Lý do chọn đề tài tính cấp thiết của đề tài: Lễ hội là sinh hoạt văn hóa, tôn giáo, nghệ thuật truyền thống của cộng đồng, là một trong những di sản văn hóa tinh thần quí báu của ông c
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
Tổng quan lịch sử của đề tài
1.1.1 Lịch sử hình thành dân tộc Bahnar ở Kontum
Theo các nhà nhân chủng học thì người Ba Na có nguồn gốc thuộc chủng
Ba Na là một dân tộc thiểu số thuộc nhóm ngôn ngữ Môn-Khơ me; do sống rải rác trên một địa bàn rộng nên phong tục tập quán của người Ba Na có thay đổi ít nhiều tùy theo phong thổ từng địa phương và sự giao lưu với xã hội bên ngoài, nhưng những biến đổi đó không rõ rệt Ba Na là một trong những dân tộc thiểu số đông dân nhất ở Tây Nguyên; địa bàn cư trú của họ khá rộng, trải dài ở nam Kon Tum, bắc Gia Lai và phía tây tỉnh Bình Định Ở tỉnh Kon Tum, dân tộc Ba Na gồm 2 nhánh.
Rơ Ng đóng góp trong quá trình hình thành và phát triển của làng Kon Trang Or, một làng Bahnar nằm bên dòng sông Đăk Bla Theo truyền thuyết Bahnar, dân số làng khoảng trên 100 người và những người lớn tuổi có tên Mung, Ruxe, Loih và Jaxi; Mung, Ruxe, Loih vốn hung hăng, còn Jaxi hiền lành Do tranh chấp giữa các làng thường nổ ra, Mung, Ruxe và Loih hay tụ tập lực lượng để xâm phạm các làng lân cận, cướp bóc, bắt người làm nô lệ và đem bán đi nơi khác Jaxi, với bản tính hiền hậu và chân thật, không muốn tham gia đánh nhau nên thường bị đe dọa Jaxi có hai con trai là Jơ Rông và Uông; nhận thấy sự hung hổ của bọn kia, hai con trai không muốn ở lại làng Một hôm, Jơ Rông và Uông lên kế hoạch đánh nhau để bị trục xuất, và đúng như ý định, họ bị dân làng đuổi đi Hai anh em rời làng, đến một khu đất khác gần hồ nước và ven sông Đăk Bla; vùng đất nơi đây rất phì nhiêu và có tiềm năng phát triển.
Ở Kon Tum, nhờ sự thuận lợi và tinh thần lao động cần cù của hai anh em Jơ Rông và Uông hiền lành, chất phác, họ không gây mâu thuẫn hay chia rẽ và ngày càng làm ăn khấm khá, từ đó thu hút thêm nhiều người đến cư trú và hình thành một làng mới mang tên Kon Tum Trước đó, người Ba-na và các nhóm địa phương có nhiều cách phiên âm tên gọi khác nhau như Bahnar, Bâhnar, Tơ-lô, Bơ-nâm, Giơ-lơng, Rơ-ngao, Krem, Roh, Con-đe, Ala-công, Krăng, Bơ-môn, Kpăng-công, Y-lăng, Gơlar và Krem Tiếng Ba-na tương đối gần gũi với Xơ-đăng và Gié-Triêng; đây là ngôn ngữ chưa có thanh điệu nhưng vẫn bảo tồn nhiều yếu tố cổ về âm vực (register) Năm 1861, bộ chữ viết Ba-na đầu tiên được biên soạn tại Kon Tum.
Dân số Ba-na ở Việt Nam ghi nhận qua các kỳ điều tra cho thấy xu hướng tăng: năm 1979 là 109.063 người, năm 1989 là 136.859 người; theo tổng điều tra dân số ngày 01-04-1999, dân tộc Ba-na có 174.456 nhân khẩu (chiếm 0,23% dân số cả nước), trong đó ở tỉnh Kon Tum có 37.519 người (chiếm 8,1% dân số toàn tỉnh).
Trên địa bàn các huyện Đăk Glei, Đăk Tô và Đăk Hà của tỉnh Kon Tum, cùng thành phố Kon Tum, có nhiều địa điểm quan trọng như Pênh Sial Pênh thuộc xã Đăk Pét ở Đăk Glei; Thôn Ba và Hố thuộc xã Diên Bình, Đăk Kan thuộc xã Ngọc Tụ ở Đăk Tô; Đăk Pắk thuộc xã Hà Mòn, Đăk Gơ Gun thuộc thị trấn Đăk Hà và Đăk Mút thuộc xã Đăk Mar ở Đăk Hà; Tổ Một tại phường Quyết Thắng; Rừng Keo tại phường Trường Chinh; Kon K’Lor 2 và Kon K’Lor 3 thuộc xã Đắc Rơ Wa; Kon Rơ Wang thuộc phường Thắng Lợi; Kon H’ra Chót tại phường Thống Nhất; Thôn Năm, Kon Na Mon K’tu và Kroong K’tu thuộc xã Kroong; Kon.
