và Trung Du Bắc Bộ Có hình dáng điển hình của gốm miền nam như cái Lu, cái Chĩnh vẫn bảo tồn cho đến nay ở nhiều

cơ sở sản xuất gốm trong nam, riêng hình cái chĩnh khá giống hình một số gốm Đông Sơn được phát hiện khá nhiều

Người ta từng đặc câu hỏi: trong thời đại đồng thau phát triển rực rỡ, gốm đất nung sao

vẫn còn trang trí ngày một công phu và có xu hướng bắt chước đồ uống, nhất là về mặt hoa văn?Điều đó khẳng định được là:Nghệ thuật dân gian tồn tại và phát triển từ trong

cuộc sống của quần chúng, thường được thể hiện rộng rãi nhất từ những đồ dùng thông thường nhất, từ những chất liệu đơn thuần nhất (như là đồ mây tre tiếp đến là đồ đất nung)

Trang 8

Nghệ thuật đất nung bắt chước nghệ thuật đồ đồng, không hề giảm mà còn làm sáng tỏ thêm phong cách nghệ thuật đồ đồng cùng thời Gốm bắt chước đồng càng làm sáng tỏ thêm quá trình phân hoá giai cấp của xã hội đương thời

Mối tương quan khá rõ nét giữa các nền nghệ thuật cổ xưa trên cùng một dải đất Việt Nam nói riêng, trên khu vực Đông Nam Á nói chung được phản ánh qua phong cách nghệ thuật đồ đồng cũng như phong cách nghệ thuật đồ đất nung cùng thời

G ốm hoa nâu và tiền thân của nó:

Từ đầu Công Nguyên đến thế kỷ thứ 10, các nhà nghiên cứu

trước đây mới chỉ nhắc đến gốm “Hán bản địa”, tức những

loại gốm đất nung hoặc sành xốp có men hoặc không men,

tìm thấy trong các ngôi mộ người Hán chon cất ở Việt Nam,

phần lớn làm theo dạng gốm minh khí của Trung Quốc đương

thời Nhưng bên cạnh loại gốm này, còn vô số loại đất nung,

sành nâu, sành trắng vẫn được tự sản tự tiêu trong các cộng

đồng làng xã Những loại gốm này vẫn tiếp tục truyền thống

của các loại gốm cổ xưa, nhất là về mặt hình dáng Di chỉ cụ

Trì (Thanh Miện-Hải Hưng) là một khu vừa mộ tang, vừa cư dân thuộc thời kì đó, đã tìm

thấy chiếc vò, hũ men da lươn mỏng dính, dáng giống dáng gốm Đồng Đậu, và cũng còn

rất quen thuộc cho đến ngày nay Men da lươn căn bản lam từ chất tro pha với đa son, đá

thối và một ít đất, vôi khác mà cha ông ta đã biết tận dụng nguyên liệu địa phương hầu như có sẵn khắp nơi

Gốm hoa nâu, thường thuộc loại sành xốp,men ngà bong, hoa văn màu nâu Hoa được

khắc vạch trên khuôn đất trước khi tô màu Cũng có loại nền nâu, hoa văn trắng Dần vế sau, gốm hoa nâu được thể hiện nhiều kỹ thuật khác nhau, nhưng căn bản vẫn bấy nhiêu

chất liệu: men tro, đá son, đá thối hoặc rỉ sắt, hoàn toàn giống nguyên liệu của gốm men

da lươn

Đặc điểm phong cách của gốm hoa nâu là hình dáng đầy đặn, chắc khoẻ, phù hợp với lối

khắc, lối tô mảng to mảng nhỏ sâu nông tuỳ tiện, và trên nền rất thoáng Đề tài trang trí

rất gắn bó với thiên nhiên và cuộc sống của Việt Nam: Tôm, cá, voi, hổ, chim khách, hoa sen, hoa sung, lá khoai nước, lá râm bụt, võ sĩ đấu giáo, cưỡi voi, v.v… Một số gốm hoa

Trang 9

nâu về sau bắt chước thể hiện phong cách của gốm hoa lam Từ đó mất dần vẻ đẹp độc đáo của gốm hoa nâu

Nghiên cứu quá trình phát triển của gốm hoa nâu,có thể cho ta một số khẳng định:

Gốm hoa nâu vốn có từ trước thế kỷ 11, ra đời cùng gốm men da lươn Việc sử dụng đá son tô lên gốm vốn có từ thời Nguyên Thuỷ (gốm Phùng Nguyên) Cho đến ngày nay, ở nhiều lò dân gian có những nghệ nhân dùng chất liệu và kỹ thuật này để làm những tác

phẩm riêng biệt

Giai đoạn tiêu biểu nhất của gốm hoa nâu, về mặt nghệ thuật cũng như kỹ thuật, là từ thế

kỷ 11 đến thế kỷ 13 Nó mang rõ nét của loại gốm hoa nâu rất Việt Nam, không một loại

gốm nước ngoài nào lẫn lộn được Chỉ một màu nâu mà tạo ra nhiều sắc thái không đơn điệu

Ở đây, cần nhắc đến luận điểm của một số nhà nghiên cứu Pháp trước đây, cố tình cho

rằng gốm hoa nâu Việt Nam bắt chước gốm Từ Châu của Trung Quốc

Thật ra, lò hình dân gian Từ Châu của Trung Quốc mà tiêu biểu là gốm hoa đen, xét về kỹ thuật phong cách thể hiện, hoàn toàn không giống gốm hoa nâu Việt Nam: Màu đen lấy từ

chất gỉ sắt có hàm lượng Mangan nhiều; cách vẽ lưu loát của bút nho không liên quan gi đến lối khắc và tô son của gốm hoa nâu Việt Nam Hơn nữa, đồ án trang trí, lối cách điệu hoàn toàn khác Cũng như ở Thái Lan, vẫn có gốm Hoa Nâu với nền màu đen da lươn cổ xưa gọi là gốm Su-Cô-Tai Nó vẫn có màu sắc sáng tạo riêng của nó

G ốm men ngọc:

Gốm men ngọc cũng đã phát triển từ trước thế kỷ 11 Một số

lọ men ngọc tảo kỳ, có thể vào thế kỷ thứ 8, thứ 9, dáng rất

chắc khỏe, men phủ khá dầy Khá nhiều hiện vật cùng kiểu men còn sống , chứng tỏ men ngọc ban đầu chưa thành thục Xương đất và men chứa nhiều hàm lượng sắt, không những

tạo điều kiện làm ra men da lươn, mà còn tạo điều kiện làm ra men ngọc Trong nghề

gốm, từ những kết quả ngẫu nhiên dẫn đến những kết quả dung ý là sự việc thương làm Qui luật tìm ra men ngọc ở Trung Quốc, ở Việt Nam, ở Triều Tiên… từ thời xưa chắc

cũng như vậy với điều kiện nguyên liệu và phương pháp nung tạo kiểu Châu Á gần như nhau

Trang 10

Gốm men ngọc Việt Nam, với hoa văn khắc chìm hoặc in nổi chủ yếu trong lòng bát, lòng đĩa với màu men ngọc trong suốt,cho ta một vẻ đẹp dịu dàng sâu đậm Cũng có cái do

việc nung lửa không điều, mà từ màu ngọc xanh ngả sang màu vàng úa, vàng nâu.Đề tài nghiên cứu thường là hoa lá, chim phượng, một số ít có hình người lẫn trong hoa lá Hoa văn men ngọc có ảnh hưởng nhiều của hoa văn chạm khắc lên đá đương thời

Một số học gia phương Tây trước đây cho rằng gốm men ngọc Việt Nam mà họ mệnh danh là đồ Tống Thanh Hoá (vì tìm thấy nhiều tại Thanh Hoá), do các di thần nhà Tống

biết nghề gốm làm ra Họ là những người chạy loạn sang Việt Nam dưới thời Trung Quốc

bị quân Nguyên xâm chiếm (1279-1368) Một số học giả Việt nam trước đây cũng vội vã trích dẫn theo Đó là điều lầm lẫn đáng tiếc và thiếu khoa học

Thật ra, gốm men ngọc Trung Quốc thời Bắc Tống hay Nam Tống, xương đất rất đanh và

nặng, hầu như đã thành sứ Chất liệu men vẫn nặng về thành phần đá hơn la gio Nên xương đất và men quyện vào nhau Màu men ngọc được chủ động do lửa hoàn nguyên khá cao và chính xác Nhưng một số men ngọc thuộc các lò dâu vùng Hoa Nam, đặc biệt vùng Quảng Đông, thì xương rất nhẹ, phủ men gio, nên bộ mặt có những nét dễ giống với

gốm men ngọc Việt Nam Trường hợp này, vẫn có thêm nhiều yếu tố đối chứng khác để phân biệt

