1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

KỶ YẾU HỘI THẢO KHOA HỌC Đào tạo phát triển nguồn nhân lực chuyên ngành công nghiệp văn hóa trong bối cảnh hội nhập

165 22 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 165
Dung lượng 2,29 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chiến lược đã đề ra mục tiêu chung, đó là: Phát triển các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam bao gồm: Quảng cáo; kiến trúc; phần mềm và các trò chơi giải trí; thủ công mỹ nghệ; thiết

Trang 1

BAN BIÊN TẬP

Nguyễn Thị Minh Giang ThS Phạm Thị Hương ThS Nguyễn A Say ThS Lê Thị Ngọc Thúy ThS Nguyễn Thị Bích Thủy

Trang 2

MỤC LỤC Ban tổ chức

Đề dẫn hội thảo khoa học "Đào tạo phát triển nguồn nhân lực chuyên ngành công

nghiệp văn hóa trong bối cảnh hội nhập" 4

Phát triển nguồn nhân lực lĩnh vực văn hóa trong bối cảnh hội nhập quốc tế 36 ThS Nguyễn A Say

Giao tiếp đa văn hóa trong bối cảnh xã hội hiện nay, cơ hội và thách thức 48 ThS Phan Thị Kim Xuyến

Tác động của nền kinh tế số đến diện mạo văn hoá Việt Nam hiện nay 55

Giao tiếp đa văn hóa- Kiến thức cần trang bị cho sinh viên bước vào môi trường làm

việc công ty đa quốc gia 99

Trang 3

Yếu tố tâm linh trong tiểu thuyết “Mẫu thượng ngàn” của Nguyễn Xuân Khánh 141 ThS Phạm Trần Quang Hưng; Nguyễn Hương Sang

Định hướng phát triển du lịch tâm linh của cộng đồng người Hoa tại tỉnh Bình Dương

147 ThS Trần Thị Thu Vân

Một số vấn đề liên quan đến yếu tố văn hóa trong tâm lý trị liệu 159

Trang 4

ĐỀ DẪN HỘI THẢO KHOA HỌC

"ĐÀO TẠO PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC CHUYÊN NGÀNH CÔNG NGHIỆP VĂN HÓA TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP"

Ngành công nghiệp văn hoá hiện đang chiếm một vị trí quan trọng trong đời sống văn hoá và kinh tế của thế giới hiện nay Công nghiệp văn hoá được xem là một ngành kinh tế mũi nhọn của nhiều quốc gia Các sản phẩm của công nghiệp văn hóa hướng tới phục vụ nhu cầu của đông đảo người dân Vì vậy, ngành công nghiệp văn hóa có tác động sâu rộng tới sự phát triển xã hội trên nhiều phương diện Sản phẩm công nghiệp văn hóa góp phần thỏa mãn nhu cầu hưởng thụ văn hóa phong phú và ngày càng cao, của mọi tầng lớp nhân dân Một số nước đã có ngành công nghiệp văn hóa phát triển

khá đồng bộ các khâu, các bộ phận, như Hoa Kỳ, Anh, Pháp, Nhật Bản, Hàn Quốc

Ở Việt Nam, trong thời gian gần đây, cũng đã có sự quan tâm đến phát triển công

nghiệp văn hóa, nhất là từ khi Chính phủ ban hành Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 (năm 2016) Chiến lược đã đề ra mục tiêu chung, đó là: Phát triển các ngành công nghiệp văn hóa

Việt Nam bao gồm: Quảng cáo; kiến trúc; phần mềm và các trò chơi giải trí; thủ công

mỹ nghệ; thiết kế; điện ảnh; xuất bản; thời trang; nghệ thuật biểu diễn; mỹ thuật, nhiếp ảnh và triển lãm; truyền hình và phát thanh; du lịch văn hóa trở thành những ngành kinh

tế dịch vụ quan trọng, phát triển rõ rệt về chất và lượng, đóng góp tích cực vào tăng trưởng kinh tế và giải quyết việc làm thông qua việc sản xuất ngày càng nhiều sản phẩm, dịch vụ văn hóa đa dạng, chất lượng cao, đáp ứng nhu cầu sáng tạo, hưởng thụ, tiêu dùng văn hóa của người dân trong nước và xuất khẩu; góp phần quảng bá hình ảnh đất nước, con người Việt Nam; xác lập được các thương hiệu sản phẩm, dịch vụ văn hóa; ưu tiên phát triển các ngành có nhiều lợi thế, tiềm năng của Việt Nam

Tuy nhiên, để phát triển công nghiệp văn hóa, một nhân tố có vai trò quyết định chính là nguồn nhân lực, bao gồm những nhà quản lý, những nhà sản xuất, những nhà kinh doanh, những người sáng tạo trong lĩnh vực công nghiệp văn hóa Điều này đặt

ra yêu cầu cần phải phát triển các ngành học, nhằm đào tạo bồi dưỡng nguồn nhân lực cho các ngành công nghiệp văn hóa, nhất là trong bối cảnh toàn cầu hóa, hội nhập quốc

tế sâu rộng và cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, hiện nay

Hội thảo khoa học “Đào tạo phát triển nguồn nhân lực chuyên ngành công nghiệp văn hóa trong bối cảnh hội nhập” do Khoa Khoa học xã hội và Nhân văn tổ chức, nhằm phân tích và đề ra các giải pháp phát triển nguồn nhân lực ngành Công nghiệp văn hóa;

Trang 5

tạo điều kiện để các nhà nghiên cứu và giảng viên trao đổi, góp ý về nội dung, chương trình đào tạo chuyên ngành Công nghiệp văn hóa, đồng thời công bố các nghiên cứu chuyên ngành KHXH&NV dưới góc nhìn văn hóa

Hội thảo đã thu hút sự quan tâm của một số nhà khoa học, giảng viên trong và ngoài Trường Ban tổ chức Hội thảo đã nhận được hơn 20 bài viết Những vấn đề được các bài viết đề cập bao gồm: Phát triển ngành công nghiệp văn hóa ở Việt Nam trong bối cảnh hiện nay; Thực trạng công tác đào tạo nguồn nhân lực chuyên ngành công nghiệp văn hóa trong bối cảnh hội nhập quốc tế và cách mạng công nghiệp 4.0; Tác động của thể chế đến sự phát triển của công nghiệp văn hóa; Tài nguyên văn hóa và vấn đề phát triển tài nguyên văn hóa ở Việt Nam hiện nay; Việc đáp ứng nhu cầu thụ hưởng văn hoá của người dân trong thời kỳ hội nhập quốc tế; Giao tiếp đa văn hóa và những vấn đề đặt ra hiện nay; Phát triển sản phẩm nghề truyền thống của đồng bào các dân tộc

trong điều kiện công nghiệp hóa; Về phát triển du lịch tâm linh; Văn hóa ứng xử trong nhà trường

Với chủ đề "Đào tạo phát triển nguồn nhân lực chuyên ngành công nghiệp văn hóa trong bối cảnh hội nhập" Hội thảo tập trung vào thảo luận các vấn đề sau:

- Phát triển của công nghiệp văn hóa ở Việt Nam – Những vấn đề lý luận và thực tiễn;

- Về nội dung, chương trình đào tạo chuyên ngành công nghiệp văn hóa theo nhu cầu xã hội và hội nhập quốc tế;

- Về phương pháp giảng dạy, kiểm tra, đánh giá sinh viên chuyên ngành công nghiệp văn hóa;

- Phát triển nguồn nhân lực lĩnh vực công nghiệp văn hóa trong bối cảnh hội nhập quốc tế;

- Đánh giá thực trạng và xu hướng phát triển của công nghiệp văn hóa hiện nay;

- Các vấn đề khác liên quan đến lĩnh vực công nghiệp văn hóa (quản lý, kinh doanh, tài nguyên, sản phẩm )

Trao đổi, làm rõ những vấn đề nêu trên, sẽ góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả đào tạo của Trường ở chuyên ngành công nghiệp văn hóa Ban tổ chức rất mong nhận được nhiều ý kiến phát biểu của các nhà khoa học, các giảng viên tại Hội thảo

BAN TỔ CHỨC

Trang 6

CÔNG NGHIỆP VĂN HÓA: NGÀNH HỌC ĐÁP ỨNG NHU CẦU

XÃ HỘI VÀ HỘI NHẬP QUỐC TẾ

TS Phạm Quốc Hưng - Bộ môn Khoa học Cơ bản

Tóm tắt: Hơn 30 năm đổi mới trong đó đổi mới thể chế trong lĩnh vực văn hóa

với những bước đi thận trọng hơn đã diễn ra chậm hơn so với đổi mới trong lĩnh vực kinh tế Tuy nhiên, những thay đổi trong phạm vi khung pháp lý quản lý văn hóa đã có tác động đáng kể đến sự phát triển của văn hóa nói chung và các ngành công nghiệp văn hóa nói riêng Mặc dù vẫn còn phân tán, văn hóa Việt Nam chuyển đổi sang các ngành công nghiệp văn hóa, đã mang lại sức sống mới cho sự phục hồi và phát triển các giá trị văn hóa thông qua việc tạo ra và phổ biến các giá trị này dưới dạng dịch

vụ và sản phẩm văn hóa Sự phát triển của các ngành công nghiệp văn hóa ở Việt Nam đang bước vào một giai đoạn mới có những thuận lợi và những khó khăn và thách thức Việc hội nhập khu vực và quốc tế ngày càng sâu rộng không những tạo cơ hội lớn cho việc tạo ra các sản phẩm văn hóa mà còn tác động mạnh mẽ đến cạnh tranh

Vì thế, Việt Nam cần phát triển các ngành công nghiệp văn hóa cùng với việc xây dựng

và hoàn thiện thị trường dịch vụ và sản phẩm văn hóa bằng nhiều phương thức khác nhau Do tính cấp thiết và quan trọng, Trường Đại học Văn Hiến đã và đang xây dựng ngành học mới, đào tạo ngành Công nghiệp văn hóa nhằm đáp ứng nhu cầu thực tiễn của xã hội và hội nhập kinh tế thế giới thành công

Từ khóa: công nghiệp văn hóa, sản phẩm, văn hóa, giá trị, dịch vụ, ngành học,

đáp ứng, hội nhập

1 Tổng quan Công nghiệp văn hóa ở việt nam

Theo UNESCO, thuật ngữ “Các ngành công nghiệp văn hóa” (Cultural Industries) được áp dụng cho “các ngành công nghiệp kết hợp sự sáng tạo, sản xuất và khai thác các nội dung có bản chất phi vật thể và văn hóa “Công nghiệp văn hóa”, là một thuật ngữ mới cho nền kinh tế và văn hóa của Việt Nam, chỉ mới được

sử dụng trong vòng vài năm qua Kể từ năm 2016, thuật ngữ này đã được công nhận nhiều hơn khi Thủ tướng Chính phủ phê chuẩn Quyết định số 1755 / QĐ-TTg ngày 8 tháng 9 năm 2016 về chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa cho đến năm 2020 với tầm nhìn đến năm 2030.Với quyết tâm phát triển các ngành công nghiệp văn hóa, đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước

Sự phát triển của các ngành công nghiệp văn hóa đóng một vai trò quan trọng

Trang 7

và đổi mới trong khi trao quyền cho quốc gia trong thời đại toàn cầu hóa, số hóa và cạnh tranh gia tăng, cũng như tận dụng các nguồn lực văn hóa trong xây dựng nền kinh

tế và làm tăng uy tín của đất nước đối với quốc tế

Ở các nước phát triển, tốc độ tăng trưởng hàng năm của các ngành công nghiệp văn hóa cao gấp đôi tốc độ tăng trưởng hàng năm của ngành dịch vụ và gấp bốn lần so với ngành sản xuất Nó được định vị là một ngành kinh tế quan trọng, tạo ra lợi thế cạnh tranh tổng thể, thúc đẩy đổi mới và tạo ra một nền kinh tế cân bằng và đa dạng hơn Các tổ chức văn hóa và doanh nghiệp đã và đang đóng một vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, bằng cách tăng cường sự tích hợp của ngành văn hóa - nghệ thuật với các ngành kinh doanh và công nghệ

Tuy nhiên, trong những năm qua ở Việt Nam, đặc biệt là quản lý văn hóa nghệ thuật, chưa thấy được tầm quan trọng của ngành văn hóa đối với nền kinh tế trong bối cảnh thị trường, hội nhập quốc tế và phát triển văn hóa nghệ thuật Mặc dù vậy, ngành công nghiệp văn hóa có những giai đoạn thương mại hóa văn hóa và nghệ thuật Ngành công nghiệp văn hóa đòi hỏi một sự cải tổ toàn diện để có thể nâng cao hiệu quả và vươn tới các thị trường mới trong và ngoài nước

Sự kết hợp chặt chẽ giữa văn hóa, nghệ thuật, kinh tế và công nghệ hình thành ngành Công nghiệp văn hóa Các ngành này đều sáng tạo, sản xuất và phân phối các sản phẩm và dịch vụ sử dụng nguồn lực trí tuệ của con người vì nguồn lực con người

là yếu tố quyết định tất cả Qua bốn mục tiêu của cuộc vận động thập kỷ thế giới phát triển văn hóa đã thể hiện được vai trò quan trọng của văn hóa: Với khẩu hiệu “Văn hóa

vì phát triển” đã khẳng định vị trí quan trọng của văn hóa trong phát triển, tìm mọi phương thức có thể cho sự phù hợp giữa sản xuất và sáng tạo, để kinh tế có thể bắt rễ trong văn hóa; Tôn trọng tất cả các nền văn hóa của các dân tộc, tuân thủ nguyên tắc bình đẳng và khuyến khích sự tự khẳng định, tự làm phong phú bản sắc văn hóa dân tộc trong sự thống nhất với tinh hoa văn hóa và văn minh nhân loại; Đảm bảo sự tham gia của mọi lực lượng vào đời sống văn hóa, tạo ra càng nhiều cơ hội và điều kiện để từng cá nhân và mỗi cộng đồng tự do hưởng thụ và sáng tạo văn hóa; Đẩy mạnh hợp tác văn hóa quốc tế với luận điểm quan trọng: “Nhận thức về vị trí và vai trò của văn hóa trong phát triển, chúng ta cần vượt lên cách tiếp cận kinh tế học thuần túy và tìm

ra hàng trăm phương thức có thể được để cho tính công nghiệp và tính sáng tạo có thể gắn bó, ràng buộc lẫn nhau” Theo UNESCO, sản phẩm văn hóa là kết quả của hoạt động sáng tạo, sản xuất, khai thác giá trị văn hóa trong ngành công nghiệp văn hóa Sản phẩm văn hóa được lưu thông, buôn bán trên thị trường nên còn được gọi là hàng