Hơ Ngo K’tu và Đăk Rơ Nga thuộc xã Ngọc Bay; Rơ Wak, Jơ D’Rợp và Suối Đá thuộc xã Ia Chim; Kon Mơ Nây và Đăk Blà thuộc xã Đăk Blà; Đăk Cấm thuộc xã Đăk Cấm Trên địa bàn huyện Sa Thầy có các địa điểm Lung Leng, Sui Rôi, Bình Sơn 2 và Bình Long thuộc xã Sa Bình; Tổ Một thuộc xã Sa Nhơn; Đăk Rêi 2 thuộc xã Sa Nghĩa…
SVTH: Đặng Minh Hiếu MSSV: 11251007 GVHD: Trần Thanh Hiếu
Trong các địa điểm - dấu tích cƣ trú đã phát hiện đƣợc, nổi bật nhất là Lung Leng Cuộc khai quật di chỉ Lung Leng là một trong những cuộc khai quật khảo cổ có diện tích đào lớn nhất ở Việt Nam (rộng tới 11.500 mét vuông) Đây là di chỉ có tầng văn hóa dày đƣợc bảo tồn nguyên vẹn Kết quả từ cuộc khai quật di chỉ Lung Leng, có nhiều loại di tích và di vật đã đƣợc phát hiện Về di tích, có những lỗ chân cột, bếp lửa, lò nung, mộ táng (trên 120 mộ, gồm mộ đất, mộ chum - vại, mộ nồi - vò, mộ kè
Ở di chỉ Lung Leng, sưu tập di vật và di tích cho thấy quy mô lớn và tính đa dạng vượt trội so với các di chỉ khác Hiện vật gồm trên 20 nghìn tiêu bản đá, khoảng một triệu mảnh gốm; đồng thời thu được các công cụ lao động thuộc nhiều nhóm như công cụ đá ghè đẽo, công cụ đá mài lưỡi, công cụ đá mài toàn thân, công cụ gia công chế tác đồ đá, công cụ gia công chế tác thực phẩm và công cụ liên quan đến luyện kim Ngoài ra còn có những mảnh tước bằng đá, đồ trang sức làm từ nhiều chất liệu (đá, mã não, thủy tinh, đất nung) và các đồ gốm nguyên vẹn với nhiều kích cỡ, kiểu dáng, hoa văn Các di tích và di vật ở Lung Leng, đặc biệt là dấu tích cư trú, khu mộ táng, cơ sở chế tác công cụ đá, luyện kim và đồ gốm, có niên đại từ hậu kỳ Đá Cũ (Late Paleolithic), qua thời Sơ kỳ Đá Mới và Hậu kỳ Đá Mới, liên tục tới thời đại Đá - Đồng và Kim Khí, cho thấy sự hiện diện và cư trú của các lớp người cổ đại qua nhiều giai đoạn tiền sử.
Người Ba-na sống lâu đời trên vùng đất Kon Tum và được phân thành bốn nhóm địa phương chính: Bơ-nâm, Gơ-lar, Rơ-ngao và Giơ-lơng Đơn vị cư trú cổ truyền của người Ba-na là làng (plei, kon, đe); làng có nhiều lớp hàng rào làm bằng tre, gỗ và cắm chông Nằm ngoài hàng rào ở phía tây của làng là nghĩa địa chung (pơsat atâu), nơi có những nhà mồ (hnam pơsat) Nhà rông Ba-na (nam rông, wal rông) thường được dựng ở giữa làng, có mái dốc và cao vút, mang nét đặc sắc riêng.
Đề tài do SVTH Đặng Minh Hiếu (MSSV 11251007) trình bày dưới sự hướng dẫn của GVHD Trần Thanh Hiếu cho thấy từ xa có thể nhận diện nhà ở cổ truyền Ba-na (hnam) Đây là loại hình nhà sàn dài, cao, được dựng trên cột và có vách nhà nghiêng theo thế "thượng thách hạ thu".
Vùng đất Kon Tum xưa được hình dung là vùng hoang sơ, rộng lớn với dân thưa và sự sinh sống của các dân tộc Xơ Đăng, Bana, Gia Rai, Jẻ - Triêng, Brâu và Rơ Măm Mỗi dân tộc gắn với một khu vực cư trú riêng biệt, hình thành các làng (kon) mang tính biệt lập và do một già làng có uy tín đứng đầu Đất rộng, rừng rậm và núi non hiểm trở tạo nên sự cách biệt với bên ngoài; các làng bản địa ở đây như những xã hội thu nhỏ, chưa có một chính quyền liên minh, trong khi các quốc gia hùng mạnh quanh đây như Đại Việt, Chân Lạp, Chiêm Thành và Vạn Tượng vẫn chưa mở rộng tầm kiểm soát đến vùng đất này.
Vị trí đệm giữa Chiêm Thành và Chân Lạp khiến các bộ tộc Kon Tum thường trở thành mục tiêu của các vụ cướp bóc và buôn bán nô lệ Đến thế kỷ 12, sau khi đánh bại Chân Lạp, Chiêm Thành mới mở rộng ảnh hưởng và nắm quyền đô hộ trên toàn vùng Tây Nguyên Thực tế, chính quyền Chiêm Thành xem Tây Nguyên như khu vực để khai thác và bắt nô lệ, do đó các bộ tộc ở đây vẫn duy trì chế độ xã hội tự trị và sống biệt lập.