Gốm men ngọc cũng rất thịnh hành ở thế kỷ 11 đến thế kỷ 13, nửa đầu thế kỷ 14 Khi có

gốm hoa lam và gốm nhiều màu, thì gốm men ngọc cũng như gốm hoa nâu, phải nhường bước cho loại gốm mới Đó là điều tất yếu Mấy học giả phương Tây cho rằng khi quân minh chiếm lại đất Trung Quốc, các di thần nhà Tống trở về nước, đem theo cả bí quyết làm gốm men ngọc, nên đồ Tống Thanh Hoá bị mai một Đó là lối suy diễn nếu không có

dụng ý, thì cũng không dựa trên một cứ liệu khoa học nào cả

G ốm hoa lam:

Gốm Hoa lam từ cuối thế kỷ 14 Hình dáng và bút pháp ban đầu rất

đơn giản Màu lam dưới men lộ rõ sắc, men bam chặt vào xương đất

có độ rắn cao Đó là loại “sành sứ” được phát triển cho đến ngày

nay, tuy phong cach mỗi thời đều có thay đổi Gốm hoa lam thường

trang trí dưới men, nhưng không khắc vạch, và chỉ vẽ lối nhẹ nhàng

như thuỷ mạc, vẽ đẹp tiêu biểu của gốm hoa lam Việt Nam là lối vẽ

Trang 11

phóng bút trên các lọ hoa, chân đen, bát đĩa to hoặc nhỏ, nhất là từ thế kỷ 15 đến cuối thế

kỷ 17, đề tài trang trí thường là rồng, phượng, mây, hoa sen, hoa cúc dây… Với màu lam

ngả về xám trên nền trắng hơi ngà Hình dáng của loại này cũng có nhiều cái đẹp độc đáo: bát, chén, đĩa chân rất to,rất cao, chân đèn loại hoa dáng khoẻ và thanh nhã Đặc biệt từ

thế kỷ 15, một số chân đèn lư hương, lọ hoa, con giống không chỉ khắc niên đại mà còn

khắc cả tên người làm Đó là điều rất hiếm trong nghệ thuật cổ Việt Nam Cũng cần nói thêm: bát men ngọc thời Lý thì chân nhỏ xúi và bát hoa lam thời này chân rất to và rất cao, trước tiên là do yêu cầu kỹ thuật thay đổi có lợi về mặt kinh tế (từ việc sử dung con

kể chuyển sang cạo men ở lồng bát để chồng lên nhau khi vào lò, thì với một loại xương đất nào đó, buột phải chuyển việc làm bát bằng chân nhỏ chuyển sang làm chân to và cao

để khỏi dính nhau) Có nhiều học giả nước ngoài và trong nước trước đây nhân cái bát chân to nhỏ khác nhau mà đoán định nguyên nhân chính thuộc về mặt tư duy, hoặc thuộc

về mặt tôn giáo là không đúng Điều đáng nêu là sự phối hợp giữa kỹ thuật và nghệ thuật

ở đây khá tài tình; làm cho gốm chân nhỏ hay chân to đều tạo được vẻ đẹp đáng giá

Gốm hoa lam từ thế kỷ 19 trở về sau kém đẹp có lẽ do thị trường xuất khẩu hạn chế Nước men kém trong, do chất liệu về đất pha vào men có thay đổi Như nhiều loại bình, choé có niên hiệu Gia Long không những men kém chảy, kém trong mà hình dáng nặng

nề, trang trí mảnh dẻ không ăn với nhau, báo hiệu giai đoạn đi xuống của gốm hoa lam

Về sau kỷ thuật gốm hoa lam có tiếng bộ hơn; nhưng lối vẽ tay thành thục của những thế

kỷ xưa nhường bước cho lối in hoa; không cho phép trở lại cái đẹp như trứơc nữa

Gốm hoa lam Việt Nam đối chiếu với gốm hoa lam dân gian Trung Quốc xuất hiện từ đời Minh trở về sau có mối ảnh hưởng qua lại Nhưng bút pháp mỗi bên đều vẫn nhận ra sự khác biệt căn bản

G ốm vẽ màu trên men và gốm nhiều màu:

Gốm vẽ màu trên men dường như chỉ để xuất khẩu Hiện nay,

mới phát triển các loại bát đĩa với hình dáng và xương đất

giống như gốm hoa lam ở những thế kỷ 15-16 Màu trong

men chủ yếu là màu đỏ đậm, màu xanh đồng, màu lam nhạt

Theo thứ tự trong nước và nước ngoài đối chiếu với một số

gốm cổ ở Việt Nam phát hiện tại Nhật Bản, Nam Dương, Phi

Trang 12

Luật Tân, càng xác minh loại gốm này xuất bán tại các vùng Đông Nam Á khá nhiều ở

thời điểm trên Hiện vật gốm men màu trên men còn sót lại ở Việt Nam rất hiếm Vịên

bảo tang lịch sử còn giữ được một bát miệng loe, màu trên men đã bị bong nhiều Sở văn hoá Hà Nội còn giữ được một đĩa to vẽ kỳ lân, màu cũng đã bị bong ít nhiều

Gốm nhiều men màu, thịnh nhất và đẹp nhất ở thế kỷ 10, 17 Giai đoạn này, nghệ thuật điêu khắc gỗ ở các đình chùa đạt đến đỉnh cao Gốm dùng vào việc thờ cúng cũng bắt chước điêu khắc gỗ; rất nhiều lư hương, chân đèn, gốm trạm trỗ công phu theo kiểu nghi môn, cửa võng, với đề tài rồng, phượng, hạc, tôm, cá, người… y hệt kiểu chạm gỗ đương

thời hiện vật được phủ các màu men vàng đậm, xanh đồng, lam, trắng ngà, chảy bong và trong suốt quyện vào nhau; lại có mảng để mộc không men Tất cả tạo nên hoà sắc quí và đẹp đặc biệt Việt Nam

Sau này, gốm nhiều men màu không được đẹp như trứơc, như gốm tran g trí chùa Hưng

Ký (Hà Nội) hay gốm men màu ở Biên Hoà, Lái Thiêu (thành phố Hồ Chí Minh) Loại men này đã chuyển sang một công thức khác, tuy dễ làm, nhưng nước men bị đục như nước sơn tây, hạn chế diễn tả được chiều sâu của gốm

G ốm trong kiến trúc:

Đẹp củ gốm Việt Nam không chỉ trong đồ dùng, mà cả trong kiến trúc Năm 1937, trong

cuộc khai quật di chỉ ở chùa Vạn Phúc (Phật Tích), tìm thấy các loại gạch và đá chạm trỗ hình rồng, phượng, hoa văn thế kỷ 11 Có viên gạch còn ghi rõ niên hiệu dựng tháp “Năm Long Thuỵ Thái Bình thứ 4, triều vua thứ 3 nhà Lý” (1057) Văn bia của ngôi chùa cũng ghi rõ “vị hoàng đế thứ 3 của nhà Lý (Lý Thánh Tôn ) năm Long Thuỵ Thái Bình thứ 4 cho xây dựng một ngọn bảo tháp cao 10 trượng (42m) và một pho tượng thếp vàng cao 6 xích (2,4m) Tháp chạp (1940), cuộc khai quật thứ hia tìm thấy chân tháp năm sát mặt đất,

mỗi chiều dài 8,5m còn nguyên vẹn các lớp tường và chân tháp dày 2,75m, xây bằng nhiều loại gạch kích thước khác nhau…

Tại Vĩnh Phúc, tháp gạch Bình Sơn xây vào thế kỷ 14, với công trình chạm trỗ cũng rất công phu; gồm 14 tầng, cao và to bằng nửa tháp Vạn Phúc Trong những năm giặc Mỹ

bắn phá ác liệt; chính phủ ta vẫn cho tu sửa lớn vì tháp đổ Qua tu sửa, phát hiện tháp này

đã một lần bị xáo trộn để xây lại vào thời Lê (do có số gạch thay thế có hoạ tiết muôn hoa,

và do gạch một số tầng thấy được xếp lại lẫn lộn) Qua nghiên cứu tháp Bình Sơn và

Trang 13

những mẫu gạch ở tháp chùa Vạn Phúc; cũng như ở một số nơi khác, có thể hình dung lối làm tháp cổ ở Việt Nam như sau:

Tháp gạch chạm nổi ở Việt Nam là loại kiến trúc khá quen thuộc thời xưa Có những phường tho chuyên xây tháp khá đồng bộ

Do quá quen thuộc, nên kiểu cách và mẫu trang trí trên tháp chỉ cần được phát thảo sơ qua các viên gạch ướt tại công trường làm tháp Qua đó các nghệ nhân đã lĩnh ngộ kiểu cách, kích thước để tiến hành mọi công việc xây tháp Đây là lối sáng tạo dân gian, dùng trí tưởng tượng là chính, đồ án là phụ

Việc xây lớp gạch trang trí bên ngoài của tháp là làm thành từng lớp đắp nổi dính liền 4

mặt với nhau Sau đó, tuỳ tình hình mà cắt mảnh không đều để đem nung Nhờ thế mà nhìn chung toàn bộ tháp, các ô gạch không đều đã tạo nên cảm giác thoải mái, tuỳ tiện trong cái thế cân đối chung

Lối xây dựng tháp Bình Sơn khác lối xây dựng tháp Chàm xưa kia Tháp Chàm thường xây ít nhất độ dày là 3m Người ta xây gạch lớp ngoài rất điều nhau với một chat vữa hết

sức mỏng và chất kết dính, hiện chưa tìm ra công thức Chỉ khi nào xây gạch xong, người

ta mới đục chạm lên tháp đã tạo nên hình nổi trang trí rất tin xảo Hiện có một số tháp còn

để lại dấu vết đục chạm xưa xong ở hai mặt, chứng tỏ nhận định này là đúng, có giả thuyết cho rằng trước đây tháp được chạm trổ khi còn ướt, rồi phủ chất đốt để nung, giả thuyết này chỉ xét riêng về phản ứng lý hoá, cũng đã thấy hoàn toàn không đứng vững Ngoài những tháp lớn, còn khá nhiều tháp nhỏ có phủ men xanh đồng rất đẹp: “tháp xanh” cạnh tháp Bình Sơn, hiện còn để lại một mẫu gạch đất trắng men xanh hình cánh sen đắp nổi, cùng kiểu cách với tháp Bình Sơn, Tháp gạch men xanh phía sau chùa Phổ Minh (Hà Nam Ninh) còn khá nguyên vẹn nhưng men đã tróc gần hết Một số tháp men xanh nhỏ bị đổ nát trên núi Yên Tử hiện còn dấu vết… Bệ thờ đất nung chạm nổi chùa Mui (Hà Sơn Bình) thành miệng giếng nước cánh sen (Hải Hưng) cũng đều là n hững công trình kiến trúc đẹp và hiếm có, còn giữ lại được đôi phần

Nhìn chung về kiến trúc, thì những công trình cổ đại khá công phu, nhiều kỹ thuật phức

tạp, nhiều phong cách nghệ thuật vừa đồ sộ, vừa tinh tế, chỉ một loại gạch nung mà không đơn điệu Trong thời đại ngày nay, nếu biết phát triển truyền thống kiến trúc xưa để áp

dụng những đài kỷ niện lớn thì chắc chắn sẽ đem lại kết quả lớn

Trang 14

Tìm hiểu nghệ thuật gốm Việt Nam đòi hỏi nhiều công phu, nhiều thời gian Trong hàng

chục năm qua, những công việc sưu tầm, đối chiếu, hệ thống hoá tư liệu và hiện vật gốm;

những công việc, thể nghiệm các loại gốm cổ truyền, những kết quả của nhiều cuộc khai

quật di chỉ, đã thực sự giúp ta khẳng định quá trình phát triển nghệ thuật gốm Việt Nam thêm rõ rang và chính xác, có cơ sở để loại bỏ những đoán định sai lầm về gốm Việt Nam

do vô tình hay dụng ý xấu của một số học giả nước ngoài trước đây Trong tương lai, việc khai quật được tiến hành đồng đều khắp cả nước, việc phát triển nhiều lò gốm xưa điển hình; sẽ bổ sung dần lịch sử nghệ thuật gốm Việt Nam phong phú và giàu tính khoa học hơn

Phát huy truyền thống xưa, đưa nghệ thuật gốm hiện đại đến mứt cao hơn trong việc phục

vụ nhiều mặt của cuộc sống xã hội ngày nay Đó là xu hướng chung mà nhiều nước trên

thế giới đang đề cập tới Đó cũng là yêu cầu mục đích của nghệ thuật gốm Việt Nam hiện còn nhiều khả năng tiềm tang, đang chờ đón những ngày nở rộ

Tìm hi ểu về gốm thời đại Hùng Vương (Nam Sơn)

Phần lớn các dụng cụ gốm đã xuất hiện cách đây khoảng sáu, bảy nghìn

năm Các nhà khảo cổ gọi đó là thời kì đồ đá mới Còn các nhà sử học

gọi đó là giai đoạn công xã thị tộc Nhưng đến thời đại Đồng Thau

(cách đây khoảng bốn, nam nghìn năm), dụng cụ gốm mang nhiều tên

mới, chẳng hạn có nồi miệng loe vai tròn đáy tròn, nồi miệng loe vai

tròn đáy bằng, nối đáy bằng vai có gờ cao, nối miệng loe gãy vai có

góc,… có vò miệng loe, có vai gãy có tai, vò có chân, vò đáy lồi, vò đáy

bằng có các loại cốc chân cao, bát chân cao, bát chân thấp, bình miệng loe hình lẵng hoa, v.v… Tiến them một bước, gốm thời kỳ này có them bộ mặt mới là loại đồ d8ựng có nắp đậy để bảo quản ngũ cốc, chống loài gặm nhấm

Về tạo dáng, gốm văn hoá Phùng Nguyên dáng thanh, thành mỏng và thường phát triển chiều cao; gồm Đồng Đậu dáng lùn do phần than được mở rộng Nếu như trong nền văn hoá Gò Mun có loại nồi miệng gãy loa bằng, vò vai gãy co tai thì trong nền văn hoá Đông Sơn có những loại hình đơn giản hơn, không có xu hướng tạo thành góc gãy nữa

Nhìn chung, hình dạng gốm thời đại Đồng Thau đẹp hơn, vững chắc hơn so với gốm thời đại đồ đá mới

Trang 15

Trong thời đại đồ đá mới, ông cha ta chưa biết sử dụng bàn xoay để nặn gốm giống như trong thời đại Đống Thau Phương pháp dùng bàn xoay để làm gốm đóng vai trò chủ yếu trong thời đại Đồng Thau Đó là một cải tiến rất quan trọng của ông cha ta trong quá trình lao động và sản xuất Khi con người biết dùng bàn xoay thì chẳng những năng suất lao động tăng nhanh mà chất lượng sản phẩm gốm cũng tốt hơn và đẹp hơn, độ dày mỏng thành gốm điều nhau Ưu điểm nổi bật của bàn xoay là có thể tạo ra những đồ gốm có kích thước lớn nhưng thành gốm vẫn rất mỏng

Chất liệu gốm trong thời đại Đồng Thau không thuần nhất, có nơi dùng đất sét pha cát hạt

to, có nơi pha cát hạt nhỏ, lại có nơi pha bã thực vật Tuy vậy pha chất độn thế nào đó để

gốm đi nặn xong đem phơi để gốm không bị nứt, đem nung không bị méo mó biến dạng

và khi nung xong gốm được rắn, bền, pha thế nào để mặt gốm không thô mà mịn Mịn là

một tiêu chuẩn đẹp của gốm Muốn đạt được những điều kiện pha trộn trên, ông cha ta đã

phải trải qua một quá trình lao động sáng tạo, dày công tích luỹ kinh nghiệm

Nhìn chung màu sắc gốm thời đại Đồng Thau khá phong phú: Gốm màu trắng mốc, gốm màu vàng, vàng nhạt, gốm màu đỏn nâu, đỏ nhạt, màu đen… Thậm chí ngay một dụng cụ

gốm cũng có nhiều màu, có chổ màu đỏ nâu, có chổ màu xám đen Màu sắc của gốm phụ thuộc vào chất độn, cách nung và do độ nung quyết định nữa Ngoài ra con người đã sử

dụng một thứ bột màu xoa hoặc rắc lên mặt gốm còn ướt để tạo ra màu sắc vừa ý họ Gốm Phùng Nguyên có xương màu đen, mặt gốm hoặc màu nâu đỏ hoặc màu đen, gốm Đông Sơn khoác “chiếc áo” màu nhạt hoặc xám tro Còn gốm Gò Mun vẫn giữ nét mộc mạc tự nhiên của đất