Trang 8

hóa văn hóa UNESCO cho rằng: hàng hóa văn hóa là “các sản phẩm tiêu dùng chứa đựng ý tưởng, biểu tượng và lối sống Chúng có chức năng thông báo hoặc giải trí, đóng góp cho việc xây dựng bản sắc văn hóa cộng đồng và ảnh hưởng đến các tập quán văn hóa” Sản phẩm văn hóa mang tính phi vật thể Điều này có thể thấy rõ trong các sản phẩm văn hóa nghệ thuật thuộc loại hình nghệ thuật biểu diễn Tác phẩm hội họa, điêu khắc, trưng bày sắp đặt phần quan trọng vẫn là nội dung, ý tưởng sáng tạo, hình tượng nghệ thuật mang tính biểu cảm và phi vật thể Đây là các sản phẩm văn hóa

Theo bà Hoàng Thị Hoa, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa, Giáo dục, Thanh niên, Thiếu niên và Nhi đồng của Quốc hội Việt Nam có tiềm năng to lớn để phát triển công nghiệp văn hóa Theo bà Hoa, đó chính là vị trí địa lý, đó chính là khí hậu của Việt Nam với hơn 3000km bờ biển Đất nước Việt Nam khí hậu quanh năm cây cối xanh tươi, có nhiều khu sinh quyển và thiên nhiên mang tầm khu vực và thế giới Và quan trọng hơn là truyền thống văn hóa Việt Nam, chúng ta có hơn 8.000 lễ hội cùng các di tích lịch sử văn hóa Con người Việt Nam sáng tạo và có ý chí kiên cường… Việt Nam là quốc gia đi sau sẽ có nhiều lợi thế để chúng ta có thể tránh được những thất bại của những quốc gia đi trước, đây chính là nội dung quan trọng giúp chúng ta

có thể rút ngắn quá trình, đi tắt và đón đầu

Theo tôi, có năm cơ hội để Công nghiệp văn hóa trở thành sức mạnh tổng hợp của Việt Nam chúng ta:

- Thị trường nội địa và quốc tế rộng lớn đối với các sản phẩm văn hóa và dịch

vụ văn hóa Việt Nam, biến khả năng sáng tạo thành lợi ích kinh tế Giúp các tài năng sáng tạo cơ hội phát triển, đem đến nhiều công ăn việc làm mới

- Đổi mới cách thức tiếp cận với ngành công nghiệp văn hóa về quản lý Nhà nước, đầu tư, luật, thuế, sự tài trợ

- Tạo ra văn hóa đổi mới sáng tạo, đi vào chiều sâu đối với các phân ngành công nghiệp văn hóa

- Tạo sự liên kết trong các ngành công nghiệp văn hóa thông qua việc thành lập một hệ thống các tổ hợp sáng tạo chất lượng cao, các mạng lưới làm việc khác nhau

- Định vị các ngành công nghiệp văn hóa như là yếu tố bổ sung giá trị đến các lĩnh vực khác như: tạo công ăn việc làm, tăng trưởng lĩnh vực văn hóa - nghệ thuật, hiệu quả vận hành, đổi mới

Trang 9

2 Định hướng đào tạo ngành Công nghiệp văn hóa

Nhận thức sự tích hợp ngày càng cao giữa công nghệ, sáng tạo văn hóa và năng lực kinh doanh để tạo ra sản phẩm, dịch vụ văn hóa Công nghiệp văn hóa là chất xúc tác cho đổi mới, giúp các lĩnh vực khác cải tổ, tạo các giá trị mới trong cuộc sống đương đại

Theo tôi, một sản phẩm Công nghiệp văn hóa thì phải hội tụ bốn yếu tố: Tính sáng tạo; Vốn văn hóa; Công nghệ và Kỹ năng kinh doanh Để hình thành các ngành công nghiệp văn hóa gồm: âm nhạc, truyền hình, sản xuất phim ảnh và xuất bản, các ngành nghề thủ công và thiết kế, nguyên tác Ngoài ra, kiến trúc, các loại hình nghệ thuật biểu diễn và trực quan, thể thao, quảng cáo và du lịch văn hóa cũng được xếp vào nhóm các ngành công nghiệp văn hóa, góp phần tạo nên giá trị thực cho cá nhân và xã hội

Do đó, khi xây dựng khối lượng kiến thức toàn khóa chuyên ngành Công nghiệp văn hóa bao gồm các môn học về các lĩnh vực này với 133 tín chỉ Trong đó bao gồm

49 tín chỉ khối kiến thức giáo dục đại cương và 84 tín chỉ khối kiến thức giáo dục chuyên nghiệp

Chương trình học chú trọng định hướng ứng dụng, vận dụng kiến thức, lý thuyết vào thực tiễn:

- Tập hợp, sử dụng các kiến thức và kỹ năng trong việc lập kế hoạch, quy trình sản xuất trong các ngành công nghiệp văn hóa (Điện ảnh, Nghệ thuật biểu diễn, Mỹ thuật Nhiếp ảnh và Triển lãm, Xuất bản, Quảng cáo, Du lịch, Nghệ thuật biểu diễn, Tổ chức sự kiện…);

- Tổ chức thực hiện các dự án, đề tài, sự kiện liên quan đến các ngành công nghiệp văn hóa; Sử dụng được các phương tiện hỗ trợ cho hoạt động cụ thể (quay phim, chụp hình, ghi âm,…)

- Áp dụng các thao tác xử lý thông tin trong việc đáp ứng yêu cầu công việc tiếp cận thị trường, quảng bá sản phẩm, dịch vụ văn hóa, các vấn đề về quyền sở hữu trí tuệ, quyền tác giả và các quyền liên quan

- Các phương pháp giảng dạy cần theo các định hướng vận dụng tối đa các phương tiện hỗ trợ dạy và học

- Để hình thành và phát triển được năng lực cho sinh viên về một lĩnh vực nào

đó liên quan đến ngành học Công nghiệp văn hóa, giảng viên cần phải thông qua tổ chức những hoạt động cụ thể Hoạt động ấy phải có mục tiêu, hướng dẫn cách tiếp cận nguồn tài liệu khi giải quyết vấn đề, có định hướng sản phẩm đầu ra sau khi kết thúc

Trang 10

hoạt động Do đó, theotôi ủng hộ quan điểm đưa chương trình giảng dạy ngành học này vào hoạt động trải nghiệm trở thành nội dung học tập bắt buộc trong Trường Đại học Văn Hiến

- Cần vận dụng các nhóm kỹ năng như: tư duy sáng tạo, tư duy phản biện, giải quyết vấn đề, ra quyết định và học tập suốt đời; nhóm kỹ năng làm việc như khả năng giao tiếp và hợp tác làm việc theo nhóm; sử dụng các công cụ làm việc; các kỹ năng mềm khác để sống và làm việc, thực hiện trách nhiệm cá nhân và xã hội Cần biến các

kỹ năng thành những việc làm thực tế trong hoạt động giáo dục nhằm định hướng đúng

và phát triển năng lực cho sinh viên của mình Xây dựng các dự án, các kế hoạch hoạt động để sinh viên có nhiều cơ hội chủ động tìm tòi, khám phá trải nghiệm và kiến tạo kiến thức mà người học đã lĩnh hội được trong quá trình tiếp thu kiến thức từ giảng viên

- Giảng viên phải thường xuyên đổi mới phương pháp dạy học Tùy theo nội dung từng bài học, giảng viên lựa chọn phương pháp, kỹ thuật, hình thức dạy học phù hợp Việc sử dụng các phương pháp dạy học tích cực phải mềm dẻo, linh hoạt nhằm đáp ứng được các mục tiêu, hiệu quả của bài dạy đồng thời phải tăng được tính hấp dẫn của môn học, kích thích được ở sinh viên tính ham hiểu biết, thích khám phá tri thức mới từ nhà trường cũng như trong môi trường xã hội

3 Kết luận

Phát triển công nghiệp văn hóa cũng chính là nhu cầu phát triển của nền kinh tế quốc dân và của xã hội Trong sự nghiệp xây dựng và phát triển văn hóa hiện nay, việc phát triển ngành công nghiệp văn hóa đang trở thành một yêu cầu cấp thiết Ngành Công nghiệp văn hóa Trường Đại học Văn Hiến được đưa vào giảng dạy trong bối cảnh nền kinh tế Việt Nam ngày càng phát triển, cũng như nhu cầu thụ hưởng văn hóa của người dân ngày càng cao Vì vậy, việc đào tạo nên một lực lượng lao động mang tính chuyên nghiệp trong lĩnh vực Công nghiệp văn hóa đáp ứng thực tiễn theo định hướng đào tạo ứng dụng của Trường Đại học Văn Hiến là hoàn toàn phù hợp với xu thế phát triển chung của xã hội, của thế giới trong thời kỳ hội nhập hiện nay

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Đảng Cộng sản Việt Nam (2019) Văn kiện Hội nghị lần thứ chín Ban Chấp hành Trung ương khoá XI Văn phòng Trung ương Đảng, Hà Nội, tr.56

2 Phạm Duy Đức (2017) Mối quan hệ giữa phát triển kinh tế và phát triển văn

Trang 11

triển: Những vấn đề của Việt Nam và kinh nghiệm của thế giới Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam và Hội đồng Lý luận Trung ương

3 Phạm Bích Huyền, Đặng Hoài Thu (2017) Giáo trình các ngành công nghiệp văn hóa Sđd, tr.17

4 Hồ Sĩ Quý (2017) Vấn đề lớn nhất của văn hóa Việt Nam hiện nay là sự lệch lạc về giá trị: Giả dối được coi là bình thường, đăng trong Kỷ yếu Hội thảo khoa học Văn hóa và phát triển: Những vấn đề của Việt Nam và kinh nghiệm của thế giới Viện

Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam và Hội đồng Lý luận Trung ương

5 Hoàng Tuyết (2012) Công nghiệp văn hoá ở Việt Nam: Là gì? Ai làm, bài

đăng trên báo Tin tức điện tử số ra ngày 01-9-2012, truy cập ngày 12-5-2018 tại https://baotintuc.vn/van-hoa/cong-nghiep-van-hoa-o-viet-nam-la-gi-ai-lam-

20120831125644984.htm

6 UNESCO: Các ngành công nghiệp văn hóa - Tâm điểm của văn hóa trong tương lai Website: http://portal.unesco.org/culture/en/ev Theo: ThS Phạm Bích Huyền - TS Đặng Hoài Thu: Giáo trình các ngành công nghiệp văn hoá, Nxb Đại học quốc gia, Hà Nội, 2009, tr.8

Trang 12

PHÁT TRIỂN NGÀNH CÔNG NGHIỆP VĂN HÓA Ở VIỆT NAM

TRONG BỐI CẢNH HIỆN NAY

ThS Trần Thị Lợi – Bộ môn Văn học

Tóm tắt: Hiện nay, phát triển ngành công nghiệp văn hóa là một trong những

nhiệm vụ hàng đầu được Đảng và Nhà nước ta quan tâm Nhờ đó, trong những năm gần đây, ngành này đã mang lại những lợi ích kinh tế nhất định cho đất nước Bên cạnh những thành tựu đạt được, đến nay chúng ta còn gặp không ít khó khăn về vốn, nguồn nhân lực… để phát triển công nghiệp văn hóa Vì thế bài viết này, ngoài việc đánh giá trực trạng của ngành công nghiệp văn hóa, người viết còn đưa ra một số giải pháp nhằm tăng cường phát triển ngành này ở nước ta Từ đó, tạo điều kiện Việt Nam quảng bá sản phẩm văn hóa cũng như thương hiệu quốc gia đến các nước trong khu vực và trên thế giới

Từ khóa: Công nghiệp văn hóa, phát triển ngành công nghiệp văn hóa

1 Đặt vấn đề

Trong những năm trở lại đây, bên cạnh việc phát triển các ngành kinh tế trọng điểm thì phát triển ngành công nghiệp văn hóa cũng là một trong những nhiệm vụ được Đảng và Nhà nước quan tâm Ngay từ “Chiến lược phát triển văn hóa đến năm 2020” được Chính Phủ phê duyệt theo Quyết định số 581/QĐ-TTg ngày 06.05.2009 đã nêu rõ phát triển công nghiệp văn hóa là xu thế tất yếu của thế giới và ở Việt Nam Nhận thức được tầm quan trọng của ngành công nghiệp văn hóa đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước nên Nghị quyết 33-NQ/TW của Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá

VI về “Xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển

bền vững đất nước” đã xác định mục tiêu cụ thể: “Xây dựng nền văn hóa và con người Việt Nam phát triển toàn diện, hướng đến chân - thiện - mỹ, thấm nhuần tinh thần dân tộc, nhân văn, dân chủ và khoa học Văn hóa thực sự trở thành nền tảng tinh thần vững chắc của xã hội, là sức mạnh nội sinh quan trọng bảo đảm sự phát triển bền vững và bảo vệ vững chắc Tổ quốc vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” [1] với mục đích khai thác tiềm năng và giá trị đặc sắc của văn hóa Việt Nam:

“Phát triển công nghiệp văn hóa nhằm khai thác và phát huy những tiềm năng và giá trị đặc sắc của văn hóa Việt Nam; khuyến khích xuất khẩu sản phẩm văn hóa, góp phần quảng bá văn hóa Việt Nam ra thế giới” (Nghị quyết Hội nghị lần thứ 9 của Ban Chấp

hành Trung ương Đảng khoá XI, 2014)

Trang 13

Sau Nghị quyết 33-NQ/TW không lâu, Chính phủ đã ban hành Quyết định 1755/QĐ-TTg về “Phê duyệt chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2020” Quyết định này đã đề ra mục tiêu cụ thể phát triển các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam như: Thiết kế; điện ảnh; xuất bản; thời trang; nghệ thuật biểu diễn; mỹ thuật, nhiếp ảnh và triển lãm; quảng cáo; kiến trúc; phần mềm và các trò chơi giải trí; thủ công mỹ nghệ; truyền hình và phát thanh Du lịch văn hóa trở thành những ngành kinh tế dịch vụ quan trọng, phát triển rõ rệt về chất và lượng, đóng góp tích cực vào tăng trưởng kinh tế và giải quyết việc làm thông qua việc sản xuất ngày càng nhiều sản phẩm, dịch vụ văn hóa đa dạng, chất lượng cao, đáp ứng nhu cầu sáng tạo, hưởng thụ, tiêu dùng văn hóa của người dân trong nước và xuất khẩu

Từ đó, góp phần quảng bá hình ảnh đất nước, con người Việt Nam Xác lập được các thương hiệu sản phẩm, dịch vụ văn hóa; ưu tiên phát triển các ngành có nhiều lợi thế, tiềm năng của Việt Nam (Quyết định Phê duyệt Chiến lược phát triển ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030, 2016)

Như vậy, nhận thức được phát triển công nghiệp văn hóa là nhiệm vụ quan trọng, trọng tâm nên Đảng và Nhà nước đã có những chủ trương, chính sách kịp thời nhằm thúc đẩy phát triển các sản phẩm văn hóa công nghiệp Tuy nhiên, trên thực tế công nghiệp văn hóa chưa thực sự phát huy được các “tiềm năng” vốn có của nó, chúng ta chưa thực sự khai thác triệt để những lợi thế mà ngành này có được, chưa có những giải pháp thiết thực, phù hợp để đưa ngành này phát triển trong và ngoài nước Bài viết này, chúng tôi sẽ đánh giá một số thực trạng ngành công nghiệp văn hóa hiện nay và khuyến nghị một số giải pháp nhằm đẩy mạnh phát triển ngành này một cách hiệu quả ở nước

ta trong thời gian tới

2 Nội dung

2.1 Khái niệm công nghiệp văn hóa

Thuật ngữ “công nghiệp văn hóa” xuất hiện từ những năm 1944, đối với thế giới đây là thuật ngữ khá quen thuộc, gần gũi, tuy nhiên với Việt Nam thì còn khá mới mẻ Hiện nay thuật ngữ này cũng còn nhiều cách hiểu khác nhau Chẳng hạn trong cuốn

“Dialectic of Enlightenment”, các tác giả Adorno và Horkneimer cho rằng công nghiệp văn hóa là làm cho văn hóa bác học và văn hóa bình dân gặp gỡ; đồng thời, phản bác quan điểm văn hóa tự nảy sinh từ đại chúng (Adorno và Horkneimer,1997) Hay tác giả O’Connor lại cho rằng: Công nghiệp văn hóa là những hoạt động giao thương các hàng hóa mang tính biểu trưng, mà giá trị kinh tế của những hàng hóa này phát sinh từ chính giá trị văn hóa của chúng Ông phân loại công nghiệp văn hóa gồm cả văn hóa đương

Trang 14

đại (phát thanh truyền hình, điện ảnh, xuất bản, thu thanh, thiết kế, kiến trúc, phương tiện truyền thông mới) và văn hóa truyền thống (nghệ thuật thị giác, thủ công, sân khấu, nghệ thuật trình diễn, văn học, bảo tàng, triển lãm, ) (O’Connor, 2000) Tại Việt Nam, tác giả Nguyễn Kim Liên lại nhấn mạnh đến hai yếu tố công nghiệp và sáng tạo khi bàn

đến khái niệm công nghiệp văn hóa: “Công nghiệp văn hóa là sự tập hợp các ngành kinh tế khai thác và sử dụng hiệu quả tính sáng tạo, kỹ năng, sở hữu trí tuệ, sản xuất các sản phẩm và dịch vụ có ý nghĩa văn hóa xã hội; nhấn mạnh đến hai yếu tố công nghiệp và sáng tạo Sự kết hợp giữa hai yếu tố công nghiệp và sáng tạo đã tạo nên đặc trưng của ngành công nghiệp này Nói cách khác, năng lực sáng tạo của cá nhân thông qua các phương tiện công nghệ hiện đại tạo nên một ngành kinh doanh hùng mạnh, giàu tiềm năng, chứa đựng cả giá trị kinh tế lẫn văn hóa” (Nguyễn Thị Kim Liên, 2020)

Năm 2007 UNESCO đã đưa ra khái niệm công nghiệp văn hóa và theo chúng tôi

đây là một khái niệm được cho là thống nhất và phổ biến hiện nay: “Công nghiệp văn hóa là các ngành sản xuất ra những sản phẩm vật thể và phi vật thể về nghệ thuật và sáng tạo, có tiểm năng thúc đẩy việc tạo ra của cải và thu nhập thông qua việc khai thác những giá trị văn hóa và sản xuất những sản phẩm và dịch vụ đưa vào tri thức (kể cả những giá trị văn hóa hiện đại và truyền thống) Điểm chung nhất của các ngành công nghiệp văn hóa là nó sử dụng tính sáng tạo, tri thức văn hóa và văn hóa” (UNESCO,

2007)

Như vậy, đến nay khái niệm công nghiệp văn hóa còn nhiều cách hiểu Tuy nhiên,

dù hiểu theo cách nào thì nhìn chung một sản phẩm công nghiệp văn hóa phải đảm bảo các yếu tố đó là tính sáng tạo, vốn văn hóa, công nghệ và kỹ năng kinh doanh

2.2 Thực trạng công nghiệp văn hóa ở nước ta hiện nay

Hiện nay, đối với các nước như Nhật Bản, Hàn Quốc… ngành công nghiệp văn hóa đang trở thành thế mạnh, là một trong những lĩnh vực kinh tế trụ cột của đất nước Hàng năm, ngành này đã đem lại doanh thu rất lớn cho đất nước và giải quyết việc làm cho hàng triệu lao động Ở Việt Nam, mặc dù chúng ta đang từng bước mở rộng phát triển ngành công nghiệp văn hóa, tuy nhiên ở mức độ nhất định nào đó, ngành này đã

và đang từng bước có những đóng góp tích cực cho sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước nhất là lĩnh vực điện ảnh, du lịch…

Trong lĩnh vực điện ảnh, chủ yếu tập trung ở hai lĩnh vực sản xuất và phát hành

phim đã mang lại những hiệu quả cao về kinh tế - xã hội: “Năm 2007, Hãng phim Phước Sang tham gia sản xuất phim Áo lụa Hà Đông đạt giải thưởng “Cánh Diều Vàng” tại

Trang 15

Liên hoan phim toàn quốc do Hội Điện ảnh tổ chức đã phản ánh dấu hiệu mới và bước tiến mới của điện ảnh tư nhân nước ta” (Nguyễn Thị Kim Liên, 2020)

Trong vài năm trở lại đây, nhờ thị hiếu của người dân cũng như sức mạnh của truyền thông mà ngành công nghiệp văn hóa ở Việt Nam nói chung, điện ảnh nói riêng

đã có sức hút đáng kể và mang lại doanh thu cao “Năm 2015 doanh thu phim chiếu rạp đạt khoảng 102 triệu USD, trong đó doanh thu chiếu phim Việt Nam chiếm 30% “Cơn sốt” phim Việt trong những tháng cuối năm 2015, đầu năm 2016 và thời gian gần đây với sự xuất hiện của các phim, như Tôi thấy hoa vàng trên cỏ xanh (2015), Em là bà nội của anh (2016), Tháng năm rực rỡ (2018) đã cho thấy sự phát triển của thị trường điện ảnh Việt Nam trong những năm qua” (Mai Hải Oanh, 2018)

Về lĩnh vực du lịch, do Việt Nam có nhiều di sản văn hóa được UNESCO công nhận như: Vịnh Hạ Long, nhã nhạc cung đình Huế, không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên… nhiều công trình văn hóa vật thể và phi vật thể với nhiều nét đẹp văn hóa, đây là điều kiện thu hút sự quan tâm của rất nhiều du khách trong và ngoài nước:

“6 tháng đầu năm 2019, tổng số khách quốc tế đến Việt Nam đạt 8.480.993 lượt, tăng 7,5% so với cùng kỳ năm 2018, phục vụ 45,5 triệu lượt khách du lịch nội địa, tổng thu

từ khách du lịch đạt 338.200 tỉ đồng, tăng 8,4% so với cùng kỳ năm 2018” (Phương

Anh, 2019)

Bên cạnh những thành tựu mà ngành công nghiệp văn hóa mang lại, chúng ta cũng còn gặp không ít khó khăn trong việc định hướng phát triển ngành này trong tương lai

Ở lĩnh vực điện ảnh, tuy có đem lại doanh thu cho nước nhà nhưng thực tế ngành này chưa có những bước đột phá mới Có nhiều bộ phim chưa thực sự thu hút người xem Hàng năm lượng phim sản xuất ra khá nhiều, tuy nhiên lượng người xem thì khá

khiêm tốn: “Theo thống kê, điện ảnh Việt Nam mỗi năm sản xuất khoảng mười phim nhựa, nhưng chỉ có 1/10 số phim này được người xem tiếp nhận ngoài thị trường, thậm chí tỷ lệ này cũng không ổn định” (Thu Hà, 2009) Cùng với điện ảnh thì các ngành

quảng cáo, xuất bản, âm nhạc cũng đang đối mặt với những khó khăn về nguồn vốn đầu

tư và thị trường tiêu thụ: “Các ngành quảng cáo, xuất bản, truyền hình hiện cũng đang phải đối diện với những cơn khủng hoảng (về nguồn vốn đầu tư, tìm kiếm thị trường) cần phải tái cơ cấu, cổ phần hóa, hoạt động độc lập, thoát khỏi cơ chế quản lý tập trung quan liêu bao cấp, chủ động, tích cực đổi mới, sáng tạo để đáp ứng tốt hơn những nhu cầu, đòi hỏi ngày càng cao của công chúng” (Thu Hà, 2009)

Trang 16

Bên cạnh đó, ở Việt Nam hiện nay có rất nhiều khu du lịch, các viện bảo tàng, đây là điểm đến lý tưởng của khách trong và ngoài nước Tuy nhiên, việc chăm sóc, phục vụ du khách vẫn còn cứng nhắc: đúng 8 giờ sáng mở cửa, 5 giờ chiều đóng cửa và không quan tâm tới việc du khách tới đây là những ai, họ từ đâu tới, họ tới với mục đích

gì hay họ có điều gì chưa hài lòng về nơi này không… điều này đi ngược lại với xu hướng chung Vì thế, cần phải thay đổi tư duy của đội ngũ chăm sóc khách hàng, tạo môi trường làm việc chuyên nghiệp, tận tâm hơn… có như thế mới thu hút được khách

du lịch bốn phương

Các dự án để phát triển ngành công nghiệp văn hóa ở nước ta chưa nhiều, chưa thu hút được sự quan tâm đúng mức của các nhà quản lý cũng như chưa thu hút được vốn đầu tư nước ngoài Bên cạnh đó, việc đào tạo nguồn nhân lực ở các trường đại học về ngành công nghiệp văn hóa còn hạn chế và chưa hiệu quả

Việt Nam là nước có dân số đông, hơn 90 triệu người, trong đó tầng lớp thanh thiếu niên chiếm đa số Với lực lượng lao động dồi dào sẽ là điều kiện phát triển ở nhiều lĩnh vực như văn hóa ẩm thực hay các ngành nghề truyền thống, các loại hình nghệ thuật dân gian… Bên cạnh đó, đặc tính của người Việt Nam vốn siêng năng, cần cù, chịu khó… cũng là một lợi thế để tạo ra các sản phẩm sản phẩm thủ công mĩ nghệ Tuy nhiên đến nay, chúng ta chưa có chính sách phù hợp để tận dụng tối đa nguồn nhân lực này

Như vậy, bên cạnh những thành tựu mà ngành công nghiệp văn hóa mang lại thì chúng ta cũng còn gặp nhiều khó khăn để phát triển ngành này trong tương lai Chính vì thế, rất cần sự sâu sát của Đảng và Nhà nước trong việc đưa ra những chính sách phù hợp với đặc trưng ngành nghề và phù hợp với tình hình hình phát triển chung của đất nước và thế giới

3 Một số giải pháp nhằm phát triển ngành công nghiệp văn hóa

Thứ nhất, chúng ta cần phải đặt văn hóa lên một tầm cao mới, xem việc phát triển

ngành công nghiệp văn hóa là một yếu tố không thể thiếu trong chiến lược phát triển lâu bền của một quốc gia Muốn làm được điều này, cần phải có sự phối hợp nhịp nhàng, đồng bộ từ trung ương đến địa phương Đảng, Nhà nước đã ban hành các chủ trương, chính sách về phát triển ngành công nghiệp văn hóa, vậy hiện thực hóa các chủ trương, chính sách này là nhiệm vụ của các ngành chức năng, các địa phương và mỗi một cá nhân người Việt