Đến năm 1471, sau khi vua Lê Thánh Tông chinh phục Chiêm Thành và đẩy Chiêm Thành về phía Nam (tương ứng vùng từ Khánh Hòa đến Bình Thuận ngày nay), nhà nước Đại Việt đã cử sứ thần thu phục các bộ tộc ở Tây Nguyên và sáp nhập vùng đất này vào lãnh thổ Tuy nhiên, do chủ yếu tập trung thiết lập chính quyền trên các vùng đất mới ở duyên hải, triều đình Đại Việt chưa thực sự kiểm soát toàn diện; các cư dân bản địa vẫn được tự trị và hòa hợp hơn với người Kinh, vốn chịu ảnh hưởng văn hóa và lên án việc cướp bóc và bắt nô lệ Các quan viên được bổ chức trấn nhậm chủ yếu mang tính hình thức để khẳng định chủ quyền Năm 1540, triều đình Lê Trung hưng đã cách chức Bùi Tá Hán và bổ nhiệm làm tuần tiết xứ Nam.
- Ngãi đƣợc kiêm quản luôn cả các dân tộc miền núi (Trung Sơn - Tây Nguyên).Mãi đến phong trào khởi nghĩa Tây Sơn (1771-1786), ba anh em Nguyễn Nhạc, Nguyễn
SVTH: Đặng Minh Hiếu MSSV: 11251007 GVHD: Trần Thanh Hiếu
Vào thời Thiệu Trị (1840), triều đình Huế cử Bok Seam, một người Bana, làm quan cai trị các bộ tộc Tây Nguyên và cho phép người Kinh cùng các bộ tộc được tự do buôn bán, thiết lập một hậu phương và bàn đạp tiến xuống duyên hải Trong bối cảnh ấy, các giáo sĩ Thiên chúa giáo tìm cách mở đường lên cao nguyên để truyền đạo, đặc biệt tại Kontum; sau chuyến mở đường năm 1848, hai linh mục Pháp và bảy thầy giảng người Việt đến Kontum và thành lập cơ sở tôn giáo ở đây vào năm 1850 Hai trong bốn trung tâm truyền giáo đầu tiên ở Kontum ngày nay là Kon Kơ Xâm (do linh mục Combes phụ trách, truyền giáo cho bộ tộc Bahnar-Jơlơng) và Kon Trang (do linh mục Dourisboure phụ trách, truyền giáo cho bộ tộc Sê Đăng) Khi Pháp nắm toàn quyền ở Đại Nam và mở rộng sự kiểm soát, năm 1888 Mayréna được Toàn quyền Đông Dương Ernest Constans cho phép thám hiểm Tây Nguyên và thỏa thuận với các dân tộc thiểu số; bằng thủ đoạn, ông thu phục được hai bộ tộc Ba Na và Xơ Đăng và thành lập Vương quốc Sedang với Mayréna làm vua, hiệu là Vua Marie đệ nhất Thủ đô của Vương quốc Sedang ở làng Long Răng (nay là làng Kon Gu, xã Ngọc Wang, huyện Đắk Hà, Kon Tum) và được gọi là Pelei.
Agna hay thành phố vĩ đại, một số nguồn nói rằng tên thủ đô của vương quốc
Mayréna quay lại Quy Nhơn và thuyết phục chính quyền thực dân Pháp mua lại vương quốc Sedang, nhưng Pháp từ chối đề nghị này Không từ bỏ ý đồ, ông sang Hồng Kông với kế hoạch bán Sedang cho người Anh Nhân dịp này, công sứ Quy Nhơn Guiomar tìm cách ngăn Mayréna trở về và đặt quyền kiểm soát Tây Nguyên dưới quyền công sứ Quy Nhơn Đến năm 1892, những động thái này đã hình thành sự hiện diện và quản lý của Pháp ở vùng Tây Nguyên.
PHƯƠNG PHÁP VÀ TỔ CHỨC SÁNG TÁC
Trình bày cách thức tổ chức sáng tác (thiết kế)
2.1.1 Chọn đề tài và tìm tƣ liệu:
Qua kinh nghiệm tích lũy và học hỏi cá nhân, cùng với tham khảo một số tài liệu và nguồn kiến thức bên ngoài, tôi đã chắt lọc trình tự sáng tạo thiết kế cho đồ án “LỄ HỘI VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG BAHNAR VÙNG TÂY NGUYÊN” Quy trình này kết nối các bước từ nghiên cứu hiện trạng và xác định ý tưởng chủ đạo đến phát triển ý tưởng và triển khai thiết kế chi tiết, đảm bảo sự tôn vinh giá trị văn hóa truyền thống, tính khả thi kỹ thuật và hiệu quả truyền thông Việc kết hợp kinh nghiệm cá nhân với tài liệu tham khảo giúp điều chỉnh khung sáng tạo, lựa chọn phương pháp thiết kế phù hợp với đặc trưng văn hóa vùng Tây Nguyên và mục tiêu đồ án, đồng thời tối ưu hóa nội dung để tăng khả năng hiện thị và tối ưu SEO.
Một buổi biểu diễn hoặc sự kiện bất kỳ đóng vai trò then chốt trong đời sống của chúng ta, là nơi để giới thiệu thông điệp tới công chúng Đồng thời, nó còn là cơ hội để bảo tồn và phát huy những nét văn hóa truyền thống của một dân tộc.