Hầu hết gốm thời đại Đồng Thau đều được nung với mức độ khác nhau Gốm Phùng Nguyên có độ nung thấp hơn đồ gốm Đống Đậu; Gốm Đồng Sơn có nhiệt độ nung cao hơn đồ gốm Gò Mun Tuy vậy, độ nung gốm ở thời đại Đồng Thau không vượt quá 900độ Nói đến gốm không thể không nói đến hoa văn Vì nó là một tiêu chuẩn về cái đẹp, là dấu

ấn quan trọng để phân biệt gốm của nền văn hoá này với gốm của nền văn hoá kia Bằng

một chiếc que cũng có thể là một cọng rơm, cọng cỏ, người xưa vạch lên trên mặt gốm

những nét cong uyển chuyển, mền mại, những đường chìm sắc sảo Tất cả các đường nét

đó phối hợp với nhau một cách hài hoà sinh động.Người nghệ sĩ gốm, vốn ưa cái đẹp, giàu óc tưởng tượng đã trang trí trên cổ, miệng, thân gốm nhiều đồ án hoa văn tinh tế mà

Trang 16

ngày nay nhiều nhà khảo cổ phải mất nhiều tâm trí để tìm hiểu ý nghĩa của nó Nhìn chung, hoa văn gốm thời kỳ này rất phong phú: Hoa văn chấm tròn viền hai bên những đường ngang dọc, văn hình tam giác, hình thoi, văn các đường gãy khúc liên hoàn, văn hình ô vuông, văn chữ C, chữ X, văn hình mỏ neo, hình giun, hình lá cây , văn khuôn

nhạc, văn hình chim, hình cá…

Nhìn riêng từng giai đoạn thì hoa văn gốm Phùng Nguyên, gốm Gò Mun có xu hướng phát triển, mở rộng nhiều đồ án Còn hoa văn gốm đông Sơn có xu hướng đơn giản hoá,

chỉ phác hoạ vài nét song ở miệng và ở cổ thôi Một số đồ án được coi là đặc trưng của

gốm Phùng Nguyên như: văn chử S, chữ C, văn hình mỏ neo… không thấy xuất hiện ở

gốm Gò Mun

Chung quanh vấn đề hoa văn, mỗi người giải thích theo cách hiểu của mình, chẳng hạng

co người cho rằng hoa văn chữ S tượng trưng cho sấm chớp, hoa văn vạch thẳng song song, vạch xiên tượng trưng cho mưa miền nhiệt đới, hoa văn hình tam giác tượng trưng cho đồi núi, hoa văn hình vuông, hình quả tram tượng trưng cho ruộng, ao, đầm…

Thật ra nếu tìm một hình ảnh nào đó để giải thich hoa văn trên mặt gốm như trên thì e không chính xác Hoa văn là những trang trí đường viền cho đẹp mắt, thấy nó giống hình

học gọi là hình học, thấy nó giống khuôn nhạc gọi là khuôn nhạc, chứ lúc bấy giờ nước ta

co hình học có khuôn nhạc mới đâu để người xưa phản ánh lên mặt gốm?

Những hoa văn chử S, văn hình tam giác, văn chấm tròn,…trang trí trên đồ gốm được lăp

đi lặp lại nhiều lần trên trống đồng Ngọc Lũ, trống đồng Hoàng Hạc, Thạp đồng Đào

Thịnh gợi cho ta một ý niệm giữa kỉ thuật đồ gốm và kỉ thuật đồ đồng ở Việt Nam cũng

xuất hiện trong thời đại Đồng Thau và chủ nhân của nó cũng là người bản địa Các học

giả phương Tây, với ý đồ xuyên tạc lịch sử dân tộc ta, nói là kỉ thuật đồ gốm và đồ đồng

Vịêt Nam khác nhau về thời đại

Tóm lại, khi các dân tộc thế giới biết sáng tạo đồ gốm để sử dụng thì dân tộc ta đã biết sáng tạo đồ gốm Đồ gốm là móc chuyển biến quan trọng trong lịch sử tiến hoá của nhân

loại: con người đã từ giả cuộc sống lang thang hái lượm, săn bắt của bày người nguyên thuỷ để sống định cư, trồng trọt, chăn nuôi

Ở nước ta, những mảnh gốm được xuất hiện nhiều nhất trong nền văn hoá Bắc Sơn tức là cách ngày nay khoảng 6000- 2000 năm trước Công Nguyên

Trang 17

Trải qua một quá trình lao động sáng tạo lâu dài, ông cha ta không ngừng cải tiến, nâng

cao làm cho ngành gốm Việt Nam nổi tiếng trên thế giới

G ốm thời Lý (Đồ gốm trong Hoàng Thành Thăng Long)

Những đồ gốm thời Lý tìm được trong khu vực Hoàng Thành là những bằng chứng quan

trọng để có thể nói rằng: thời Lý Việt Nam cũng có thể sản xuất được những đồ gốm tin

xảo không thua kém đố gốm tống Trung Quốc Trước đây khi chưa có những bằng chứng

này, nhiều học giả nước ngoài vẫn nghĩ rằng: Ngoài gốm hoa nâu thì các loại gốm khác

của thời Lý được du nhập từ Trung Quốc Họ không tin thời Lý đã có thể sản xuất được

những loại gốm men trắng và men ngọc tin xảo như gốm thời Tống Nhiều sưu tập gốm

Việt Nam thời Lý do người Pháp đào được tại Thăng Long vào đầu thế kỷ XX được gọi là

gốm Tống với hàm nghĩa đó là đồ gốm Trung Quốc thời Tống Một số học giả Việt Nam

cũng từng đưa ra quan điểm tương tự Họ cho rằng thời Lý công nghệ sản xuất gốm chưa

phát triển, do đó những loại gốm men trắng và men xanh ngọc của thời kỳ này thường

được xếp vaò hệ gốm Tống

Chậu gốm men trắng thời Lý Chậu hoa nâu lớn trang trí văn dây lá thời Lý Cao 24,3cm; ĐKM 25,2cm Cao 21cm, ĐKM 48,5cm

Nhưng những quan điểm đó giờ đây đã không còn đứng vững bởi những chứng cứ mới

đầy sức thuyết phục được tìm thấy tại khu vực khai quật Tại nhiều vị trí, các nhà khảo cổ

đã tìm thấy gốm sứ cao cấp men trắng, men xanh lục, men ngọc, men nâu và men vàng

thời Lý

Men trắng Lý có độ trắng mịn và óng mượt như gốm Tống và phần nhiều về chất lượng

đã đạt được tới trinh độ sứ như sứ Tống Nhiều tiêu bản cho thấy gốm thời Lý cũng sản

Trang 18

xuất loại gốm men trắng xanh và có hoa văn như gốm Nam Tống lò Cảnh Đức Trấn Sự khác nhau giửa gốm trắng Tống và gốm trắng Lý chủ yếu được nhìn nhận qua sắc độ đậm

nhạt của màu men và xương gốm và kỹ thuật tạo dáng.Đây cũng là đặc điểm khó phân

biệt giữa gốm trắng Lý đích thực, thuần Việt qua đồ án trang trí hình rồng và hoa lá mà phong cách của nó giống hệt hình chạm khắc trên đá và kiến trúc chùa, tháp thời Lý (tháp Chương Sơn, chùa Phật Tích), chắc chắn ta sẽ cảm nhận được đầy đủ và rõ ràng hơn về

gốm men trắng thời Lý

Mảnh đài sen-men vàng Mảnh tháp sứ trắng trang trí tiên Mảnh bát sứ cao cấp trang

Thời Lý nữ(Apsara) thời Lý cao 13,5cm trí văn khắc chìm thời Lý

Bị méo do nung quá lửa

Mảnh bệ tháp trắng trang trí hình rồng (Hố Bia) và mảnh bệ tháp trang trí hình tiên nữ (Apsara) (Hố B16) là minh chứng sinh động, cho thấy trình độ phát triển rất cao của công nghệ sản xuất đồ sứ trắng thời Lý Bằng chứng thuyết phục khác là trong số đồ trắng Lý tìm được trong Hoàng Thành có những loại bát, đĩa, nắp hộp, đài sen… bị méo hoặc cháy

do quá lửa cho th ấy nó được sản xuất tại chổ Suy đoán này được khẳng định rõ khi tại các hố ở khu D đã phát hiện được hàng nghìn mảnh bao nung gốm cùng nhiều loại con

kê, dụng cụ thử men,đặc biệt là những đồ gốm lớn bị sống men, như chiếc đĩa có đường kính miệng 39,5cm ở hố khu D5, cho thấy khả năng có những lò sản xuất gốm thời Lý ở đâu đó quanh khu vực này