Thứ hai, cần thay đổi nhận thức về văn hóa, không nên cho rằng văn hóa là văn

hóa, kinh tế là kinh tế Mà trong văn hóa chúng ta cũng cần phải biết làm cho nó mang lại lợi nhuận kinh tế, làm cho văn hóa phổ biến ở trong nước và trên thế giới Khi thu

Trang 17

hút được sự quan tâm của du khách trong và ngoài nước thì nó sẽ đem lại lợi ích về kinh

tế cho nước nhà Như vậy, văn hóa vừa có giá trị tinh thần lại vừa có cả giá trị kinh tế

Thứ ba, phát hiện, tu dưỡng, bảo tồn và quảng bá các nét đẹp văn hóa (vật thể,

phi vật thể) của quốc gia là nhiệm vụ rất cần thiết Đây chính là điều kiện, tiền đề để phát triển ngành công nghiệp văn hóa Một quốc gia có nhiều nét đẹp văn hóa, nhiều danh lam, thắng cảnh (thậm chí có nhiều kỳ quan thế giới), có bờ biển chạy dọc theo chiều dài đất nước, được thiên nhiên ưu đãi, có khí hậu ôn hòa… như Việt Nam thì việc phát triển ngành công nghiệp văn hóa là một điều kiện vô cùng thuận lợi Vì vậy, chúng

ta cần có các giải pháp đồng bộ để phát triển hiệu quả ngành “công nghiệp không khói” này, như: tu dưỡng, bảo tồn các nét đẹp văn hóa, các danh lam thắng cảnh; xây dựng cơ chế để khai thác hiệu quả các dịch vụ; quảng bá rộng rãi để thu hút khách du lịch…

Thứ tư, cần tập trung hơn nữa về vốn cũng như nhân lực để phát triển ba trung

tâm công nghiệp phát triển của đất nước: Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh và Đà Nẵng

Thứ năm, tại các trường cao đẳng, đại học cần đổi mới nội dung, chương trình

đào tạo phù hợp với tình hình thực tế để đào tạo ra nguồn nhân lực lao động lành nghề;

triển khai chiến lược phát triển văn hóa, xây dựng và thực hiện kế hoạch “đào tạo nhân lực đối với các trường văn hóa, nghệ thuật; cơ chế, chính sách đặc thù đào tạo tài năng nghệ thuật; đào tạo giáo viên dạy nhạc, họa các trường phổ thông; tổ chức các hình thức thích hợp để học sinh, sinh viên nâng cao kiến thức về lịch sử, văn hóa, nghệ thuật,

di sản văn hóa dân tộc, tham quan bảo tàng, di tích lịch sử - văn hóa”… (Quyết định

về việc phê duyệt chiến lược phát triển văn hóa đến năm 2020, 2009)

4 Kết luận

Phát triển ngành công nghiệp văn hóa sẽ là điều kiện để tạo ra những sản phẩm - dịch vụ văn hóa có tính cạnh tranh Khi ngành công nghiệp văn hóa phát triển sẽ giải quyết được vấn đề việc làm, giúp bộ phận thanh thiếu niên có việc làm cũng như thu nhập ổn định Từ đó sẽ mang lại lợi ích kinh tế cho đất nước và cải thiện đời sống cho người dân Phát triển công nghiệp văn hóa còn là cơ sở, là điều kiện để quảng bá hình ảnh con người, đất nước Việt Nam đến bạn bè bốn phương và đây cũng là cách để chúng

ta khẳng định truyền thống tốt đẹp của văn hóa Việt Nam với thế giới Chính vì thế, Đảng và Nhà nước cần có những chính sách phù hợp, kịp thời để ngành này phát huy được những tiềm năng vốn có của nó, để ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam có thể vươn xa và sánh với các nước trong khu vực và trên thế giới

Trang 18

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Nghị quyết Hội nghị lần thứ 9 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XI, ngày 9/06/2014 đọc từ https://thuvienphapluat.vn/van-ban/van-hoa-xa-hoi/Nghi-quyet-33-NQ-TW-2014-xay-dung-phat-trien-van-hoa-con-nguoi-Viet-Nam-237544.aspx ngày 15/3/2020

2 Quyết định Phê duyệt Chiến lược phát triển ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 ngày 8/9/2016 đọc từ https://thuvienphapluat.vn/van-ban/van-hoa-xa-hoi/Quyet-dinh-1755-QD-TTg-chien-luoc-phat-trien-nganh-cong-nghiep-van-hoa-Viet-Nam-den-2020-2016-322023.aspx ngày 15/3/2020

3 Quyết định về việc phê duyệt chiến lược phát triển văn hóa đến năm 2020, ngày 06.05.2009, đọc từ https://thuvienphapluat.vn/van-ban/van-hoa-xa-hoi/Quyet-dinh-581-QD-TTg-phe-duyet-chien-luoc-phat-trien-van-hoa-den-nam-2020-

88274.aspx

4 Phương Anh, ngày 22/8/2019, Phát triển ngành công nghiệp văn hóa, đẩy mạnh quảng bá thương hiệu quốc gia, đọc từ https://thethaovanhoa.vn/van-hoa/phat-trien-cac-nganh-cong-nghiep-van-hoa-day-manh-quang-ba-thuong-hieu-quoc-gia-

n20190822074113944.htm, ngày 16/3/2020

5 Thu Hà, ngày 30/8/2009, Công nghiệp văn hóa Việt Nam, thiếu tiền, dư mâu thuẫn, đọc từ https://tuoitre.vn/cong-nghiep-van-hoa-o-vn-thieu-tien-du-mau-thuan-334346.htm, ngày 16/3/2020

6 Nguyễn Thị Kim Liên (Học viện Chính trị khu vực II), Phát triển công nghiệp văn hóa theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XI của Đảng, đọc từ https://thegioiluat.vn/bai-viet-hoc-thuat/Phat-trien-cong-nghiep-van-hoa-theo-tinh-than-Nghi-quyet-Dai-hoi-XII-cua-Dang-6856/ ngày 15/3/2020

7 Mai Hải Oanh, ngày 24/10/2018, Vấn đề phát triển công nghiệp văn hóa ở Việt Nam, đọc từ http://tuyengiao.vn/van-hoa-xa-hoi/van-hoa/van-de-phat-trien-cong-nghiep-van-hoa-o-viet-nam-115850, ngày 16/3/2020

8 UNESCO, (2007) đọc từ http://cjs.inas.gov.vn/index.php?newsid=1097, ngày 15/3/20120

9 XemAdorno, T W., và Horkheimer, M.: Dialectic of enlightenment, Vol 15, Verso, 1997

10 O’Connor, J.: The definition of the “cultural industries” The European Journal of Arts Education, 2000

Trang 19

TÁC ĐỘNG CỦA THỂ CHẾ ĐẾN SỰ PHÁT TRIỂN CỦA

CÔNG NGHIỆP VĂN HÓA

ThS Trần Thị Hòa - Khoa Kinh tế

Tóm tắt: Bài viết thể hiện một số tác động của đổi mới thể chế đối với sự phát

triển công nghiệp văn hóa Việt Nam những năm gần đây qua các văn bản pháp luật như Nghị quyết Trung ương 5 (khóa VIII); Quyết định số 1755/QĐ –TTg của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược phát triển các ngành Công nghiệp văn hóa Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 Từ đó ngành công nghiệp văn hóa đã phát triển theo định hướng hiện đại, hội nhập, có đầu tư trọng điểm và đạt được những thành tựu đáng kể để ngành công nghiệp văn hóa dần mang lại hiệu quả thực tế, đóng góp cho xã hội

Từ khoá: Công nghiệp văn hóa, thể chế, phát triển

1 Đặt vấn đề

Trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế hiện nay, một trong những yêu cầu bức thiết được đặt ra đối với văn hóa Việt Nam là cần hoàn thiện thể chế văn hóa cho phù hợp với những điều kiện mới để văn hóa thực sự trở thành nền tảng tinh thần vững chắc của xã hội

Trên cơ sở nắm chắc xu thế phát triển văn hóa thế giới ngày nay, nhận thức về quy luật xây dựng văn hóa dưới điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, cải cách thể chế văn hóa là sự tiếp tục cải cách thể chế kinh tế, chính trị, giáo dục, khoa học - kỹ thuật, y tế, thể thao Phát triển văn hóa - xã hội hài hòa với phát triển kinh

tế, bảo đảm tiến bộ và công bằng xã hội trong từng bước và từng chính sách phát triển thể hiện rõ nhất tính ưu việt của chế độ ta Điều đó đã đặt ra một loạt yêu cầu mới cho việc cải cách thể chế văn hóa

2 Nội dung

2.1 Công nghiệp văn hóa là gì

Năm 1982, UNESCO cho rằng “Công nghiệp văn hóa xuất hiện khi các hàng hóa

và dịch vụ văn hóa được sản xuất và tái sản xuất, được lưu trữ và phân phối trên dây chuyền công nghiệp và thương mại, tức là trên quy mô lớn, phù hợp với chiến lược kinh

tế hơn là phát triển văn hóa” Trong những tài liệu gần đây của UNESCO, Công nghiệp văn hóa (CNVH) là những ngành sản xuất ra những sản phẩm hữu hình hoặc vô hình mang tính nghệ thuật, sáng tạo và có tiềm năng tạo ra thu nhập, của cải thông qua việc khai thác các tài sản văn hóa, sản xuất hàng hóa, dịch vụ dựa trên tri thức Các lĩnh vực

Trang 20

thuộc CNVH có điểm chung là đều vận dụng tính sáng tạo, tri thức văn hóa và sở hữu trí tuệ để tạo ra các sản phẩm, dịch vụ với ý nghĩa văn hóa, xã hội (UNESCO, 1982)

CNVH là hoạt động sản xuất, dịch vụ gắn với sáng tạo (vì vậy còn được coi là ngành Công nghiệp sáng tạo - Creative Industries), nằm giữa kinh tế, chính trị, xã hội

và văn hóa; giữa lĩnh vực kinh tế công nghiệp, kinh tế dịch vụ và kinh tế liên kết số; là điểm giao của nghệ thuật, kinh doanh và khoa học - công nghệ; giữa bản sắc văn hóa quốc gia và hội nhập quốc tế Sản phẩm của ngành CNVH được tạo ra trong chuỗi sản xuất hàng hóa, từ việc sáng tạo hay tạo lập sản phẩm đến sản xuất, phân phối và dịch vụ tiêu dùng sản phẩm trên thị trường Sản phẩm của ngành CNVH có thị trường rộng lớn (phạm vi trong nước, xuất khẩu, quốc tế, đa quốc gia và toàn cầu) và thu hút nhiều doanh nghiệp, cộng đồng xã hội

2.2 Thể chế là gì?

Thể chế là hệ thống pháp chế gồm: Hiến pháp, các bộ luật, các quy định, các quy tắc, chế định nhằm hài hòa các quyền lợi và trách nhiệm của mỗi công dân, mọi tổ chức trong một trật tự xã hội, hướng tới sự tổng hòa các lợi ích của cộng đồng

Vốn tính của thể chế

Vốn tính của thể chế được thể hiện qua các đặc trưng sau:

- Thể chế là sản phẩm của chế độ xã hội Thể chế phản ánh sâu sắc bản chất và chức năng của Nhà nước đương quyền Trong đó Hiến pháp có thể coi như “linh hồn” của một chế độ xã hội

- Thể chế được điều chỉnh thích ứng với những thay đổi của chế độ chính trị đương quyền

- Thể chế cũng có thể được sửa đổi, thậm chí bãi bỏ, phụ thuộc vào sự cải cách hay đổi mới các quan hệ kinh tế - xã hội của Nhà nước cầm quyền, thích ứng với điều kiện lịch sử quốc gia

- Thể chế có vai trò quyết định đến sự hình thành và hoạt động của cơ chế, chính sách, cơ chế điều hành và hành vi ứng xử của con người (Thanh Tuyền và cộng sự, 2015)

2.3 Tác động của thể chế đến sự phát triển của Công nghiệp văn hóa

Văn hóa có vị trí và vai trò đặc biệt đối với sự phát triển của một quốc gia Năm

1986, Đảng ta kế thừa và phát triển quan điểm về văn hóa của các giai đoạn trước, đưa

ra quan điểm: “Văn hóa là nhu cầu thiết yếu của đời sống con người, thể hiện trình độ phát triển chung của đất nước, là lĩnh vực sản xuất tinh thần, tạo ra các giá trị, sản phẩm làm giàu đẹp cuộc sống” (Nguyễn Duy Bắc, 2018)

Trang 21

Năm 1998, Nghị quyết T.Ư 5 (khóa VIII) của Đảng về “Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”, khẳng định “Văn hóa Việt Nam là tổng thể những giá trị vật chất và tinh thần do cộng đồng các dân tộc Việt Nam sáng tạo ra trong quá trình dựng nước và giữ nước, là kết quả giao lưu và tiếp thu tinh hoa của nhiều nền văn minh thế giới để không ngừng hoàn thiện mình” (Trần Quốc Toản, 2018)

Tính đến thời điểm tháng 11/2018, Việt Nam hiện có 26 di sản văn hóa được UNESCO ghi danh (gồm 8 di sản văn hóa vật thể, 12 di sản văn hóa phi vật thể và 6 di sản tư liệu); 95 di tích quốc gia đặc biệt; 3.447 di tích quốc gia; 249 di sản văn hóa phi vật thể được ghi vào danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia; 617 nghệ nhân đã được phong tặng danh hiệu nghệ nhân ưu tú trong lĩnh vực di sản văn hóa phi vật thể;

160 bảo tàng, lưu giữ và trưng bày khoảng 3 triệu tài liệu hiện vật, trong đó có 142 hiện vật và nhóm hiện vật được công nhận là bảo vật quốc gia (Tạp chí cộng sản, 2019) Cụ thể, những di sản văn hóa như: vịnh Hạ Long, vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng, quần thể di tích cố đô Huế, phố cổ Hội An, thánh địa Mỹ Sơn, hoàng thành Thăng Long, thành nhà Hồ, nhã nhạc cung đình Huế, không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên, dân ca quan họ, ca trù Những công trình văn hóa vật thể, phi vật thể chứa đựng nhiều giá trị văn hóa với những vẻ đẹp tiềm ẩn sẽ là điểm dừng chân khám phá của nhiều du khách quốc tế