Với vai trò là một sinh viên chuẩn bị tốt nghiệp, việc chọn một đề tài thực sự tâm huyết và phù hợp với khả năng luôn là một thách thức đòi hỏi sự cân nhắc kỹ lưỡng Sau một thời gian nghiên cứu nhằm phác thảo những ý tưởng ban đầu và thu thập một số tài liệu để lựa chọn, tổ chức, tổng hợp và phân loại nguồn tư liệu phù hợp với tư duy sáng tạo của bản thân, tôi đã bắt đầu tìm hiểu về nền văn hóa Bahnar Quá trình này giúp nhận diện những nét riêng biệt, nổi bật mà không trộn lẫn với nền văn hóa của các dân tộc khác trên đất nước.
SVTH: Đặng Minh Hiếu MSSV: 11251007 GVHD: Trần Thanh Hiếu
Những ý tưởng ban đầu đã dẫn em đến việc hình thành các kế hoạch dựa trên những hình ảnh tài liệu được lựa chọn, mang theo tình cảm đặc biệt và cảm xúc dạt dào Em hướng đến quảng bá nền văn hóa Khmer thông qua các lễ hội đặc trưng, nhằm lan tỏa đến tất cả mọi người và nâng cao nhận thức về văn hóa Khmer trong cộng đồng.
Nghiên cứu đề tài là bước nền quyết định thành công hay thất bại của một đồ án; quá trình này đòi hỏi sự tỉ mỉ, có hệ thống và mục tiêu rõ ràng Từ dữ liệu nghiên cứu, chúng ta hình thành những ý tưởng cụ thể, phù hợp và logic tuyệt đối Khi nắm bắt sâu sắc về đề tài, ta có thể khai thác hiểu biết để tạo ra các ý tưởng sáng tạo mà ít ai có thể phản đối, từ đó nâng cao tính thuyết phục cho đề cương Hiểu rõ phạm vi, mục tiêu và trọng tâm của công trình giúp tự tin đi đúng hướng và xây dựng luận cứ sắc bén để bảo vệ ý tưởng Do đó, nghiên cứu đề tài phải được tiến hành một cách nghiêm túc và có kế hoạch chặt chẽ, đảm bảo chất lượng và tính khả thi của dự án.
Dựa trên các cơ sở nghiên cứu đã trình bày, bài viết này đi sâu khai thác đề tài để làm sáng tỏ sức ảnh hưởng của nó đối với nền văn hóa hiện nay của nước ta Hiện nay, phần lớn người dân chưa nhận thức đầy đủ về văn hóa truyền thống của đồng bào Khmer và các dân tộc thiểu số khác Với mục tiêu đưa các giá trị này đến gần công chúng, bài viết phân tích đời sống của đồng bào dân tộc thiểu số và giới thiệu hệ thống lễ hội, phong tục, tập quán độc đáo luôn có sức hút mạnh mẽ với du khách nội địa lẫn du khách nước ngoài và những người quan tâm đến văn hóa Việt Nam Các lễ hội truyền thống của các dân tộc thiểu số đóng góp quan trọng vào sự tăng trưởng của du lịch và thúc đẩy khám phá văn hóa bản địa, mở ra cơ hội trải nghiệm và phát triển ngành du lịch địa phương.
2.1.3 Chọn lọc các phác thảo:
Phác thảo là giai đoạn thiết yếu trong quá trình thiết kế, làm nền tảng cho sự hình thành nhiều ý tưởng và phong cách thông qua đường nét, màu sắc, hình ảnh, mảng hình và bố cục Việc vận động và biến đổi các yếu tố này trên mặt giấy giúp các nhà thiết kế linh động khám phá vô vàn giải pháp thể hiện, từ đó tìm ra hướng đi phù hợp nhất cho dự án.
Để phù hợp với đề tài và tìm được mối tương quan chung của cả hệ thống đồ án, quá trình phác thảo bắt đầu từ việc hiểu rõ đề tài và liên kết các yếu tố quan trọng, bởi sau đó mới hình thành các ý tưởng và phương án thể hiện Nhiều nhà thiết kế mắc lỗi tham chi tiết ngay từ khi ý tưởng mới nảy sinh, đẩy mạnh khai thác kỹ thuật thể hiện nhưng vẫn chỉ là ở giai đoạn phác thảo và tìm ý Phác thảo các ý tưởng sơ bộ trên bề mặt giấy đòi hỏi khả năng phác họa bằng tay và một vốn kiến thức nhất định về các định luật cân bằng thị giác, đồng thời sắp xếp hình ảnh, màu sắc, đường nét, mảng khối và chữ trong một tổng thể hài hòa và cân đối về bố cục Sau khi đưa ra nhiều phác thảo sơ bộ, dưới sự góp ý phê bình của giảng viên phụ trách hướng dẫn, em chọn ra những bản phác thảo được đánh giá tối ưu để tiến hành đi sâu thể hiện.