Bằng chứng quan trọng gốm men ngọc Lý là nhóm đất, đĩa trang trí văn in hoa cúc dây như kiểu gốm Tống và nhóm bát, đĩa khắc chìm hoa sen mang phong cách đặc trưng Việt Đây là loại gốm có chất lượng cao, men phổ biến có màu xanh ngọc sắc đậm, xương gốm

trắng mịn, có nhiều điểm khác biệt so với gốm thời Trần về kỹ thuật tạo chân đế Bằng

Trang 19

chứng sản xuất tại chỗ của loại gốm này được khẳng định rõ qua những đồ gốm phế thải, đặc biệt qua những mảnh khuôn in hoa cúc dây được phát hiện ở hố D6 Hoa văn trên khuôn in này có phong cách như hoa văn trên đá men ngọc tìm thấy trong lòng giếng từ

thời Lý ở hố A10 và cả hai đều phản ánh sự ảnh hưởng khá đậm phong cách trang trí hoa cúc dây của gốm Tống Trung Quốc, có niên đại từ năm 1090-1096 Dựa vào những bằng

chứng tin cậy này ta có thể nhận diện chân xác về gốm men ngọc Lý Phát hiện có ý nghĩa

lớn về gốm thời Lý trong Hoàng Thành Thanh Long là nhóm đồ gốm men xanh lục (vert glazed) Đây là dòng gốm có màu men quyến rũ, hoa văn trang trí đẹp với các đề tài hoa

lá, trong đó có những đồ tin sảo trang trí hình rồng Chiếc nắp hộp tìm thấy ở hố A9MR là

một trong những tiêu bản đặc sắc, cho thấy sự phát triển cao của gốm men xanh lục Lý

Nắp có đường kính 18,5cm ở giữa trang trí nổi hình con rồng uốn 18 khúc nằm trong vòng tròn, xung quanh là dải văn mây hình khánh hay văn như ý, diềm ngoài cùng là dải văn chấm tròn trổ thủng, nên men dồn động không đều và tạo nên những mảng màu đậm

nhạt khác nhau rất sinh động Sự tinh mỹ và phong cách thể hiện hình rồng trên nắp hộp này giống như hình rồng chạm trên đồ đá tròn trang trí trên tháp Chương Sơn (Nam Định)

có nhiều loại không trang trí hoa văn nhưng vẻ đẹp của hình dáng màu men rất được chú

ý Gốm thời Lý thường thanh thoát, trang nhã trong hình khối nhưng lại rất cầu kỳ, tinh

Trang 20

mỹ trong từng đường nét hoa văn trang trí Đồ án trang trí phổ biến là hoa sen, hoa cúc hay hình rồng, tiên nữ và văn như ý Các đề tài này mang đậm yếu tố Phật giáo và một số

bộc lộ khá nhuần nhuyễn đến mức tinh tế nghệ thuật gốm thời Tống, làm cho sự phân biệt nhiều khi khó khăn Nhưng bên cạnh đó, nhiều mẫu hình, nhiều kiểu dáng, đặc biệt là cách trang trí diềm văn cánh sen đắp nổi hay diềm văn đường tròn nhỏ mà ta gặp phổ biến trên rất nhiều đồ gốm Lý lại cho thấy rõ thêm nét riêng biệt của đồ gốm truyền thống Việt Nam Có ý kiến cho rằng những sản phẩm gốm này được sản xuất nhằm phục vụ cho tầng

lớp trên của xã hội đương thời, do vậy nó thường có kiểu dáng đẹp, hoa văn trang trí cầu

kỳ và mang tính nghệ thuật cao Suy nghĩ này không phải là không có cơ sở bởi đã có quá nhiều đồ gốm hoa nâu tìm thấy được phần lớn và chủ yếu trong mộ các quan lang Mường Nhưng nếu so sánh những đồ gốm hoa nâu tim được trong Hoàng Thành thường có chất lượng cao, đặc biệt là ngoài các loại vò, chậu, thạp trang trí hoa sen, dây lá, ở đây còn tìm

thấy nhiều loại thạp lớn trang trí hình rồng Bên cạnh đó còn có nhiều loại nắp hộp hay bát, đĩa trang trí hình rồng, hoa sen dây theo lối “nền tô men nâu, hoa văn men trắng” với đường nét chạm khắc uốn lượn mềm mại, tinh xảo, bộc lộ vẻ đẹp trang trọng quí phái

Nắp hộp men xanh lục thời Lý trang trí nổi hình rồng và văn như ý ĐK: 18,5cm

Dựa vào yếu tố này so sánh với những sưu tập gốm phát hiện được bên ngoài khu vực Thăng Long cho thấy đây có thể là những đồ ngự dụng trong Hoàng cung

Phát hiện hưu này sẽ rất hữu ích cho việc nghiên cứu về gốm thời Lý, đặc biệt là những

đồ gốm dùng trong Hoàng cung do lò Thăng Long sản xuất Điều này rất quan trọng bởi

từ trước đến nay gốm thời Lý và nguồn gốc sản xuất thời kỳ này vẫn là câu hỏi lớn đối

với nhà khoa học trong và ngoài nước

Trang 21

Trước đây cũng đã từng có những ý kiến quả đoán về lò gốm thời Lý ở Thăng Long và

Thanh Hoá, nhưng do không có bằng chứng chắc chắn, nên không ai chỉ ra được loại hình

gốm thời Lý sản xuất tại những lò này Mặt dù chưa tìm thấy dấu vết lò nung gốm, nhưng

dựa vào những mảnh gốm phế thải và những dụng cụ sản xuất gốm (bao nung, con kê,

khuôn in hoa văn…) có thể tin rằng khu vực kinh đô Thăng Long có những lò chuyên sản

xuất gốm phục vụ cho Hoàng Cung

Cũng từ phát hiện mới này, chúng ta đã có thể biết rằng ngoài đồ gốm hoa nâu, thời Lý

còn sản xuất nhiều loại gốm cao cấp khác như gốm men trắng, gốm men xanh lục, gốm

men xanh lục, đặc biệt là gốm men vàng Gốm men vàng là phát hiện rất mới mẻ và

dường như chỉ mới tìm thấy được trong khu vực Hoàng Thành Thăng Long Nhiều nhà

khoa học nghĩ gốm men vàng chỉ có ở thời Lê, sau thời Nguyễn Loại men đó thường thấy

trên các vật liệu kiến trúc như ngói hoàng lưu ly (ngói men màu vàng) lợp trên mái các

cung điện Nhưng cuộc khai quật này lại tìm thấy gốm men vàng là đồ gia dụng được tạo

dáng đẹp, hoa văn trang trí cực kỳ tinh xảo và nhiều khả năng đây cũng là đồ nhự dụng

Tìm hi ểu về lịch sử hình thành và phát triển của gốm Bát Tràng, một trong những

làng g ốm nổi tiếng của Vịêt Nam:

Gốm Bát Tràng là tên gọi chung của các loại đồ gốm sản xuất tại làng Bát Tràng, một

làng gốm cổ triền nổi tiếng ở Việt Nam

S ự hình thành làng gốm:

Theo sử biên niên có thể xem thế kỷ 14-15 là thời gian hình thành làng gốm Bát Tràng

Nhưng theo những câu chuyện thu nhập được ở Bát Tràng thì làng gốm này có thể ra đời

sớm hơn Tại Bát Tràng đến nay vẫn lưu truyền những câu chuyện huyền thoại về nguồn

gốc của ngành gốm như sau:

Vào thời nhà Lý, có ba vị thái học sinh là Hứa Vinh Kiều (hay Cảo), Đào Trí Tiến và Lưu

Phu Tú (hay Lưu Vĩnh Phong) được cử đi sứ Bắc Tống Sau khi hoàn tất sứ mệnh, đường

trở về nước qua Thiều Châu(Quảng Đông) (hiện nay tại Triều Châu, tỉnh Quảng Đông,

Trung Quốc) gặp bão,phải ở lại Ở đây có lò gốm nổi tiếng, ba ông đến thăm và học được

một s ố kỷ thu ật đem v ề tr �yền bá cho dâ� chúng, cho quê hương.Hứa Vĩnh Kiều truyền cho Bát Tràng nước men rạn trắng Đào Trí Tiền truyền cho Thổ Hà (huyện Việt Yên,

tỉnh Bắc Giang) nước men sắc màu vàng đỏ Lưu Phương Tú truyền cho Phù Lãng (huyện