Trang 22

Nguồn: Phạm Đình Tuyển, 2017

Những giá trị văn hóa đặc sắc trên của đất nước Việt Nam được giữ gìn, kế thừa

và phát huy làm phong phú cho nền văn hóa dân tộc là nhờ vào chiến lược của những chính sách cải cách thể chế như sau:

- Ngày 08/9/2016, tại Quyết định số 1755/QĐ –TTg (Thư Viện pháp luật, 2016), Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược phát triển các ngành CNVH Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 có những mục tiêu và vai trò:

Mục tiêu chung: Phát triển các ngành CNVH trở thành những ngành kinh tế dịch

vụ quan trọng, phát triển rõ rệt về chất và lượng, đóng góp tích cực vào tăng trưởng kinh

tế và giải quyết việc làm thông qua việc sản xuất ngày càng nhiều sản phẩm dịch vụ văn hóa đa dạng, chất lượng cao, đáp ứng nhu cầu sáng tạo, hưởng thụ và tiêu dùng văn hóa của người dân trong nước và xuất khẩu; góp phần quảng bá thương hiệu sản phẩm, dịch

vụ văn hóa; ưu tiên phát triển các ngành có nhiều lợi thế, tiềm năng của Việt Nam

Mục tiêu cụ thể: Phấn đấu doanh thu của các ngành CNVH đóng góp khoảng 3%

Trang 23

Vai trò: Góp phần giữ gìn tinh hoa văn hóa truyền thống; quảng bá hình ảnh đất nước, con người Việt Nam; thúc đẩy sự kết hợp giữa bảo vệ và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc với tiếp thu tinh hoa văn hóa thế giới trong quá trình giao lưu và hợp tác quốc tế; khơi dậy sức sáng tạo văn hóa của mọi thành viên trong xã hội; khai thác tiềm năng kinh tế của văn hóa như một hệ thống tài nguyên mới; là công cụ hiệu quả để văn hóa trở thành động lực phát triển kinh tế, xã hội và tăng cường sức mạnh văn hóa - sức mạnh mềm của quốc gia trong thời đại hội nhập toàn cầu, kinh tế tri thức

Sự ra đời của Chiến lược là kết quả nỗ lực của các nhà hoạch định chính sách khi đánh giá khách quan thực trạng, tiềm năng và thách thức của các ngành công nghiệp văn hóa Chiến lược đã bắt đầu từ việc công nhận thị trường, đổi mới cơ chế hoạt động của các đơn vị văn hóa do Nhà nước quản lý, tiến hành xã hội hóa hoạt động sản xuất và dịch vụ văn hóa, luật hóa các quy định pháp quy liên quan đến công nghiệp văn hóa, triển khai các chính sách kinh tế trong văn hóa Các bước đi này giúp Việt Nam dần thay đổi quan niệm nhận thức về vị trí, vai trò, chức năng của công nghiệp văn hóa, tạo môi trường có khả năng giải phóng sức sản xuất văn hóa, khuyến khích các phương thức kinh doanh, kênh lưu thông khác nhau trên thị trường văn hóa

Sau 2 năm triển khai chiến lược, bộ đang tích cực tham mưu, sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện thể chế, các quy định pháp luật chuyên ngành: Luật sở hữu trí tuệ, luật điện ảnh, luật quảng cáo và các nghị định hướng dẫn chuyên ngành: Nghệ thuật biểu diễn,

mỹ thuật, nhiếp ảnh, tạo hành lang pháp lý khuyến khích phát triển sáng tạo, phát triển công nghiệp văn hóa cùng với chính sách của Nhà nước đầu tư phát triển công nghiệp văn hóa thông qua các hình thức, hoạt động hỗ trợ, tài trợ, đặt hàng, tổ chức các cuộc thi, triển lãm, hội chợ/lễ hội

Thực hiện Quyết định số 1341/QĐ-TTg ngày 08/7/2016 và Quyết định số 1437/QĐ-TTg ngày 19/7/2016 của Thủ tướng Chính phủ, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã chỉ đạo, tổ chức đào tạo tài năng ở nước ngoài các ngành, chuyên ngành nghệ thuật thuộc lĩnh vực điện ảnh, sân khấu, mỹ thuật, âm nhạc, múa, xiếc, văn hóa bằng ngân sách Nhà nước để bổ sung nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ xây dựng các ngành công nghiệp văn hóa; tuyển chọn tài năng ở các ngành, chuyên ngành nghệ thuật thuộc lĩnh vực điện ảnh, sân khấu, mỹ thuật, âm nhạc, múa, xiếc, văn hóa nhằm đào tạo chất lượng cao, tạo nguồn nhân lực nghệ sĩ biểu diễn phục vụ xây dựng các ngành công nghiệp văn hóa; tổ chức triển lãm mỹ thuật học sinh, sinh viên toàn quốc; các lớp tập huấn, xây dựng các đề án trình Thủ tướng Chính phủ

Trang 24

Nhà nước cũng cho phép khối tư nhân tham gia thành lập các hãng phim, chiếu phim, tổ chức các hoạt động biểu diễn, hợp tác với hàng chục cơ sở in ấn Đến cuối năm

2015, hệ thống các thiết chế văn hóa cả nước bao gồm các rạp chiếu phim, rạp hát, bảo tàng, trung tâm văn hóa, các phương tiện thông tin đại chúng đã có thành phần sở hữu

đa dạng Đây chính là thay đổi mang tính đột phá tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động sản xuất và dịch vụ văn hóa, hướng tới một cấu trúc sở hữu đa dạng, hình thành các ngành nghề công nghiệp văn hóa mới, mở rộng thị trường và tăng cường khả năng hội nhập quốc tế

Những năm gần đây, thị trường điện ảnh Việt Nam bắt đầu xuất hiện những con

số ấn tượng về doanh thu phòng vé, không chỉ với phim Hollywood mà cả phim Việt Nam Thị phần phim chiếu rạp tại Việt Nam đã có những bước phát triển vượt bậc và vẫn đang trong quá trình tăng trưởng mạnh với nhiều tiềm năng Theo thống kê, số lượng phòng chiếu phim trên cả nước năm 2018 là 901 phòng với 130.900 ghế Tính đến tháng 2/2019, số lượng rạp CGV vẫn áp đảo với 75 rạp trên toàn quốc, Lotte Cinema đứng thứ hai với 42 rạp Hai hãng phát hành khác là BHD (BHD Media JSC.) và Galaxy Cinema (Galaxy Studio JSC.) lần lượt có 9 và 14 rạp trên toàn quốc

Đặc biệt, nhìn lại doanh thu phim Việt chiếu dịp Tết Nguyên đán 2019, chỉ sau một tuần đã thu về hơn 250 tỷ đồng cho thấy một tín hiệu vui đối với các nhà đầu tư và sản xuất phim Việt Nam Thị trường điện ảnh Việt đang vô cùng sôi động sau một loạt phim thắng lớn, mở ra kỳ vọng vào ngành công nghiệp mang lại lợi nhuận lớn trong tương lai gần Ðiểm lại số lượng phim sản xuất trong nước bốn năm qua, có thể thấy những con số vô cùng ấn tượng Nếu năm 2015 có 40 phim (6 phim Nhà nước, 34 phim

tư nhân); năm 2015 có 35 phim (không có phim Nhà nước, 35 phim tư nhân); năm 2017

có gần 40 phim (không có phim Nhà nước); thì năm 2018 có 41 phim (có một phim của Ðiện ảnh Quân đội, còn lại là phim tư nhân)

Điển hình, hai bộ phim chiếu dịp Tết 2019 “Cua lại vợ bầu” và “Trạng Quỳnh”

đã tạo cơn sốt tại các phòng vé với doanh thu đều hơn 100 tỷ đồng Ngay sau hiện tượng đặc biệt này, bộ phim “Hai Phượng” tiếp tục phá kỷ lục doanh thu khi chỉ sau ba tuần công chiếu đã thu được 160 tỷ đồng Hiện bộ phim được chiếu trên hệ thống rạp của

Mỹ, Canada và Trung Quốc; trở thành bộ phim có doanh thu cao nhất trong lịch sử điện ảnh Việt Nam khi đạt mức hơn 200 tỷ đồng Nếu trước đây, những con số doanh thu chỉ ở mức vài chục tỷ thì nay đã lên tới con số hơn 100 tỉ đồng chứng tỏ sức bật lớn của thị trường điện ảnh Việt trong giai đoạn hiện nay (Hồng Vân, 2019)

Trang 25

Du lịch văn hóa là một trong 4 dòng sản phẩm du lịch chủ đạo của Việt Nam Nhờ thực hiện chiến lược phát triển ngành công nghiệp văn hóa mà yếu tố văn hóa trong phát triển du lịch ngày càng được chú trọng Bên cạnh đó, việc kết hợp khai thác giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc đã góp phần tạo nên giá trị gia tăng, tăng tính hấp dẫn, đặc sắc cho các dòng sản phẩm du lịch khác Một số địa phương ban hành kế hoạch thực hiện Nghị quyết số 103/NQ-CP ngày 06/10/2017 của Chính phủ thực hiện Nghị quyết

số 08/NQ-TW ngày 16/01/2017 của Bộ Chính trị về phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn Hình thành nhiều sản phẩm và loại hình du lịch mới, đặc trưng của địa phương Tăng cường giới thiệu các sản phẩm văn hóa đặc thù để thu hút khách du lịch và đáp ứng nhu cầu mua sắm của khách hàng

Trong ngành Công nghiệp văn hóa thì sức sáng tạo của con người đóng vai trò quan trọng trong việc tạo ra các sản phẩm, dịch vụ văn hóa có chất lượng cao, chứa đựng những giá trị nhân văn nhằm quảng bá hình ảnh, vị thế của quốc gia, dân tộc, vừa mang lại sức sống mới cho nền kinh tế Ở Việt Nam, phát triển ngành CNVH là xu hướng tất yếu tạo sự phát triển bền vững, hài hòa, hướng đến mục tiêu tất cả vì hạnh phúc con người Dù thực tiễn đang đặt ra những thách thức, khó khăn, nhưng những tiềm năng, thế mạnh vốn có từ nguồn nhân lực, truyền thống văn hóa, cơ chế, chính sách sẽ là điều kiện căn bản để ngành CNVH nước ta có chỗ đứng trên thị trường thế giới

3 Kết luận

Trong quá trình đổi mới thể chế, phát triển kinh tế thị trường và hội nhập quốc

tế, đã tạo những tiền đề, điều kiện, môi trường, đồng thời đặt ra những yêu cầu mới đối với văn hóa Sự lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước đối với văn hóa, cũng như vai trò của tất cả các chủ thể trong xã hội về văn hóa, đã tạo nên bước phát triển mới của nền văn hóa Việt Nam

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Nguyễn Duy Bắc (2018) Nghị quyết Trung ương 5 (Khóa VIII) – Chiến lược văn hóa của Đảng trong thời kỳ đổi mới Truy cập tại: http://tuyengiao.vn/nghien-cuu/ly-luan/nghi-quyet-trung-uong-5-khoa-viii-chien-luoc-van-hoa-cua-dang-trong-thoi-ky-doi-moi-115273, ngày truy cập 6/3/2020

2 Trần Quốc Toản (2018) Vị trí và vai trò của văn hóa trong đổi mới - phát triển: Thực tiễn và những vấn đề đặt ra Truy cập tại: http://hdll.vn/vi/nghien-cuu -trao-doi/vi-tri-va-vai-tro-cua-van-hoa-trong-doi-moi-phat-trien-thuc-tien-va-nhung-van-de-dat-ra.html, ngày truy cập 6/3/2020

Trang 26

3 Phạm Đình Tuyển (2017) Khởi nghiệp thúc đẩy phát triển các ngành công nghiệp văn hóa, Tạp chí kiến trúc 01-2017 Truy cập tại: https://www.tapchikientruc.com.vn/chuyen-muc/khoi-nghiep-thuc-day-phat-trien-cong-nghiep-van-hoa.html, ngày truy cập 10/3/2020

4 Nguyễn Thanh Tuyền và cộng sự (2015) Mối quan hệ hữu cơ giữa thể chế, cơ

chế, chính sách, cơ chế điều hành và hành vi ứng xử, Tạp chí Phát triển và hội nhập, số

22 (32) tháng 05-06/2015, Tr 1

5 Tạp chí Cộng sản (2019) Hoàn thiện thể chế văn hóa đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước Truy cập tại: https://baocantho.com.vn/hoan-thien-the-che-van-hoa-dap-ung-yeu-cau-phat-trien-ben-vung-dat-nuoc-a111457.html

6 Thư viện Pháp luật (2016) Truy cập tại: hoa-xa-hoi/Quyet-dinh-1755-QD-TTg-chien-luoc-phat-trien-nganh-cong-nghiep-van-hoa-Viet-Nam-den-2020-2016-322023.aspx, ngày truy cập 15/3/2020

https://thuvienphapluat.vn/van-ban/van-7 UNESCO (1982) Cultural Industries - a challenge for the future of culture, Paris,

1982 Truy cập tại: https://unesdoc.unesco.org/ark:/48223/pf0000049972, ngày truy cập 15/3/2020

8 Hồng Vân (2019) Công nghiệp văn hóa: Thị trường điện ảnh Việt Nam những con số ấn tượng Truy cập tại: https://cucdienanh.vn/thong-tin-hoat-dong-nganh/cong-nghiep-van-hoa-thi-truong-dien-anh-viet-nam-nhung-con-so-an-tuong-374.html,ngày truy cập 15/3/2020