Thiết kế đồ họa gắn liền với các vấn đề đương thời và là một quy trình liên quan đến nghiên cứu, tạo lập ý tưởng, phác thảo và sự liên kết giữa ngôn ngữ và hình ảnh Giai đoạn thiết kế đòi hỏi không chỉ khả năng tư duy sáng tạo mà còn kỹ thuật thể hiện qua các phần mềm đồ họa để truyền đạt ý tưởng một cách hiệu quả Quá trình này bao gồm lựa chọn và tổ chức có mục đích từ ngữ, hình ảnh và thông điệp thành một hình thức truyền thông có tác động tới người xem Một thiết kế đồ họa tốt, mang nét đặc sắc và tinh tế, sẽ nâng cao giá trị của ý tưởng ban đầu; vì vậy mỗi ngôn ngữ đồ họa cần được chăm chút và lựa chọn kỹ càng.
Sau khi đã chọn lọc những phác thảo hoàn chỉnh cùng hình ảnh và tư liệu cần thiết, bạn bắt tay vào phần thể hiện các tác phẩm của mình Để thu hút ánh nhìn và thể hiện sự sáng tạo, phần đồ họa phải đẹp mắt đồng thời chú trọng đến kích thước thật của sản phẩm và tính công năng, đặc biệt với đồ chơi trẻ em Trong suốt quá trình thiết kế, các sản phẩm ngày càng được đẩy sâu, trau chuốt và hoàn thiện dựa trên nền tảng phác thảo hoàn chỉnh Ngoài kỹ năng về mỹ thuật, khả năng thể hiện còn phụ thuộc vào kỹ thuật thiết kế của người làm công tác thiết kế.
Mô tả phương pháp và kĩ thuật thiết kế
2.2 Mô tả phương pháp và kỹ thuật thiết kế:
Để tổ chức một sự kiện văn hóa Khmer đậm bản sắc, bước đầu cần tiến hành nghiên cứu sâu về các nét đặc trưng văn hóa của dân tộc Khmer Việc nắm bắt những yếu tố văn hóa này giúp định hình phương án và kỹ thuật thiết kế đồ họa đa dạng, phù hợp với nội dung và mục tiêu của sự kiện Việc lựa chọn thiết kế phù hợp với diễn biến sự kiện không hề đơn giản, và thường yêu cầu cân nhắc giữa các yếu tố như logo, banner và poster ở nhiều kích thước khác nhau Có thể áp dụng hàng trăm phương pháp thiết kế và chất liệu khác nhau để tạo ra các hiệu ứng thị giác độc đáo, nhằm tăng cường sức hút và hiệu quả truyền thông cho sự kiện Nhờ sự phối hợp hài hòa giữa các yếu tố thiết kế, hình ảnh về dân tộc Khmer sẽ được lan tỏa rộng rãi, giúp khẳng định và nâng cao nhận diện văn hóa Khmer trong cộng đồng.
Một sản phẩm thiết kế được thừa nhận là đẹp và có hiệu quả chỉ khi nó tuân thủ đúng các nguyên tắc thiết kế Sự phối hợp hài hòa giữa nhiều thành phần trong phạm vi thiết kế sẽ tạo nên sự tương tác và truyền tải các thông điệp phù hợp với ngữ cảnh Thông điệp này được thể hiện qua sự sắp xếp trực quan có chủ đích trong quá trình thiết kế Các nhà thiết kế đồ họa đã sáng tạo và áp dụng nhiều phương pháp thiết kế để tạo ra những sản phẩm đa dạng và phong phú, đồng thời mọi phương pháp đều dựa trên các định luật cơ bản của thị giác nhằm đảm bảo tính cân đối và hài hòa Để được coi là thiết kế tốt, tác phẩm cần tuân thủ một số nguyên tắc thiết kế căn bản, chính những nguyên tắc này cũng phản ánh hệ tư tưởng thiết kế của Dieter Rams, người Đức, sinh năm 1932.
1 Thiết kế tốt là sáng tạo:
SVTH: Đặng Minh Hiếu MSSV: 11251007 GVHD: Trần Thanh Hiếu
Sáng tạo không chỉ là tạo ra thứ mới mà còn tạo ra những thứ tốt hơn phục vụ cho nhƣ cầu cuộc sống
2 Thiết kế tốt là hữu ích:
Hữu ích không chỉ là làm điều gì đó có tác dụng mà còn phụ thuộc vào nhận thức của từng người—mỗi người đánh giá sự hữu ích theo nhu cầu và ngữ cảnh riêng của họ Dẫu vậy, một yếu tố phổ biến khi gắn chức năng với sản phẩm là sự hội tụ của thẩm mỹ hấp dẫn, vốn kích thích phản ứng tâm lý và cảm xúc ở người dùng Khi thiết kế hoặc nội dung có tính hữu ích đồng thời được trình bày một cách thẩm mỹ và nhất quán, nó tăng khả năng người dùng nhận ra giá trị và hiệu quả của sản phẩm hoặc dịch vụ.
3 Thiết kế tốt là thẫm mỹ: Đây là điều hiển nhiên không thể phủ định Tính thẫm mỹ trong thiết kế rất đƣợc chú trọng, tuy nhiên nó không hoàn toàn mang tính khách quan
Một thiết kế tốt sẽ tự giải thích các chức năng của nó
4 Thiết kế tốt là tạo ra một sản phẩm dễ hiểu:
Trong mọi lĩnh vực sáng tạo, luôn có những thiết kế vượt thời gian gây ấn tượng và ảnh hưởng kéo dài suốt nhiều thập kỷ Những sản phẩm như vậy không chỉ đẹp mắt mà còn dễ hiểu, dễ tiếp cận với người dùng ở nhiều ngôn ngữ, giáo dục và nền văn hóa khác nhau Khi một thiết kế vượt qua được thời gian, ngôn ngữ và văn hóa, ta có thể nói đó là một sản phẩm dễ hiểu, có sức sống bền vững và giá trị lâu dài cho cộng đồng.