Trang 22

Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh) nước men mau đỏ, màu vàng thẩm Câu chuyện trên cũng được truyền ở Thổ Hà và Phù Lãng với ít nhiều sai biệt tình tiết Nếu đúng vậy, gốm Bát Tràng

đã có từ thời nhà Lý, ngang với thời Bắc Tống nghĩa là trước năm 1127

Theo ký ức và tục lệ của dân gian thì trong số các dòng họ ở Bát Tràng, dòng họ Nguyễn Ninh Tràng là cư dân bản địa và lâu đời nhất, nên được giữ vững tôn trọng ngôi thứ trong

lễ hội của làng Có ý kiến cho rằng Nguyễn Ninh Tràng là họ Nguyễn ở trường Vĩnh Ninh, một lò gốm ở Thanh Hoá nhưng chưa có tư liệu xác nhận Gia phả một số dòng họ

ở Bát Tràng như họ Trịnh, Lê, Vương, Phạm, Nguyễn…ghi nhận tổ tiên xưa ở Bồ Bát đi

di cư qua đây (Bồ Bát là Bồ Xuyên và Bạch Bát) Vào thời hậu Lê và đầu thời Nguyễn, xã

Bồ Xuyên và trang Bạch Bát thuộc tổng Bạch Bát, huyện Yên Mô, phủ Tri Yên, trấn Thanh Hoá ngoại Ngày nay, Bồ Xuyên và Bạch Bát là hai thôn của xã thành, huyện Tam Địêp, tỉnh Ninh Bình, vùng này có loại đất trắng rất thích hợp với nghề làm gốm Theo truyền thuyết và gia phả của một số họ như họ Vũ ở Bồ Xuyên ngày xưa, cư dân Bồ Bát chuyên làm nghề gốm từ lâu đời Điều này được xác nhận qua dấu tích của những lớp đất nung và mảnh gốm ken dày đặt tìm thấy nhiều ở vùng này

Năm 1010, vua Lý Thái tổ dời đô về Thăng Long , Thăng Long trở thành trung tâm chính

trị của nước Đại Việt Do nhu cầu phát triển của kinh thành, nhiều thương nhân thọ thủ công từ các nơi tìm về Thăng Long và tác động mạnh đến hoạt động kinh tế của nhiều làng xung quanh, trong đó có làng Bát Tràng Đặt b iệt vùng này có nhiều đất sét trắng,

một nguồn nguyên liệu tốt để sản xuất gốm Một số thợ gốm Bồ Bát đã di cư ra đây cùng

họ Nguyễn Ninh Tràng lập lò gốm, gọi là Bạch phổ phường (phường Đất Trắng) Những đợt di cư tiếp theo đã biến Bát Tràng từ một làng gốm bình thường trở thành một trung tâm gốm nổi tiếng được triều đình chọn cung cấp đồ cống phẩm cho nhà Minh

Đến nay chưa thấy sách sử nào xác nhận tiểu sử của ba nhân vật trên cũng như khẳng định sự hình thành của làng Những công trình khai quật khảo cổ học trong tương lai có

thể thấy rõ hơn bề dày lịch sử và những di tích của làng gốm Bát Tràng Chỉ có điều chắc

chằn gốm Bát Tràng xuất hiện từ rất sớm, vào giai đoạn cuối của văn hoá Hoà Bình đầu văn hoá Bắc Sơn.Trong quá trình phát triển nghề gốm, đương nhiên có nhiều quan hệ giao lưu với gốm sứ Trung Quốc

Nh ững thời kỳ phát triển của gốm Bát Tràng:

Trang 23

Th ế kỷ 15-16

Chính sách củ nhà Mạc đối với công thương nghiệp trong thời gian này là cởi mở, không

chủ trương ức thương như trước nên nền kinh tế hàng hoá có điều kiện phát triển thuận lợi hơn;nhờ đó, sản phẩm gốm Bát Tràng được lưu thông rộng rãi Gốm Bát Tràng thời Mạc

có nhiều sản phẩm văn minh ghi rõ năm chế tạo, tên người đặt hàng và người sản xuất Qua những văn minh này cho thấy người đặt hàng bao gồm cả một số quan chức cao cấp quí tộc nhà Mạc như công chúa Phúc Tràng, phò mã Ngạn quận công, Đà quốc công Mạc

Ngọc Liễn, Mỹ quốc công phu nhân… Người đặt hang trải ra trên một không gian rộng

lớn bao gồm nhiều phủ huyện đồng bằng Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ

Th ế kỷ 16-17

Sau những phát kiến địa lý cuối thế kỷ 15, nhiều nước phát triển của Tây Âu tràn sang phương Đông Các nước Bồ Đào Nha, Anh, Pháp… thành lập công ty, xây dựng căn cứ ở phương Đông để buôn bán Hoạt động hàng hải mậu dịch Đông Nam Á vốn có lịch sử lâu đời càng trở nên sôi độn, lôi cuốn các nước trong khu vực vào hệ thống buôn bán Châu Á

và với thị trường thế giới đang hình thành

Sauk hi thành lập nhà Minh (Trung Quốc) chủ trương cấm các tư nhân buôn bán với nước ngoài làm cho việc sản xuất gốm sứ nổi tiếng của Trung Quốc bị hạn chế tạo điều kiện cho gốm Bát Tràng mở rộng thị trường ở Đông Nam Á Khi nhà Minh bãi bỏ chính sách

bế quan toả cảng (1567) nhưng vẫn cấm xuất khẩu một số nguyên liệu và mặt hàng quan

trọng sang Nhật Bản, đã tạo cho mối quan hệ buôn bán giữa Việt Nam và Nhật Bản đặt

biệt phát triển, qua đó nhiều đồ gốm Bát Tràng được nhập cảng vào Nhật Bản

Năm 1644 nhà Thanh (Trung Quốc) tái lập lại chính sách cấm vượt biển buôn bán với nước ngoài, đến năm 1684 sau khi giải phóng Đài Loan Trước thời gian đó, một số mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam, trong đó có đồ gốm Bát Tràng không bị hàng Trung Quốc

cạnh tranh nên lại có điều kiện phát triển mạnh

Thế kỷ 15-17 là giai đoạn phát triển mạnh mẽ của ngành sản xuất gốm xuất khẩu của Việt Nam, trong đó phía Bắc có hai trung tâm quan trọng và nổi tiếng là Bát Tràng và Chu Đậu- Mỹ Xá (các xã Minh Tân, Thái Tân, huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương) Lúc bấy

giờ, Thăng Long(Hà Nội) và Phố Hiến( nay thuộc tỉnh Hưng Yên) là hai đô thị lớn nhất

và cũng là hai trung tâm mậu dịch đối ngoại đạt nhất của Đàng Ngoài Bát Tràng có may

Trang 24

mắn và thuận lợi nằm bên bờ song Nhị (sông Hồng) ở khoảng giửa Thăng Long và Phố

Hiến, trên đường thuỷ nối liền hai đô thị này là cửa ngõ thông thương với thế giới bên ngoài Qua thuyền buôn Trung Quốc, Nhật Bản, các nước Đông Nam Á và các nước phương Tây, đồ gốm Việt Nam được bán sang Nhật Bản và nhiều nước Đông Nam Á, Nam Á

Cu ối thế kỷ 17- đầu thế kỷ 18

Việc xuất khẩu và buôn bán đồ gốm Việt Nam ở Đông Nam Á bi giảm sút nhanh chóng vì sau khi Đài Loan được giải phóng (1684) và triều đình Thanh bãi bỏ chính sách cấm vượt

biển buôn bán với nước ngoài Từ đó gốm sứ chất lượng cao của Trung Quốc tràn xuống

thị trường Đông Nam Á và đố gốm Việt Nam không còn đủ sức cạnh tranh, Nhật Bản sau

một thời gian đóng cửa để bảo vệ nguyên liệu quý như Bạc, Đồng, đã đẩy mạnh sự phát triển các ngành kinh tế trong nước như tơ lụa, đường, gốm sứ… mà trước đây phải mua

nhờ có được một thị trương tiêu thụ rộng rãi trong nước với những đồ gia dụng, đồ thờ,

đồ trang trí và gạch xây rất cần thiết cho mọi tầng lớp xã hội từ quí tộc đến dân thường Trong giai đoạn này, gốm Bát Tràng xuất khẩu giảm sút, nhưng làng gốm Bát Tràng vẫn

là một trung tâm sản xuất gốm truyền thống có tiếng trong nước

Trang 25

sản xuất trên cung cấp hàng trong nước, một số hàng mỹ nghệ và một số hàng xuất khẩu