Trang 27

THỰC TRẠNG CÔNG TÁC ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC

CHUYÊN NGÀNH CÔNG NGHIỆP VĂN HÓA TRONG CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP 4.0

ThS.Trần Huy Cường, ThS.Mai Lưu Huy –

Khoa Kinh tế

Tóm tắt: Cách mạng công nghiệp 4.0 và ngành công nghiệp văn hóa là hai khái

niệm chỉ mới được đề cập tại Việt Nam trong thời gian vừa qua Nhằm phát triển và có định hướng cụ thể đối với ngành công nghiệp văn hóa tránh mất đi những lợi thế cũng như tiềm năng sẵn có tại Việt Nam, nhóm tác giả đã tập trung tổng hợp các nghiên cứu

và thực trạng hiện nay của ngành công nghiệp văn hóa tại Việt Nam cũng như những ảnh hưởng của cách mạng công nghiệp 4.0 đến ngành công nghiệp này Thông qua những phân tích đó, nhóm tác giả mong muốn đề xuất các giải pháp nhằm giúp các sở ban ngành và các doanh nghiệp có cái nhìn tổng quan trong công tác phát triển ngành công nghiệp văn hóa còn đang sơ khai tại Việt Nam

Từ khóa: Cách mạng công nghiệp 4.0, Công nghiệp văn hóa, Đào tạo nhân lực

1 Giới thiệu

Việt Nam có một thế mạnh mà nhiều quốc gia phải mơ ước, đó chính là con người Trong số hơn 90 triệu dân thì có tới 60% số người có độ tuổi dưới 40 (Worldbank, 2019) đây được xem là độ tuổi vàng Một trong những đặc điểm của năng lực sáng tạo

là phụ thuộc vào tài năng, cá tính của cá nhân là chính Hiện nay đã xuất hiện những cá nhân tài năng trong các lĩnh vực văn hóa nghệ thuật, các nhà sản xuất và kinh doanh văn hóa Đó là những người trải qua đào tạo chuyên môn, đam mê với nghề, nhanh nhạy với

xu thế thị trường, có khả năng thích ứng, giao lưu, tiếp biến văn hóa cao…

Cho đến bây giờ, chúng ta đã qua ba cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật lớn Thứ nhất, cách mạng công nghiệp 1.0 (1784) là sự xuất hiện của động cơ hơi nước Động cơ hơi nước tác động trực tiếp đến các ngành nghề như dệt may, chế tạo cơ khí, giao thông vận tải Động cơ hơi nước được đưa vào ôtô, tàu hỏa, tàu thủy, mở ra một kỷ nguyên mới trong lịch sử nhân loại Thứ hai, cách mạng công nghiệp 2.0 (1870) là khi động cơ điện ra đời, mang lại cuộc sống văn minh, năng suất tăng nhiều lần so với động cơ hơi nước Thứ ba, cách mạng công nghiệp 3.0 (1969) là khi bóng bán dẫn, điện tử, kết nối thế giới liên lạc được với nhau Vệ tinh, máy bay, máy tính, điện thoại, internet… là những công nghệ mà hiện nay chúng ta đang thụ hưởng Hiện nay là thời đại của cách mạng công nghiệp 4.0, đó là sự kết hợp cao độ giữa hệ thống siêu kết nối vật lý và kỹ

Trang 28

thuật số với tâm điểm là internet, vạn vật kết nối (IoT) và trí tuệ nhân tạo Công nghệ 4.0 sẽ giải phóng con người khỏi công việc trí tuệ

Cụm từ cách mạng công nghiệp 4.0 đang được nhắc đến rất nhiều từ cấp Nhà nước, đến doanh nghiệp và trường đại học, như một thách thức và cơ hội để phát triển đất nước Nhưng trong thực tế, đất nước chúng ta vẫn còn đang ở giai đoạn công nghiệp 1.0 và 2.0 - đó là giai đoạn cơ khí hóa, cơ sở hạ tầng, hệ thống cầu đường, bến cảng sân bay đang được xây dựng mạnh mẽ Dù vậy, một số ngành đã bắt kịp cách mạng công nghiệp 3.0 như công nghệ thông tin, viễn thông và đã có một số yếu tố của CMCN 4.0 như in 3D (đã tạo ra một mảnh sọ nhân tạo để vá sọ cho bệnh nhân ở Bệnh viện Chợ Rẫy năm 2016), trí tuệ nhân tạo (đã có một số sản phẩm) Song thành tựu này rất ít ỏi,

đa số là trong giai đoạn thử nghiệm

Do đó, để đáp ứng nhu cầu mới của xã hội về một thế hệ nhân lực mới đáp ứng được nhu cầu thay đổi của thế giới và tạo ra những giá trị sản phẩm chất lượng, nhóm tác giả đã tổng hợp cũng như phân tích các thực trạng của sự tác động ngành công nghiệp văn hóa trong bối cảnh cách mạng công nghiệp 4.0 nhằm đưa ra các đề xuất và giải pháp góp phần thúc đẩy sự phát triển của ngành công nghiệp văn hóa trong thời gian sắp tới theo như chỉ đạo của Chính phủ trong thời gian qua

2 Ngành công nghiệp văn hóa

Công nghiệp văn hóa (Cultural industries), xuất hiện vào năm 1944 bởi 02 tác giả Adorno và Horkneimer, là công nghiệp “sáng tạo”, tạo ra các sản phẩm và dịch vụ thương mại hóa cho mọi người với các nội dung nghệ thuật mang các yếu tố ý nghĩa về văn hóa và có tính sáng tạo (Towse, 2011) Với yếu tố cơ bản là sự kết hợp giữa công nghiệp và văn hóa Sản phẩm văn hóa là kết quả của các nghệ sỹ được đào tạo bài bản hoặc tự phát và có thể gắn liền với hành vi tiêu dùng của người dân thông qua những ý nghĩa xã hội

Công nghiệp văn hóa (CNVH) còn là sự tập hợp các ngành kinh tế khai thác và

sử dụng hiệu quả tính sáng tạo, kỹ năng, sở hữu trí tuệ, sản xuất các sản phẩm và dịch

vụ có ý nghĩa văn hóa xã hội; nhấn mạnh đến hai yếu tố công nghiệp và sáng tạo Trên thế giới, CNVH phát triển đặc biệt mạnh mẽ từ giữa thế kỷ XX Đó là sản phẩm kết hợp chặt chẽ giữa kỹ thuật cao với sự nghiệp văn hóa, thể hiện xu thế kinh tế và văn hóa hòa đồng, thấm quyện vào nhau Phát triển CNVH dần dần thành nhận thức chung của nhiều quốc gia Tỷ trọng CNVH trong hệ thống kinh tế của nhiều nước đã được nâng lên với tốc độ nhanh chóng và CNVH trở thành một ngành công nghiệp trụ cột trong nhiều nền kinh tế

Trang 29

Trong “Chiến lược phát triển văn hóa đến năm 2020” do Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 581/QĐ-TTg ngày 06/5/2009 đã khẳng định, phát triển CNVH đang là xu thế lớn và quan trọng trong chính sách văn hóa của các nước trên thế giới; đồng thời nhận thức rõ về xu thế tất yếu phải phát triển CNVH, những điều kiện phát triển CNVH và nhiệm vụ tập trung xây dựng cơ chế, chính sách, môi trường kinh doanh để phát triển ngành CNVH ở nước ta Đến Nghị quyết Hội nghị Trung ương 9 khóa XI (Nghị quyết số 33-NQ/TW ngày 09/6/2014) về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước cũng đề ra mục tiêu xây dựng thị trường văn hóa lành mạnh, đẩy mạnh phát triển CNVH, tăng cường quảng

bá văn hóa Việt Nam

Một trong 6 nhiệm vụ quan trọng của Nghị quyết là phát triển CNVH đi đôi với xây dựng, hoàn thiện thị trường văn hóa; phát triển CNVH nhằm khai thác và phát huy những tiềm năng, giá trị đặc sắc của văn hóa Việt Nam, khuyến khích xuất khẩu sản phẩm văn hóa, góp phần quảng bá văn hóa Việt Nam ra thế giới…

3 Thực trạng về nguồn nhân lực trong cách mạng công nghiệp 4.0 tại Việt Nam

Trong thời kỳ cận - hiện đại, nhân loại đã lần lượt diễn ra 4 cuộc cách mạng công nghiệp với những đặc trưng và trình độ phát triển ngày một cao Xuất hiện trong những năm gần đây, CMCN 4.0 dựa trên nền tảng số hóa, đặc biệt là việc sử dụng phổ biến internet của cuộc CMCN 3.0 nhưng mang một bản chất khác Nội dung của CMCN 4.0

là sự phát triển hệ thống liên kết thế giới thực và ảo trên cơ sở internet kết nối vạn vật Tiểu biểu cho CMCN 4.0 là sự phát triển nhanh chóng của trí tuệ nhân tạo Việc tạo ra trí tuệ thông minh nhân tạo đã tạo ra bước ngoặt trong phát triển kinh tế - xã hội

Đối với nền sản xuất, CMCN 4.0 thay đổi mô hình sản xuất từ tập trung sang phân cấp Trước kia, sản xuất công nghiệp chủ yếu dừng lại ở việc con người tác động vào máy móc thiết bị để làm ra sản phẩm Tiến hơn một bước nhờ việc ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong nền sản xuất hiện đại, con người có thể cho sản phẩm tiếp xúc với máy móc thiết bị nhằm giúp máy móc thiết bị biết là cần phải làm gì để hoàn thành sản phẩm

Các lĩnh vực công nghệ mũi nhọn trong cuộc cách mạng này có thể chia thành ba nhóm về vật lý, kỹ thuật số và sinh học Công nghệ vật lý đạt thành tựu cơ bản trong việc sáng tạo xe tự lái, công nghệ in 3D, rôbôt cao cấp và các vật liệu mới Đối với công nghệ kỹ thuật số, thành tựu đỉnh cao là sự ra đời internet kết nối vạn vật (IoT) Về sinh học, lĩnh vực này trong những năm gần đây đạt được nhiều tiến bộ trong công nghệ sinh

Trang 30

học như công nghệ gen, tế bào, vi sinh, enzim Công nghệ sinh học nói chung, di truyền nói riêng đã có tiến bộ vượt bậc thời gian gần đây

Cùng với xu hướng hội nhập và hiện đại hóa nền kinh tế, nhân lực Việt Nam tham gia nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ và đổi mới sáng tạo có xu hướng tăng Tuy nhiên, trước yêu cầu mới và thực tiễn nguồn nhân lực Việt Nam hiện nay còn rất nhiều hạn chế Quan niệm, nhận thức về vai trò, tầm quan trọng của nhân lực đối với phát triển kinh tế - xã hội ở các cấp lãnh đạo, các nhà hoạch định chính sách, doanh nghiệp/người sử dụng lao động nhìn chung còn hời hợt, chưa thấu đáo Tình trạng có quan điểm nhưng thiếu định hướng; có chủ trương nhưng thiếu hành động và có chính sách nhưng thiếu nguồn lực còn phổ biến Một số địa phương coi giáo dục đào tạo là quốc sách, song việc tổ chức thực hiện như thế nào cho xứng tầm lại không được quan tâm đúng mức

Theo báo cáo năng lực cạnh tranh năm 2018, sinh viên tốt nghiệp có năng lực chuyên môn chưa phù hợp với yêu cầu của thực tiễn sản xuất, kinh doanh, dịch vụ; còn yếu về ngoại ngữ và các kỹ năng mềm như tác phong công nghiệp, khả năng làm việc theo tổ, nhóm, kỹ năng khởi nghiệp Chất lượng giáo dục đại học còn thấp và không đáp ứng nhu cầu kỹ năng của thị trường lao động Theo báo cáo năng lực cạnh tranh toàn cầu 2018, Việt Nam xếp thứ 84/137 quốc gia về kỹ năng của sinh viên tốt nghiệp đại học và xếp thứ 79/134 về năng lực đổi mới sáng tạo; kết quả đầu ra của nghiên cứu còn đứng sau khá xa so với Thái Lan và Malaysia (Klaus, 2019)

Tình trạng người lao động làm việc không phù hợp với ngành nghề được đào tạo, cũng như với trình độ chuyên môn và tay nghề được đào tạo Số liệu thống kê cho thấy 81,1% lao động có trình độ cao đẳng, 60,4% số lao động có trình độ trung cấp, 23,8%

số lao động có trình độ đại học trở lên làm các công việc có yêu cầu trình độ chuyên môn kỹ thuật, kỹ năng thấp hơn so với trình độ chuyên môn kỹ thuật được đào tạo (theo bằng cấp/chứng chỉ) Mặt khác, có khoảng 35,1% lao động làm các công việc đòi hỏi trình độ chuyên môn kỹ thuật, kỹ năng cao hơn so với bằng cấp của họ Việt Nam đang chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo hướng phát triển nền kinh tế tri thức, tăng cường đổi mới sáng tạo đòi hỏi nhiều hơn và cao hơn các kỹ năng kỹ thuật và kỹ năng xúc cảm

xã hội

Trong cuộc cách mạng Công nghiệp lần thứ 4 với sự phát triển liên quan đến tự động hóa, số hóa, nhu cầu về kỹ năng thay đổi nhanh chóng, một số nghề sẽ biến mất, một số khác xuất hiện và những ngành khác lại thay đổi Nguồn nhân lực cũng phải được chuẩn bị sớm hơn, nhanh hơn, cập nhật hơn và theo cách tiếp cận thực tế hơn

Trang 31

Trong bối cảnh mới, để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, góp phần tăng năng suất lao động quốc gia, Việt Nam cần giải quyết các vấn đề đặt ra

Tăng cường nhận thức về vai trò, tầm quan trọng của nhân lực đối với phát triển kinh tế xã hội ở tất cả các cấp lãnh đạo, các nhà hoạch định chính sách, doanh nghiệp/người sử dụng lao động và người dân