5 Thiết kế tốt là không phô trương:
Sản phẩm thiết kế tốt đƣợc hoàn thành không phải vật trang trí và cũng không phải tác phẩm nghệ thuật
6 Thiết kế tốt là trung thực:
SVTH: Đặng Minh Hiếu MSSV: 11251007 GVHD: Trần Thanh Hiếu
Thiết kế tốt là thiết kế của chính bạn, chứ không phải sao chép từ ai đó Nó có thể bắt nguồn từ nhiều nguồn cảm hứng khác nhau hoặc từ một nguồn duy nhất, nhưng hình thức cuối cùng phải thể hiện sự độc đáo và dấu ấn cá nhân Một thiết kế thành công không chỉ dựa vào ý tưởng ban đầu mà còn ở cách bạn biến ý tưởng ấy thành bố cục, hình ảnh và ngôn ngữ trực quan phù hợp với người dùng và tối ưu cho SEO, giúp thiết kế nổi bật và gắn kết với mục tiêu thương hiệu.
7 Thiết kế tốt là lâu dài: Một thiết kế tốt có giá trị bất tử với mọi lần sử dụng
8 Thiết kế tốt là chú ý tới từng chi tiết cuối cùng: Sau tất cả, chúng ta cần xem xét toàn diện một cái gì đó, chẳng hạn nhƣ đảm bảo tính sáng tạo, hữu ích, thẩm mỹ, dễ hiểu, thân thiện môi trường…
9 Thiết kế tốt là thân thiện với môi trường: Ngày nay, bảo vệ môi trường là yếu tố cấp bách Bạn sẽ khó kiếm đƣợc một tập tài liệu, một bao bì, hoặc một mảnh kim loại nhỏ mà có những lời nhắn nhủ về việc bảo vệ môi trường
10 Thiết kế tốt là ít thiết kế ít nhất có thể:
Khi thiết kế đừng cố tìm cách phức tạp các hình dạng, hoàn hảo nhất là làm nó hoạt động hiệu quả và gần gũi với con người
Ngoài các nguyên tắc đã nêu, người thiết kế cần áp dụng các định luật cơ bản của thị giác để bảo đảm tính cân đối cho tác phẩm Đó là các nguyên tắc như nhịp điệu thị giác, cân bằng bố cục, tỉ lệ và khoảng trắng, giúp bố cục trở nên hài hòa, dễ nhìn và nổi bật trên mọi nền tảng Việc nắm vững và vận dụng đúng những nguyên tắc này hỗ trợ việc truyền đạt thông điệp một cách rõ ràng, đồng thời tối ưu hóa hiệu quả SEO và trải nghiệm người đọc.
Đường nét là một trong những thành phần cơ bản của thiết kế Sử dụng riêng lẻ hoặc kết hợp với những đường nét khác, hình dạng khác có thể tạo ra những hiệu quả khác nhau, có tác dụng thể hiện hình ảnh cũng như truyền tải thông điệp của một thiết kế Đường nét có thể dài hay ngắn, có thể thẳng hoặc cong, có thể ngang hoặc đứng, xiên Đường còn có thể liền mạch, hay đứt nét, dày, mỏng Điểm cuối của đường có khi rách xơ xác, hoặc bị cắt thẳng hay bo cong tròn.
Bố cục tạo hình là nghệ thuật sắp xếp các đường nét, hình khối và màu sắc dưới tác động của ánh sáng để tạo nên một tác phẩm nghệ thuật hấp dẫn và gây cảm xúc cho người xem Đây là yếu tố quan trọng trong thiết kế, giúp định hình cách nhìn nhận và cảm nhận của người xem về nhịp điệu, sự cân bằng và tổng thể của tác phẩm trên mọi không gian.
SVTH: Đặng Minh Hiếu MSSV: 11251007 GVHD: Trần Thanh Hiếu
Những yếu tố quan trọng tạo nên tác phẩm có bố cục đẹp và hấp dẫn:
1 Đáp ứng yêu cầu của việc sử dụng
3 Sự tương quan tỷ lệ giữa các thành phần và bố cục
Để thiết kế hoặc chụp ảnh hiệu quả, cần biết sắp xếp các hình thể theo các đặc tính như trước sau, lớn nhỏ, xa gần và nóng lạnh để tạo nhịp điệu và chiều sâu cho bố cục Việc sắp xếp này giúp người xem nhận diện được mức độ ưu tiên của các yếu tố và dễ nhận diện điểm nhấn của tác phẩm Bên cạnh đó, làm rõ yếu tố chính phụ trong bố cục sẽ cân bằng thị giác, tăng tính kể chuyện và làm cho bố cục trở nên rõ ràng, mạch lạc.
Trong nghệ thuật và thiết kế, tương phản là yếu tố quan trọng thể hiện sự khác biệt giữa hai hoặc nhiều yếu tố liên quan Khi các thành phần có quá nhiều điểm giống nhau, thiết kế trở nên nhạt nhẽo và nhàm chán Ngược lại, quá nhiều tương phản có thể làm tổng thể khó hiểu và mất đi tính nhất quán.