Những nghệ sĩ nổi tiếng như ở Bát Tràng là Đào Văn Can, Nguyễn Văn Khiếu… đào tạo được nhiều thợ gốm trẻ cung cấp cho các lò gốm mới mở ở tỉnh

Sau năm 1986 làng gốm Bát Tràng có sự chuyển biến lớn theo hướng kinh tế thị trư ờng Các hợp tác xã lần lượt giải thể hoặc chuyển thành công ty cổ phần, những công ty lớn được thành lập nhưng vẫn còn tồn tại nhiều tổ sản xuất vả phổ biến là những đơn vị sản

xuất theo hộ gia đình Từ thôn Bát Tràng, nghề gốm nhanh chóng lang sang thôn Giao Cao và cho đến nay, cả xã Bát Tràng gồm hai thôn trở thành một trung tâm gốm lớn

Hiện nay sản phẩm gốm Bát Tràng càng phong phú và đa dạng, ngoài các mặt hàng truyền thống, các lò gốm Bát Tràng còn sản xuất những mặt hàng mới đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong Việt Nam như ấm, chén, bát vẻ hoa… kiểu mới, các vật liệu xây dựng, các loại sứ cách điện… và các sản phẩm theo yêu cầu của nước ngoài, sản phẩm Bát Tràng có mặt trên thị trường cả nước và được xuất khẩu sang nhiều nước Châu Á, Châu

Âu Bát Tràng cuốn hút nhiều nhân lực từ khắp nơi về sáng tác mẫu mã mới và cải tiến công nghệ sản xuất Một nghệ nhân đã bước đầu thành công trong việc khôi phục một số

đồ gốm cổ truyền những kiểu dáng và nước men đặc sắc thời Lý, Trần, Lê, Mạc…

Quy trình s ản xuất đồ gốm Bát Tràng

Để làm được đồ gốm người thợ gốm phải qua khâu chọn, xử lý và pha chế đất, tạo dáng,

tạo hoa văn, phủ men, và cuối cùng là nung sản phẩm Kinh nghiệm truyền đời của người

Chân đèn gốm tráng men lam, Gốm Bát Tràng- Lư Hương

Một loại men nổi tiếng của Bát Tràng

(ảnh chụp tại bảo tang lịch sử Vịệt Nam)

Trang 26

Gốm Bát Tràng- Men Lam Gốm Bát Tràng- Lọ Hoa Gốm Bát Tràng – Men

Hũ có nắp Lam – Bồng

dân gốm Bát Tràng là “nhất xương, nhì da, thứ ba dạt lò”

Người thợ gốm quan niệm hiện vật gốm giống như một cơ thể sống, một vũ trụ thu nhỏ trong đó kết hợp hài hoà của yếu tố Ngũ hành là Kim, Mộc, Thuỷ, Hoả, Thổ Sự phát triển của nghề nghiệp được xem như là sự hanh thông của ngũ hành mà sự hanh thông của

ngũ hành lại nằm trong quá trình lao động sáng tạo với những qui trình kỹ thuật đặt chế, chuẩn xác

Quá trình t ạo cốt Gốm ở Bát Tràng:

Ch ọn đất:

Điều quan trọng đầu tiên để hình thành lên các lò gốm là nguồn đất sét làm gốm Những trung tâm sản xuất gốm thời cổ thường là sản xuất trên cơ sở khai thác nguồn đất tại chỗ Làng gốm Bát Tràng cũng vậy, sở dĩ dân làng gốm Bồ Bát chọn khu vực Bát Tràng hiện nay làm đất định cư phát triển nghề gốm vì trước hết họ đã phát hiện ra mỏ đất sét trắng ở đây Nguồn đất sét trắng tạo chỗ đã cạn kiệt nên người dân Bát Tràng buột phải đi tìm nguồn đất mới Không giống như tổ tiên dân Bát Trành vẫn định cư ở vị trí giao thông thuận lợi và thông qua dòng sông bến cảng, dùng thuyền toả ra khắp nơi khai thác các nguồn đất mới Từ Bát Tràng ngược sông Hồng lên vùng Tây Sơn, Phúc yên, rẽ qua sông Đuống, xuôi dòng kinh thầy, đến Đông triều, khai thác đất sét trắng ở Hồ Lao, Trúc thôn.(

Trang 27

Đất sét Truc thôn có độ dẻo cao, khó tan trong nước, hạt mịn, màu trắng xám, độ chịu lửa

ở khoảng 1650 độ C Tuy là loại đất tốt, được người thợ gốm Bát Tràng ưa dùng nhưng sét Trúc thôn vẫn có một số hạn chế như chứa hàm lượng oxit sắt khá cao, độ ngót khi sấy khô lớn và bản thân nó không được trắng)

X ử lý, pha chế đất:

Trong đất nguyên liệu thường có lẫn tạp chất, ngoài ra tuỳ theo yêu cầu của từng loại gốm khác nhau mà có thể pha chế đất khác nhau để tạo ra sản phẩm phù hợp Ở Bát Tràng, phương pháp xử lý đất truyền thống là xử lý thông qua ngâm nước trong hệ thống bể

chứa, gồm bốn bể ở độ cao khác nhau

Bể thứ nhất ở vị trí cao hơn cả là bể đánh, dùng để ngâm đất sét thô và nước (thời gian ngâm khoảng 3-4 tháng) Đất sét dướ tác động của nước sẽ bị phá vỡ kết cấu hạt nguyên thuỷ của nó và bắt đầu quá trình phân rã (dân gian gọi là ngâm lâu để cho đất nát ra) Khi đất đã “chin” (cách gọi dân gian), đánh đất thật đều, thật tơi để các hạt đất hoà tan trong nước tạo thành hỗn hợp lỏng, sau đó tháo hỗn hợp lỏng này xuống bể thứ hai, gọi là “bể

lắng” hay “bể lọc” Tại đây đất sét bắt đầu lắng xuống, một số tạp chất( nhất là các chất

hữu cơ) nổi lên, tiến hành loại bỏ chúng

Sau đó, múc hồ loãng sang bể thứ ba, gọi là “bể phơi”, người Bát Tràng thường phơi đất ở đây ba ngày, sau đó chuyển đất sang bể thứ tư là “bể ủ” Tại bể ủ, oxit sắt và các tạp chất

bị khử bằng phương pháp lên men (tức là quá trình vi sinh vật hoá khử các chất có hại trong đất) Thời gian ủ cáng lâu càng tốt

Nhìn chung, khâu xử lý đất của người gốm Bát Tràng thường qua nhiều công đoạn phức

tạp Trong quá trình xử lý, tuỳ theo từng loại gốm mà người ta co thể pha them cao lanh ở

mức độ nhiều ít khác nhau

T ạo dáng:

Phương pháp tạo dáng của người Bát Tràng là làm bằng tay trên bà n xoay Trong khâu

tạo dáng, người thợ gốm Bát Tràng sử dụng phổ biến lối “vuốt tay, be chạch” trên bàn xoay, trước đây công việc này thường vẫn do phụ nữ đảm nhiệm Thợ ngồi trên một cái

ghế cao hơn mặt bàn xoay rồi dùng chân quay bàn xoay và tay vuốt đất tạo dáng sản

phẩm Đất trước khi đưa vào bàn xoay được vò cho thật nhyễn, cuốn thành thoi rồi ném (“bắt nẩy”) để thu ngắn lại Sau đó người ta đặt vào mà giữa bàn xoay, vỗ cho đất dính