Phải nhất quán giữa chủ trương và hành động về phát triển con người, giữa ban hành chính sách và đảm bảo nguồn lực thực hiện Coi đầu tư cho con người là đầu tư cho phát triển và phải đi trước một bước Kế hoạch về nguồn nhân lực phải là cấu phần quan trọng trong mọi chương trình dự án đầu tư phát triển kinh tế - xã hội

Cần có chiến lược căn cơ về xây dựng vốn con người Việt Nam bao gồm kiến thức, kỹ năng và sức khỏe, được tích lũy trong suốt cuộc đời, để người dân nhận ra tiềm năng của mình như là thành viên hữu ích của xã hội

Xây dựng môi trường làm việc, trọng dụng nhân tài đồng bộ, tạo cơ hội cho người tài phát huy năng lực và thu hút nhân lực trình độ cao là người Việt đang làm việc ở nước ngoài, Việt kiều và chuyên gia nước ngoài vào làm việc tại Việt Nam

Bên cạnh đó, đẩy mạnh hơn nữa hoạt động nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ trong các trường đại học, nhất là các trường đại học định hướng nghiên cứu Nhà trường chủ động tiếp cận thị trường và tạo ra nhu cầu cho doanh nghiệp

Các trường đại học, cơ sở đào tạo được quyền sở hữu kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ sử dụng ngân sách Nhà nước, xây dựng cơ chế phân chia lợi ích hợp lý với tác giả và các bên liên quan phù hợp với Luật Sở hữu trí tuệ và Khoa học Công nghệ

4 Thực trạng ngành công nghiệp Văn hóa Việt Nam

Thực tiễn phát triển Công nghiệp văn hóa ở nước ta cho thấy, tuy còn nhỏ bé nhưng ngành này đã bắt đầu tham gia tích cực vào quá trình phát triển kinh tế – xã hội của đất nước CNVH hiện nay không chỉ là vấn đề văn hóa, công nghệ, kinh tế mà thực chất là biểu hiện sinh động của quá trình nhất thể hóa văn hóa và kinh tế, tạo thành lực lượng sản xuất văn hóa, thúc đẩy sự phát triển bền vững của quốc gia CNVH chính là công cụ hữu hiệu đối với tăng trưởng, đổi mới kinh tế, biến văn hóa trở thành một thành

tố quan trọng của thương mại và cạnh tranh quốc tế Chính vì vậy, phát triển CNVH phải được coi là một thành tố quan trọng của quá trình phát triển kinh tế – xã hội của đất nước và các ngành CNVH có khả năng cung cấp nhiều cơ hội để tạo công ăn việc làm cho người lao động

Trang 32

Theo đó, phát triển CNVH đúng đắn sẽ góp phần tích cực vào quá trình tái cấu trúc nền kinh tế và đổi mới mô hình tăng trưởng ở Việt Nam CNVH sẽ giúp khai thác tốt hơn mọi nguồn tài nguyên văn hóa phục vụ cho phát triển kinh tế Với đặc trưng riêng có trong sáng tạo và công nghệ, CNVH là hướng phát triển cần quan tâm, bởi nó

có khả năng tạo ra sự đột phá trong phát triển kinh tế tri thức, kinh tế văn hóa, đưa phát triển kinh tế theo chiều sâu

Với dân số hơn 90 triệu dân, trong đó lực lượng lao động ước tính trên 50 triệu người, mỗi năm có thêm khoảng 1,5 triệu lao động mới, đây là nền tảng cho nguồn nhân lực có tính sáng tạo cao trong rất nhiều ngành nghề lĩnh vực đặc biệt ngày càng có nhiều thanh niên tham gia vào các ngành nghề thủ công mỹ nghệ, nghệ thuật dân gian, ẩm thực văn hóa… Đây chính là nền tảng giúp Việt Nam có cơ sở phát triển bền vững trong thị trường công nghiệp văn hóa đang ngày càng phát triển của thế giới và đòi hỏi sự cạnh tranh ngày càng khốc liệt hơn

Bên cạnh đó, trong quá trình mở cửa và hội nhập, Đảng, Nhà nước cũng dành nhiều chính sách ưu tiên đầu tư cho các loại hình nghệ thuật truyền thống phát triển, tạo hành lang pháp lý, đề xuất nhiều cơ chế, chính sách, nguồn lực để thúc đẩy các lĩnh vực sáng tác, biểu diễn, truyền thông có cơ hội tiếp cận với các thị trường lớn trong khu vực

và quốc tế Là một quốc gia có nhiều lợi thế, tiềm năng để phát triển du lịch văn hóa, du lịch tâm linh tín ngưỡng, trải qua hàng ngàn năm đấu tranh dựng nước, giữ nước, người Việt Nam đã tạo dựng, xây đắp nên một nền văn hóa rực rỡ với những nét độc đáo riêng Theo số liệu thống kê của Bộ Văn hóa – Thể thao và Du lịch năm 2009, cả nước ta có 7.966 lễ hội được tổ chức mỗi năm, trong đó có 7.039 lễ hội dân gian (chiếm 88,36%),

332 lễ hội lịch sử (chiếm 4,16%), 544 lễ hội tôn giáo (chiếm 6,28%), 10 lễ hội du nhập

từ nước ngoài (chiếm 0,12%), còn lại là lễ hội khác (chiếm 0,5%)

Thực tế thời gian qua cho thấy, chúng ta còn chưa nhận thức đầy đủ về vị trí và tầm quan trọng của các ngành CNVH đối với sự phát triển kinh tế – xã hội khiến việc phát triển các ngành CNVH gặp nhiều khó khăn Theo Phạm Hương Trà, 2019, cho rằng

có 03 khó khăn thử thách chính của ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam gồm:

 Trước hết, số lượng các dự án liên quan đến CNVH còn ít, chưa đủ sức thâm

nhập và tác động sâu rộng tới nhận thức của những người tham gia vào hoạt động quản lý, sản xuất và dịch vụ văn hóa cũng như với toàn xã hội Nhiều ngành CNVH vẫn ở giai đoạn thử nghiệm nên chưa có những sáng tạo đột phá, chưa có bề dày kinh nghiệm trong chiến lược sản xuất – kinh doanh, phân phối sản phẩm, đánh giá đúng thị trường công chúng tiêu thụ

Trang 33

 Thứ hai, các ngành sản xuất – kinh doanh sản phẩm văn hóa hiện nay mới chủ

yếu là các cơ sở sản xuất – kinh doanh với quy mô nhỏ, chưa xuất hiện các tập đoàn lớn, các tổ hợp đa chức năng Hệ thống sản phẩm nghèo nàn, mẫu mã không thay đổi, dịch

vụ chất lượng thấp, chưa xứng với tiềm năng sẵn có, không thu hút được sự quan tâm của người tiêu dùng

 Thứ ba, trên thị trường, tình trạng vi phạm bản quyền với phạm vi rộng ở hầu

hết các lĩnh vực thuộc ngành CNVH, như âm nhạc, điện ảnh, trò chơi trực tuyến, thời trang, thiết kế… đang diễn ra phổ biến Có hai lý do dẫn đến tình trạng này: (1) Cơ chế đầu tư tài chính trong lĩnh vực văn hóa chỉ chú trọng tới đầu tư của Chính phủ mà xem nhẹ vấn đề thu hút vốn Việt Nam cần “tăng lượng” thu hút vốn đầu tư từ nhiều thành phần sở hữu khác nhau; có biện pháp kích hoạt nguồn vốn tồn đọng của Nhà nước, giải quyết vấn đề mối quan hệ hữu cơ giữa nguồn vốn và nhân lực để phát triển; (2) Hệ thống luật bảo hộ bản quyền thiếu các bảo đảm cần thiết để kích thích khả năng sáng tạo và hội nhập quốc tế Sự yếu kém trong hệ thống luật bảo hộ này khiến các sản phẩm văn hóa Việt Nam không được bảo đảm các quyền cơ bản để cạnh tranh lành mạnh trên thị trường, cản trở việc phát huy khả năng sáng tạo văn hóa và không kiểm soát được các thiệt hại khi bị tước đoạt bản quyền, thương hiệu, các bí mật thương mại khi hội nhập quốc tế

Kế đến, cần tập trung đầu tư vào công tác đào tạo và phát triển nguồn nhân lực cho ngành công nghiệp văn hóa Cần cập nhật các chương trình đào tạo, cơ sở vật chất,

xu hướng thế giới nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của Việt Nam so với các nước trên thế giới Bên cạnh đó, cần khuyến khích hợp tác với các trường đại học, các trung tâm nghiên cứu tham gia vào công tác giảng dạy, nghiên cứu và phát triển nhằm đưa các sản phẩm văn hóa phù hợp với xu thế của thị trường và đảm bảo những quy tắc ứng xử của xã hội

Trang 34

Bên cạnh đó, với sự phát triển của Cách mạng công nghiệp 4.0, ngành công nghiệp văn hóa cũng cần đưa các ứng dụng công nghệ đặc biệt là 03 nền tảng gồm Dữ liệu lớn (Big Data), Trí tuệ nhân tạo (AI) và Vạn vật kết nối (Iot) nhằm hỗ trợ trong công tác lập kế hoạch, phân tích dữ liệu, hỗ trợ ra quyết định… trong việc đưa ra các sản phẩm và dịch vụ trong ngành công nghiệp văn hóa; điều này giúp các doanh nghiệp kinh doanh lĩnh vực văn hóa không phạm phải những lỗi cơ bản trong quá trình sản xuất các sản phẩm và dịch vụ Ví dụ: với sự trợ giúp của AI, các tác phẩm ca nhạc có thể được kiểm tra “đạo nhạc” trước khi được đưa vào thị trường nhằm tránh những kiện tụng gây tổn thất chi phí

Ngoài ra, từng bước hình thành nên những nhóm cộng đồng, nhóm tiêu dùng những sản phẩm và dịch vụ văn hóa thông qua các hoạt động marketing, phát triển và định vị thương hiệu… Hơn nữa, việc tạo ra các nhóm cộng đồng sẽ giúp các doanh nghiệp và người hoạt động trong ngành công nghiệp văn hóa sẽ phát triển bền vững và tạo động lực để phát triển hơn trong việc sản xuất ra các sản phẩm dịch vụ phù hợp với nhu cầu thị trường

Cuối cùng, cần tích cực giới thiệu văn hóa cũng như các sản phẩm về văn hóa của Việt Nam sang các nước trên thế giới thông qua các festival du lịch, ngày hội du lịch, ngày hội quảng bá văn hóa… được tổ chức tại các quốc gia trên thế giới./

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Ban kinh tế Trung ương (2017) Việt Nam với cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư NXB Đại học Kinh tế quốc dân

2 Bộ Khoa học và Công nghệ (2017) Báo cáo “Khoa học và Công nghệ 2015” NXB Khoa học Kỹ thuật, H

3 Cục Thông tin Khoa học và Công nghệ Quốc gia (2017) Tổng luận “Cuộc cách mạng công nghiệp lần tư”

4 Đảng Cộng sản Việt Nam (2016) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII Văn phòng Trung ương Đảng

5 Klaus Schwab (2019) The Global Competitiveness Report 2018, World

Economic Forum, Colony/Geneva Switzerland

6 Phát triển các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam – Thực trạng và giải pháp http://tapchicongsan.org.vn, ngày 08/3/2018

7 Nhiều hoạt động lễ hội dân gian bị “biến dạng”

http://thoibaotaichinhvietnam.vn, ngày 14/02/2017

Trang 35

8 Ruth Towse (2011), A handbook of cultural Economics, Edward Elgar Publishing Limited, England

9 Trần Thị Vân Hoa (2017) Cách mạng công nghiệp 4.0 - vấn đề đặt ra cho phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập quốc tế của Việt Nam NXB Chính trị quốc gia sự

Trang 36

PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC LĨNH VỰC VĂN HÓA TRONG

BỐI CẢNH HỘI NHẬP QUỐC TẾ

ThS Trần Thị Hoan – Cựu sinh viên

Tóm tắt: Việt Nam với 4000 năm văn hiến sở hữu những giá trị văn hóa vật chất

và tinh thần do cha ông để lại Tuy nhiên, việc quản lý, bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa sẵn có và các giá trị văn hóa tiềm năng có hiệu quả hay không lại thuộc vào ý thức, năng lực và hệ thống pháp luật nói chung và việc phát triển nguồn nhân lực trong lĩnh vực văn hóa nói riêng Việc đào tạo, giáo dục khắc phục những khó khăn tồn đọng, giải quyết các mâu thuẫn về nguồn lực lĩnh vực văn hóa nhằm phát triển cả về số lượng và chất lượng đáp ứng nhu cầu cấp thiết trong bối cảnh hội nhập quốc tế hiện nay là điều kiện tiên quyết đặt nền móng cho ngành công nghiệp văn hóa phát triển trong tương lai

Từ khóa: Nguồn nhân lực, Văn hóa, Hội nhập quốc tế

Đặt vấn đề

Lịch sử phát triển văn minh của nhân loại đã chứng minh rằng: yếu tố con người tức nguồn nhân lực là yếu tố quan trọng nhất, quyết định sự tồn vong hay phát triển văn minh, thịnh vượng của một quốc gia, dân tộc

Nguồn nhân lực vừa là chủ thể vừa là khách thể trong mọi hoạt động và trong mọi lĩnh vực của một quốc gia, dân tộc Bên cạnh các nguồn lực khác như: tài nguyên thiên nhiên, khoa học kỹ thuật, tài chính… có vai trò là nền tảng là bệ phóng cho quá trình phát triển quốc gia dân tộc, trong khi đó nguồn nhân lực đóng vai trò quyết định, tiên quyết nhất