Tương phản xuất hiện khi ta đồng thời phối hợp các cặp đối lập như màu sắc nóng – lạnh, đường nét thẳng – cong, bố cục ngang – đứng, hình khối đặc – rỗng và lớn – nhỏ, hình dạng vuông – tròn, chất liệu mịn – thô ráp, nhịp điệu nhanh – chậm, không gian rộng – hẹp và sự khác biệt giữa đồng nhất và khác biệt ở hướng Việc kết hợp những yếu tố này được tối ưu để tăng tính biểu cảm và thu hút sự chú ý của người xem Khi đồng nhất được cân bằng với khác biệt, thiết kế sẽ có sự rõ ràng trong truyền tải thông điệp và hướng di chuyển thị giác từ yếu tố này sang yếu tố khác.
4 Sự tương quan và hòa hợp kể cả màu sắc
Khi hình thành ý tưởng thiết kế trong đầu, người thiết kế cần tự hỏi ý tưởng hình ảnh sẽ truyền tải thông điệp gì; màu sắc nên được kết hợp giữa ý tưởng và cảm xúc để tăng tính truyền cảm Cảm xúc có thể phụ thuộc vào sự tương phản mạnh hay sự hài hòa giữa các yếu tố, và màu sắc có thể dịu dàng và bị động, hay lạnh và sáng để diễn đạt cảm xúc của tác phẩm Những màu nằm cạnh nhau trên bánh xe màu tạo cảm giác hài hòa, ví dụ vàng xanh cho một sự kết hợp nhẹ nhàng; trong khi các màu đối nhau trên bánh xe màu mang lại sự sinh động và mạnh mẽ, như ví dụ đỏ xanh Tấm vải màu đỏ xuất hiện trong sản phẩm và tạo sự tương phản mạnh với màu xám của người đấu bò tót; màu đỏ còn ám chỉ sự giận dữ, góp phần tăng sức sống cho tác phẩm Màu sắc được pha trộn với kiểu chữ trong sản phẩm, tạo nên bố cục tổng thể có tác động mạnh đến người xem.
Những hoạt động nghiên cứu sáng tác
Logo là phương tiện truyền đạt ý nghĩa của các hoạt động được thể hiện trong những ấn phẩm mang tính thẩm mỹ và trí tuệ cao của nghệ thuật thiết kế đồ họa Để tạo ra một logo đẹp và có giá trị thực sự, người thiết kế cần không chỉ trình độ chuyên môn vững vàng mà còn một vốn kiến thức rộng lớn trải rộng trên nhiều lĩnh vực đời sống Từ thời cổ đại, con người đã nhận ra mọi giá trị nội tại được thể hiện qua ký hiệu và hình thức bên ngoài, vì vậy ký hiệu và biểu tượng đã được dùng để diễn đạt các ý tưởng văn hóa và ước muốn cá nhân trong xã hội Logo đóng vai trò là công cụ nhận diện thương hiệu, cầu nối giữa ý nghĩa và hình thức, đồng thời phản ánh văn hóa và giá trị của cộng đồng mà nó đại diện.
Trong thiết kế đồ họa, logo là thước đo trình độ tay nghề của người thiết kế; ngược lại, trong hoạt động sản xuất kinh doanh, logo thể hiện hình ảnh biểu trưng cho cả một thương hiệu Một logo được thiết kế tốt không chỉ tạo uy tín và niềm tin với khách hàng mà còn đóng vai trò cầu nối đưa sản phẩm của thương hiệu đến tay người tiêu dùng một cách nhanh chóng và hiệu quả.
Em đã bắt đầu trình bày các phương án sơ khảo trong các bản phác thảo và nhờ sự góp ý của giảng viên hướng dẫn để lựa chọn mẫu phác thảo tối ưu nhất Nhờ sự hỗ trợ của người hướng dẫn, em đã xác định được một phương án khả quan nhất để tiến hành thể hiện chi tiết và sâu hơn.
Biểu tượng của buổi lễ hội hay buổi biểu diễn rất quan trọng, giúp đối tượng thưởng thức nhận biết được chương trình Biểu tượng là sự chắt lọc đầy đủ và xúc tích nhất nội dung chương trình; dựa trên những yếu tố đó em đã đưa ra hình ảnh biểu tượng cho buổi trình diễn Logo là hình ảnh cách điệu từ nhà rông.
Trống đồng Bahnar được cách điệu thành biểu trưng chính cho lễ hội, thể hiện bản sắc văn hóa của dân tộc Bahnar Logo của dự án dùng hai gam màu vàng và đỏ đặc trưng của Bahnar, giúp tăng tính nhận diện và sự nổi bật cho sự kiện.