Trang 28

chặt rồi lại nén và kéo cho đất dẻo rồi mới “đánh cử” đất và “ra hương” chủ yếu bằng hai ngón tay ben phải Sau quá trình kéo đất bằng tay và bằng sành cho đến mứt cần thiết người thợ sẽ dùng sành dan để định hình sản phẩm Sản phẩm “xén sợi” và “bắt sợi” xong thì được cắt chân đưa ra đặt vào “bửng” Việc phự nữ dùng bàn xoay vuốt tạo dáng ban đầu của sản phấm là công việc bình thừơng phổ biến ở mỗi lò gốm cổ Việt Nam (không

chỉ riêng Bát Tràng) nhưng lại rất xa lạ với người thợ gốm phương Tây Tuy thế, kỹ thuật này đã mất dần và hiện nay không còn mấy người thợ gốm Bát Tràng còn có thể làm ông

việc này nữa “Be chạch” cũng là một hình thức vuốt sản phẩm trên bàn xoay nhẹ đà và

chủ yếu do thợ đàn ông đảm nhiệm

Người thợ “đắp nặn” gốm là người có trình độ kỹ thuật và mỹ thuật cao Có khi họ đắp

nặn một sản phẩm gốm hoàn chỉnh, nhưng cũng có khi họ đắp nặn từ phần riêng lẽ của

một sản phẩm sau đó tiến hành chấp ghép lại Hiện nay theo yêu cầu sản xuất gốm công nghiệp hay mỹ nghệ, nghệ nhân gốm công nghiệp hay mỹ nghệ, nghệ nhân gốm có thể

nặn một sản phẩm mẫu để đổ khuôn thạch cao phục vụ cho sản xuất

Việc tao hình sản phẩm gốm theo khuôn in (khuôn thạch cao hay khuôn gỗ) được tiến hành như sau: Đặt khuôn giữa bàn xoay, ghim chặt lại, làng long khuôn rồi ném mạnh đất

in sản phẩm giửa long khuôn cho bám chắt chân, vét đất lên lợi vành, quay bàn xoay và kéo cán tới mức cần thiết để tạo sản phẩm Ngày nay người thợ làng gốm Bát Tràng sử

dụng chủ yếu kỹ thuật đúchiện vật Muốn đúc trước hết phải chế tạo khuôn thạch cao Khuôn có cấu tạo từ đơn giản đến phức tạp Loại đơn giản là khuô n hai mang, tuỳ theo

mẩu của sản phẩm định tạo Cách tạo dáng này trong cùng một lúc có thể tạo ra hàng loạt

sản phẩm giống nhau, rất nhanh và giản tiện Ngoài ra, người ta còn dùng phương pháp

đổ rót: Hồ thừa hay hồ đầy để tạo dáng sản phẩm

Phơi sấy và rửa hàng mộc:

Tiến hành phơi sản phẩm mộc sao cho khô, không bị nức nẻ, không làm thay đổi hình dáng sản phẩm Biện pháp tôi ưu và xưa nay người Bát Tràng vẫn thường hay sử dụng là hong khô hiện vật trên giá và để nơi thoáng mát Ngày nay phần nhiều các gia đình sử

dụng biện pháp sấy hiện vật trong lò sấy, tăng nhiệt độ từ từ để cho nước bốc hơi dần dần

Sản phẩm mộc đã định hình cần đem “ủ vóc” và sửa lại cho hoàn chỉnh Người thợ gốm đặt sản phẩm vào mà trên bàn xoay nhẹ đà rồi vừa xoay bàn xoay vừa đẩy nhẹ vào chân

Trang 29

góc cho cân, dùng vùi vỗ nhẹ vào chân “vóc” cho đất ở chân vóc chặt lại và sản phẩm tròn trở lại (gọi là “lùa”) Người thợ gốm tiến hành các động tác cắt, gọt chỗ thừa, bồi đắp

chỗ khuyết, chắp các bộ phận sản phẩm (như vòi ấm, quai tách…), khoan lỗ trên các sản

phẩm, tỉa lại đường nét hoa văn và thuật nước cho mịn mặt sản phẩm Những sản phẩm

sữa lại mà không dùng bàn xoay thì gọi là “làm hàng bộ”, phải dùng bàn xoay thì gọi là

“làm hàng bàn”

Theo yêu cầu trang trí, có thể đắp thêm đất vào một vài vùng nào đó trên sản phẩm rồi cắt

tỉa để tạo hình (đắp phù đíêu), có khi phải khắc sâu các hoạ tiết trang trí trên bề mặt sản

phẩm…

Quá trình trang trí hoa v ăn và phủ men

K ỹ thuật vẽ:

Thợ gốm Bát Tràng dùng bút lông vẽ trực tiếp trên nền mộc các hoa văn họa tiết Thợ vẽ

gốm phải có tay nghề cao, hoa văn hoạ tiết phải hài hoà với dáng gốm, các trang trí hoạ

tiết này đã nâng nghề gốm lên mức nghệ thuật, mỗi cái là một tác phẩm Thợ gốm Bát Tràng cũng đã dùng rất nhiều hình thức trang trí khác, có hiệu quả nghệ thuật như đánh chì, bôi men chảy màu, vẽ men màu…

Gần đây, Bát Tràng xuất hiện kỹ thuật vẽ trên nền xương gốm đã nung sơ lần một, hoặc

kỹ thuật hấp hoa, một lối trang trí hình in sẵn trên giây decal, nhập từ nước ngoài Hai

kiểu này tuy đẹp nhưng không phải truyền thống của Bát Tràng Những loại này không được coi là nghệ thuật và sáng tạo trong di sản gốm Bát Tràng, cũng như gốm Việt Nam nói chung

Ch ế tạo men:

Men tro là men đặc sắc của gốm Bát Tràng, ngoài ra còn có men màu nâu, thành phần

loại men này bao gồm men tro cộng them 5% đá thối (chứa oxit Mangan) nghiền nhỏ rồi

trộn với men áo Men làm phát màu ở nhiệt độ 1250 độ C Đầ thế kỷ 17 người Bát Tràng dùng vôi sống, tro trấu và cao lanh chùa hội (thuộc Bích Nhôi, Kinh Môn,Hải Dương) có màu hồng nhạt điều chế thành một loại men mới là men rạn

Thợ gốm Bát Tràng thường quen sử dụng cách chế tạo men theo phương pháp ướt bằng cách cho nguyên liệu đã nghiền lọc kỹ trộn điều với nhau rồi khuất tan trong nước đợi đến khi lắng xuống thì bỏ phần nước trong ở trên và bã đọng ở dưới đáy mà chỉ lấy các “dị” lơ

Trang 30

lững ở giữa, đó chính là lớp men bong để phủ bên bề ngoài đồ vật Trong quá trình chế

tạo men, người thợ gốm Bát tràng nhận thấy để cho men dễ chảy hơn thì phải chế biến bột tro nhỏ hơn nhiều so với bột đất, vì vậy mà có câu “nhỏ tro to đàn”

Tráng Men:

Khi sản phẩm mộc đã hoàn chỉnh, người thợ gốm có thể nung sơ bộ sản phẩm ở nhiệt độ

thấp rồi sau đó mới tráng men hoặc dùng ngay sản phẩm mộc hoàn chỉnh đó trực tiếp tráng men lên trên rồi mới nung Người thợ gốm Bát Tràng thường chọn phương pháp tráng men trực tiếp lên sản phẩm mộc hoàn chỉnh Sản phẩm mộc trước khi đem tráng men phải được làm sạch bụi bằng chổi lông , những sản phẩm mà xương gốm có màu trước khi tráng men phải co một lớp men lót để che bớt màu của xương gốm, đồng thời

phải được tính toán tính năng của mỗi loại men định tráng nên từng loại xương gốm, nồng

độ men, thời tiết và mức độ khó của xương gốm… Kỹ thuật tráng men có nhiều hình thức như phun men, dội men lên bề mặt cốt gốm cở lớn, nhúng men với loại gốm cở nhỏ nhưng thông dụng nhất là hình thức láng men ngoài sản phẩm, gọi là “kìm men”, khó hơn

cả là hình thức quay men và đúc men Quay men là hình thức tráng men bên trong và bên ngoài sản phẩm cùng một lúc, còn đúc men thì chỉ tráng men trong long sản phẩm Đây là

những thủ pháp tráng men của ngừơi thợ gốm Bát Tràng, vừa là kỹ thuật vừa là nghệ thuật, được bảo tồn qua nhiều thế hệ, thậm chí đã từng là bí quyết trong nghề nghiệp ở đây

S ửa hàng men:

Người thợ gốm tiến hành tu chỉnh lại sản phẩm lần cuối trước khi đưa vào lò nung Trước

hết phải xem kỹ từng sản phẩm một xem có chỗ noà khuyết men thì phải bôi quệt men vào chổ ấy Sau đó tiến hành “cắt dò” tức cạo bỏ những chổ men dư thừa, công việc này

gọi là “sửa hàng men”

Quá trình nung

Khi công việc chuẩn bị hoàn tất thì đốt lò trở thành khâu quyết định sự thành công hay

thất bại của một mẻ gốm Vì thế giờ phút nhóm lò trở nên thiên liêngtrọng đại với người

thợ gốm Người thợ cả cao tuổi nhất thấp ba nén hương và thành kính cầu mong trời đất

và thần lửa phù giúp Việc làm chủ ngọn lửa theo nguyên tắt nâng dần nhiệt độ để lò đạt

Ngày đăng: 23/10/2022, 18:11