1 Phát triển nguồn nhân lực

1.1 Khái niệm nguồn nhân lực

Theo Liên hợp quốc: “Nguồn nhân lực là trình độ lành nghề, là kiến thức và năng lực của toàn bộ cuộc sống con người hiện có thực tế, hoặc tiềm năng để phát triển kinh tế -

xã hội trong một cộng đồng”

Ngân hàng thế giới cho rằng: Nguồn nhân lực là toàn bộ vốn con người bao gồm thể lực, trí lực, kỹ năng nghề nghiệp… của mỗi cá nhân Như vậy, theo quan niệm này, nguồn lực con người được coi như một nguồn vốn bên cạnh các loại vốn vật chất khác: vốn tiền

tệ, công nghệ, tài nguyên thiên nhiên

Trang 37

Theo giáo trình “Nguồn nhân lực” của nhà xuất bản Lao động xã hội: “Nguồn nhân lực bao gồm toàn bộ dân cư có khả năng lao động, không phân biệt người đó đang được phân bố vào ngành nghề, lĩnh vực, khu vực nào và có thể coi đây là nguồn nhân lực xã hội

Từ những khái niệm trên có thể hiểu nguồn nhân lực văn hóa theo nghĩa rộng bao gồm cả nhân lực tri thức, được đào tạo chuyên ngành, nghiệp vụ, phẩm chất qua các trường

và các trung tâm trong nước và kể cả nước ngoài, cùng song song bên cạnh nguồn nhân lực không qua trường lớp đào tạo nào… đó là những nghệ nhân, những lao động phổ thông trực tiếp sản xuất các sản phẩm văn hóa truyền thống cung cấp cho dịch vụ văn hóa, cho ngành công nghiệp văn hóa

1.2 Khái niệm phát triển nguồn nhân lực

Quan điểm sử dụng năng lực con người của ILO cho rằng: “Phát triển nguồn nhân lực bao hàm không chỉ sự chiếm lĩnh trình độ lành nghề, mà bên cạnh phát triển năng lực,

là làm cho con người có nhu cầu sử dụng năng lực đó để tiến đến có được việc làm hiệu

quả cũng như thỏa mãn nghề nghiệp và cuộc sống cá nhân”

Quan điểm của các nhà nghiên cứu của UNDP cho rằng: "Phát triển nguồn nhân lực chịu sự tác động của năm nhân tố: giáo dục - đào tạo, sức khỏe và dinh dưỡng, môi trường, việc làm và sự giải phóng con người Trong quá trình tác động đến sự phát triển nguồn nhân lực, những nhân tố này luôn gắn bó, hỗ trợ và phụ thuộc lẫn nhau, trong đó, giáo dục - đào tạo là nhân tố nền tảng, là cơ sở của tất cả các nhân tố khác Nhân tố sức khỏe và dinh dưỡng, môi trường, việc làm và giải phóng con người là những nhân tố thiết yếu, nhằm duy trì và đáp ứng sự phát triển bền vững nguồn nhân lực Nền sản xuất càng phát triển, thì phần đóng góp của trí tuệ thông qua giáo dục - đào tạo ngày càng chiếm tỉ trọng lớn so với đóng

góp của các yếu tố khác trong cơ cấu giá trị sản phẩm của lao động" (Bùi Thị Thanh, 2005)

Từ những khái niệm trên có thể khẳng định rằng phát triển nguồn nhân lực bao gồm những đặc tính sau:

- Về tính chất, phát triển nguồn nhân lực là một quá trình mang tính liên tục và chiến lược nhằm nâng cao năng lực của doanh nghiệp về lực con người

- Về mục tiêu, phát triển nguồn nhân lực là hoàn thiện và nâng cao năng lực lao động

và năng lực sáng tạo của nguồn lực con người trong doanh nghiệp cho phù hợp với công việc trong hiện tại và thích ứng với sự đổi mới trong tương lai

- Về nội dung, phát triển nguồn nhân lực bao gồm: hợp lý hóa quy mô, cơ cấu ngồn nhân lực và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực

Trang 38

- Về biện pháp, phát triển nguồn nhân lực được hiểu là quá trình thực hiện tổng thể chính sách và biện pháp thu hút, duy trì và đào tạo mang tính chất đầu tư chiến lược cho nguồn lực con người cho mỗi quốc gia

Vậy có thể hiểu phát triển nguồn nhân lực văn hóa trong bối cảnh hội nhập quốc tế

là chiến lược của ngành văn hóa nói riêng và quốc gia nói chung thông qua các hình thức giáo dục và đào tạo, bồi dưỡng, các chính sách phù hợp tạo điều kiện cho nguồn nhân lực văn hóa phát triển toàn diện cả về trí lực, tâm lực đáp ứng nhu cầu thực chất lĩnh vực văn hóa trong bối cảnh hội nhập quốc tế

2 Thực trạng phát triển nguồn nhân lực lĩnh vực văn hóa trong bối cảnh quốc

tế

2.1 Về cơ cấu và chất lượng

Nguồn nhân lực lĩnh vực văn hóa ở nước ta đang hoạt động trong ngành văn hóa vật thể và văn hóa phi vật thể được cơ cấu đồng bộ từ trung ương đến địa phương, từ Bộ cho đến cơ sở gọi là quản lý văn hóa theo chiều dọc Theo đó, mỗi một tỉnh có một Sở văn hóa, mỗi huyện có phòng văn hóa và mỗi xã có một nhà văn hóa Ở các thành phố lớn, mỗi quận đều có trung tâm văn hóa, hoặc cung văn hóa đa năng Ngoài ra, trên cả nước có hàng trăm hội, câu lạc bộ văn hóa nghệ thuật thu hút đông đảo quần chúng tham gia… Như vậy, cho đến nay cả nước có khoảng hàng trăm nghìn cán bộ làm việc các bộ, sở, ban ngành, câu lạc

bộ, các trung tâm, bảo tàng, giảng dạy trong ngành văn hóa nghệ thuật… Trong đó, theo báo cáo của Bộ văn hóa TT&DL tính đến tháng 03/2020 Bộ này có khoảng 880 người thuộc

biên chế, trong đó có khoảng 371 cán bộ nữ chiếm khoảng 42%

Như vậy, nhìn tổng thể từ trên xuống dưới cơ cấu tổ chức nguồn lực lĩnh vực văn hóa theo chiều dọc có ưu điểm quản lý công tác văn hóa chặt chẽ, đi sâu đi sát quản lý tư tưởng của người dân, phát hiện và báo cáo kịp thời các sai phạm của công dân khi vi phạm Tuy nhiên, chính vì cơ cấu bộ máy được thiết lập từ trung ương đến địa phương dẫn đến nguồn lực lĩnh vực văn hóa đang có tình trạng vừa dư thừa nhưng lại vừa thiếu Đó là dư

số lượng cán bộ văn hóa nghệ thuật nhưng lại thiếu cán bộ có chuyên môn cao – để đáp ứng nhu cầu phát triển ngành bộ văn hóa - nghệ thuật (VHNT) trong bối cảnh toàn cầu hóa

và hội nhập quốc tế

Để phát triển hơn nữa đội ngũ cán bộ VHNT, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Đề

án “Xây dựng đội ngũ trí thức ngành VHTT&DL đến năm 2020, tầm nhìn 2030”; Đề án

Trang 39

“Đào tạo tài năng VHNT giai đoạn 2016 - 2025, tầm nhìn đến năm 2030”; Đề án “Đào tạo,

bồi dưỡng nhân lực VHNT ở nước ngoài đến năm 2030”…

Thông qua việc thực hiện các đề án, dự án, công tác đào tạo nhân lực VHNT đã có nhiều chuyển biến tích cực Quy mô tuyển sinh hằng năm đạt khoảng hơn 7.000 học sinh, sinh viên Phần lớn học sinh, sinh viên tốt nghiệp ra trường tìm được việc làm đúng ngành, nghề được đào tạo Nhiều học sinh, sinh viên đạt giải quốc gia, khu vực và quốc tế trong các cuộc thi, liên hoan nghệ thuật chuyên nghiệp Công tác đào tạo, bồi dưỡng được tăng cường Mỗi năm có khoảng gần 1.000 công chức, viên chức được đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị cao cấp và trung cấp; kiến thức quản lý Nhà nước, tin học và ngoại ngữ trong

và ngoài nước Thông qua các hội thảo, tập huấn, trại sáng tác, nhân lực VHNT được bồi dưỡng kỹ năng và nghiệp vụ, kiến thức chuyên ngành Các cơ sở đào tạo VHNT đã liên kết

với các nhà hát, đoàn nghệ thuật, cơ quan, tổ chức để đào tạo theo địa chỉ

Chất lượng nguồn nhân lực lĩnh vực văn hóa phụ thuộc vào hệ thống và chất lượng các cơ sở đào tạo văn hóa nghệ thuật, dựa vào các chính sách của Đảng và Nhà nước, sự nỗ lực và ý thức của toàn dân trong quá trình phát triển và gìn giữ văn hóa dân tộc, quảng bá sản phẩm văn hóa ra thế giới Nguồn nhân lực lĩnh vực văn hóa ngày càng nâng cao về trình

độ chuyên môn, hiện có khoảng gần 20 nhà khoa học có học vị Tiến sĩ, PGS, GS, gần 2 ngàn cán bộ và giảng viên có học vị thạc sĩ, hàng trăm ngàn nhân lực lĩnh vực văn hóa có trình độ cử nhân, cao đẳng, trung cấp hoạt động trong lĩnh vực VHNT Điểm nổi bật, nguồn nhân lực văn hóa vừa có trình độ chuyên môn, vừa có trình độ ngoại ngữ và tin học Đội ngũ nhân lực trẻ hóa, năng động, ham học hỏi thích ứng nhu cầu đặt ra đối với chiến lược

phát triển nguồn nhân lực lĩnh vực văn hóa trong bối cảnh hội nhập quốc tế

2.2 Thực trạng phát triển nguồn nhân lực lĩnh vực văn hóa trong bối cảnh hội nhập quốc tế

2.2.1 Góc nhìn tích cực

Nguồn nhân lực lĩnh vực văn hóa trong những năm gần đây nhờ sự đầu tư đúng mức của chính phủ Việt Nam, về tài chính cũng như các chính sách kịp thời đúng đắn đối lĩnh vực Văn hóa như: ban hành luật di sản văn hóa, luật công nhân viên chức, đặc biệt mới đây thủ tướng chính phủ đã phê duyệt Đề án “Xây dựng đội ngũ trí thức ngành VHTT&DL đến năm 2020, tầm nhìn 2030”; Đề án “Đào tạo tài năng VHNT giai đoạn 2016-2025, tầm nhìn đến năm 2030”; Đề án “Đào tạo, bồi dưỡng nhân lực VHNT ở nước ngoài đến năm 2030 Đây là một đề án mang tầm chiến lược quốc gia nhằm phát triển nguồn nhân lực lĩnh vực

Trang 40

văn hóa trong bối cảnh quốc tế, để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực văn hóa, hướng tới phát triển ngành công nghiệp văn hóa cho Việt Nam để phát huy tài năng, tâm huyết nguồn nhân lực trẻ năng động và các nguồn lực về văn hóa của quốc gia hướng tới mang bản sắc văn hóa dân tộc ra thế giới và có doanh thu trong tương lai khoảng 7% trong GDP của cả

nước

Điều đáng ghi nhận trong những năm gần đây công tác đào tạo nguồn nhân lực cho ngành VHNT tăng cả về số lượng và chất lượng, cơ sở và quy mô đào tạo; các cấp bậc đào tạo và hình thức tổ chức đào tạo được đa dạng hóa Tính đến nay có khoảng gần 200 cơ sở tham gia đào tạo văn hóa nghệ thuật trong đó có 33 trường đại học, 47 trường cao đẳng, 28 trường trung cấp, 01 viện VH & NT Hình thức đào tạo chính quy hay không chính quy, ngắn hạn hay dài hạn, các loại hình đào tạo công lập hay ngoài công lập, các trung tâm của chính phủ hay hợp tác nước ngoài

- Đội ngũ giảng viên, giáo viên, chuyên gia trong nước và nước ngoài, đội ngũ nghệ nhân… ngày càng tăng về số lượng và chất lượng, hoàn chỉnh về chuyên môn, nghiệp vụ

và cả thái độ về nghề nghiệp, về sứ mệnh của nhiệm vụ đào tạo nguồn nhân lực cho lĩnh vực VHNT

- Chương trình đào tạo, nội dung và phương pháp đào tạo… từng bước được đổi mới, đáp ứng nhu cầu thực tiễn phát triển nguồn nhân lực văn hóa cả về số lượng và chất lượng Hệ thống đào tạo, trung tâm VHNT ngày càng chú trọng hơn về chất lượng hơn số lượng, đặc biệt đối với nguồn nhân lực nghệ thuật mang tính đặc thù như: điện ảnh, thanh nhạc, mỹ thuật… tiến tới phát triển ngành công nghiệp văn hóa trong tương lai

- Thái độ, quan niệm về các ngành nghề mang tính chất nghệ thuật biểu diễn lĩnh vực văn hóa trong dân chúng và lãnh đạo chính quyền có sự thay đổi theo hướng tích cực hơn, cởi mở hơn… cũng là cơ sở để khích lệ tài năng nghệ thuật dấn thân và phát triển

- So với những thập kỷ trước cơ sở vật chất, phương tiện về chính sách của nhà nước được đầu tư, hỗ trợ nhiều hơn, chính sách phát triển văn hóa cởi mở hơn trong việc hợp tác với các nước trước kia được xem là “thù nghịch” tạo ra một không gian văn hóa mở, phong phú, tinh tế và văn minh hơn trong nhận thức của dân chúng, tạo cơ sở vững chắc trong mục tiêu phát triển ngành công nghiệp văn hóa

2.2.2 Những mặt hạn chế, yếu kém

Trong bối cảnh toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế thay đổi chính sách, hoạch định tương

Ngày đăng: 03/08/2022, 09:23

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w