Poster là phương tiện thông tin phổ biến và quen thuộc nhất để quảng bá một sự kiện, chương trình biểu diễn hay bất kỳ mặt trận truyền thông và quảng cáo nào của một thương hiệu Từ trước đến nay, poster được đánh giá cao về giá trị sáng tạo, thẩm mỹ và khả năng tạo tác động đến thành công của sản phẩm hay sự kiện mà nó nhắc đến, nên poster có vai trò quan trọng trong quảng bá thương hiệu Poster đa dạng về kích thước và hình thức: từ poster ngoài trời kích thước lớn đến poster in trên báo chí, tất cả đều truyền tải thông điệp của nhà sản xuất tới người tiêu dùng một cách nhanh chóng và chính xác, mang lại tính linh hoạt cho doanh nghiệp khi quảng bá sản phẩm hay sự kiện Trong đồ án này, hình ảnh được thể hiện trên poster và đặt ở vị trí trung tâm của quá trình thiết kế, không chỉ vì kích thước mà còn vì giá trị truyền đạt những thông điệp chương trình tới công chúng.
Trong múa Xoang truyền thống của người Ba Na, trống Chơ gút là thiết yếu, với mặt trống làm bằng da dê hoặc da bò và được vỗ bằng tay thay vì dùng dùi Một người mang trống trước ngực dẫn đội cồng chiêng để chỉ huy nhịp điệu, khiến âm thanh rộn rã và đầm ấm lan tỏa khắp sân khấu Đánh trống Chơ gút là một nghệ thuật, bởi nó dẫn dắt toàn bộ đội hình cồng chiêng và làm nền cho các cô gái múa Xoang nhẹ nhàng, quyện vào nhịp điệu và nụ cười giao cảm Vũ điệu Xoang theo tiếng gọi của trống, với những bước di chuyển nhịp nhàng, tạo nên hình ảnh lễ hội Tây Nguyên đặc sắc và giàu tính cộng đồng.
Trong tiếng cồng chiêng sống động, những điệu múa Xoang nhịp nhàng, uyển chuyển của các chàng trai, cô gái đã cuốn hút mọi người cùng vào vòng Xoang Đội hình múa Xoang của người Ba Na thường đi theo vòng tròn ngược chiều kim đồng hồ, quay tròn theo cây nêu ngoài sân hoặc khu vực trước nhà Rông Đội hình Xoang tiến hành trong khi đang thực hiện những nghi lễ của lễ hội thì gọi là Xoang nghi
SVTH: Đặng Minh Hiếu; MSSV: 11251007; GVHD: Trần Thanh Hiếu Nội dung bài viết tập trung vào những vũ điệu có nội dung nhất định đối với từng loại lễ hội, đồng thời giới thiệu hai đội hình Xoang nghi thức và Xoang tự do: Xoang nghi thức thể hiện sự nghiêm túc và bài bản, còn Xoang tự do cho phép sự tham gia tùy hứng của các thành viên khác trong cộng đồng, làm tăng tính đa dạng và sự hòa nhập của lễ hội.
Vũ công được miêu tả như một nữ thiên thần xinh đẹp tuyệt vời đang lượn bay uyển chuyển trên sân khấu Cô múa điệu tiên bay với nhiều kiểu dáng tạo hình đẹp mắt, hấp dẫn và làm mê hoặc người xem.
Hình ảnh cô gái Bahnar múa điệu xoang đƣợc cách điệu thành nét và mảng, nhằm tạo ra một phong cách thiết kết riêng
SVTH: Đặng Minh Hiếu MSSV: 11251007 GVHD: Trần Thanh Hiếu
Lễ cầu an, hay Puh hơ drih theo tiếng Ba Na, là một lễ hội truyền thống lâu đời mang đậm tính cộng đồng và nổi bật trong hệ thống lễ hội của người Ba Na, gắn kết con người với mùa màng Lễ hội được tổ chức sau khi dân làng thu hoạch toàn bộ lúa trên nương rẫy nhằm cầu bình an và thịnh vượng cho cộng đồng thông qua các nghi lễ và hoạt động tập thể.
Trước khi lễ hội diễn ra, già làng tổ chức cho dân làng dọn dẹp sạch sẽ đường đi, sửa sang Nhà Rông và bến nước, đồng thời vệ sinh toàn thôn Dân làng chuẩn bị bốn hình nộm người làm từ các vật liệu sẵn có trong tự nhiên cũng như sản phẩm từ nông nghiệp để phục vụ cho lễ hội, nhằm tạo không gian truyền thống và tăng tính kết nối cộng đồng.
Tùy điều kiện kinh tế của dân làng mà lễ vật hiến sinh cho Yang được chọn sao cho phù hợp Thông thường, lễ vật gồm bò, heo, dê và gà Trong lễ cầu an được tổ chức ngày hôm nay, người Ba Na chọn dê làm vật hiến sinh.
Con dê là vật hiến sinh, tế thần và là lễ vật chính trong buổi lễ ngày hôm nay Theo nghệ nhân A Thút giải thích, người dân trong làng coi dê như “anh của các súc vật” vì dê có râu.
Già làng là người chủ trì buổi lễ, tập trung dân tại nhà Rông để thực hiện lễ cúng Ông chọn những người ưu tú, hiền đạm nhất để đảm nhận các công việc quan trọng: già làng cầm khiên và đao ở phía trước; bên cạnh là một thanh niên đeo mặt nạ cầm mác; tiếp sau là bốn thanh niên mang theo hình nộm; sau đó là hai thiếu nữ mỗi người cầm cây lá đót; cuối cùng là đội cồng chiêng cùng với dân làng tham gia lễ, tạo nên bầu không khí trang nghiêm và hào hứng của nghi lễ truyền thống.