1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giải pháp chủ yếu nhằm phát triển nguồn nhân lực cho ngành công nghiệp thành phố thái nguyên tỉnh thái nguyên giai đoạn từ năm 2012 2020

121 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 121
Dung lượng 1,37 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Điều đó, cũng có nghĩa là nguồn nhân lực cần tập trung phản ánh những vấn đề sau đây: Một là, xem xét nguồn nhân lực dưới góc độ nguồn lực con người - yếu tố quyết định sự phát triển củ

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH

NGUYỄN THẾ NAM

GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM PHÁT TRIỂN

NGUỒN NHÂN LỰC CHO NGÀNH CÔNG NGHIỆP THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN

GIAI ĐOẠN TỪ NĂM 2012 - 2020

Chuyên ngành: Quản lý Kinh tế

Mã số: 60.34.04.10

LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ

Người hướng dẫn khoa học: TS TRẦN ĐỨC LỢI

THÁI NGUYÊN - 2012

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu độc lập của tác giả Các

số liệu và kết quả đưa ra trong luận văn là hoàn toàn trung thực và chưa từng được công bố tại bất kỳ công trình nghiên cứu nào Các số liệu và thông tin trích dẫn trong quá trình nghiên cứu đều được ghi rõ nguồn gốc

Tác giả luận văn

NGUYỄN THẾ NAM

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Luận văn được hoàn thành là kết quả của quá trình học tập, nghiên cứu

lý luận và tích lũy kinh nghiệm thực tế của tác giả Những kiến thức quý báu

mà các thầy cô giáo đã truyền đạt trong quá trình học tập đã làm sáng tỏ ý tưởng, tư duy của tác giả trong suốt thời gian hoàn thành luận văn này

Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, Ban chủ nhiệm Phòng quản

lý Đào tạo sau đại học trường Đại học Kinh tế và Quản trị kinh doanh Thái Nguyên đã giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn và kính trọng sâu sắc đến TS Trần Đức Lợi, Người thầy đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này

Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn đến những người thân trong gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã giúp đỡ và cung cấp cho tôi những kinh nghiệm quý báu để tôi có thể hoàn thành luận văn trong thời gian quy định

Thái Nguyên, tháng 12 năm 2012

Tác giả luận văn

NGUYỄN THẾ NAM

Trang 4

MỤC LỤC

Trang phụ bìa

Lời cam đoan ii

Lời cảm ơn iii

Mục lục iv

Danh mục các chữ viết tắt vii

Danh mục các bảng vii

Danh mục các hình viii

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục đích, nội dung nghiên cứu 1

3 Phạm vi nghiên cứu 2

4 Ý nghĩa khoa học của luận văn 2

5 Kết cấu của luận văn 2

Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NGUỒN NHÂN LỰC 3

1.1 Những vấn đề chung về nguồn nhân lực, nhân lực trong ngành công nghiệp 3

1.1.1 Khái niệm và những vấn đề cơ bản về nguồn nhân lực trong công nghiệp 3

1.2 Những kinh nghiệm về phát triển nguồn nhân lực của một số quốc gia và ở Việt Nam 31

1.2.1 Nhật Bản 31

1.2.2 Hàn Quốc 32

1.2.3 Trung Quốc 32

1.2.4 Thái Lan 33

1.2.5 Singapore 34

1.2.6 Philippin 34

1.2.7 Kinh nghiệm của Sơn La 35

Trang 5

1.3 Bài học rút ra từ một số quốc gia về phát triển nguồn nhân lực 35

Chương 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 38

2.1 Câu hỏi nghiên cứu 38

2.2 Phương pháp nghiên cứu 38

2.2.1 Phương pháp thu thập tài liệu 38

2.2.2 Phương pháp tổng hợp xử lý, số liệu 40

2.2.3 Phương pháp phân tích số liệu 40

2.3 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu 42

2.3.1 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu về hiện trạng của địa phương 42

2.3.2 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu về quy mô, chất lượng nguồn nhân lực 42

Chương 3 THỰC TRẠNG NGUỒN NHÂN LỰC NGÀNH CÔNG NGHIỆP ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN 43

3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 43

3.1.1 Đặc điểm về điều kiện tự nhiên, kinh tế- xã hội Thành phố Thái Nguyên 43

3.1.2 Ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội đến sự phát triển nguồn nhân lực cho ngành công nghiệp Thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên 56

3.2 Thực trạng nguồn nhân lực ngành công nghiệp Thành phố Thái Nguyên 58

3.2.1 Quy mô, dân số Thành phố Thái nguyên 58

3.2.2 Kết quả phát triển ngành công nghiệp từ năm 2006 - 2011 64

3.2.3 Đánh giá chung về nguồn nhân lực trong ngành công nghiệp Thành phố Thái Nguyên 83

Chương 4 GIẢI PHÁP CHỦ YẾU PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC NGÀNH CÔNG NGHIỆP THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN GIAI ĐOẠN TỪ NĂM 2012-2020 90

4.1 Những định hướng chiến lược về phát triển nguồn nhân lực 90

Trang 6

4.2 Phương hướng cơ bản xây dựng và phát triển nguồn nhân lực

ngành công nghiệp 92

4.3 Những giải pháp chủ yếu nhằm xây dựng và phát triển nguồn nhân lực cho các ngành công nghiệp 93

4.3.1 Những giải pháp về xây dựng chiến lược phát triển nguồn nhân lực và phát triển giáo dục - đào tạo nhằm nâng cao trí lực của nguồn nhân lực 93

4.3.2 Những giải pháp nhằm nâng cao thể lực của nguồn nhân lực 97

4.3.3 Giải pháp xây dựng tiềm lực tri thức và sử dụng lao động tri thức trong các ngành công nghiệp của Thành phố 99

4.3.4 Tiếp tục đổi mới cơ chế chính sách sử dụng nguồn nhân lực 100

KẾT LUẬN 102

TÀI LIỆU THAM KHẢO 104

PHỤ LỤC 106

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 3.1 Chỉ tiêu kinh tế cơ bản của Thành phố Thái Nguyên 49

Bảng 3.2 Tình hình sử dụng đất đai của Thành phố Thái Nguyên năm 2011 51 Bảng 3.3 Dân số trung bình nam, nữ của Thành phố Thái Nguyên 58

Bảng 3.4 Dân số và lao động trung bình Thành phố Thái Nguyên năm 2011 58

Bảng 3.5 Lao động làm việc theo thành phần kinh tế 59

Bảng 3.6 Thống kê lao động, việc làm trên địa bàn Thành phố năm 2011 60

Bảng 3.7 Nguồn nhân lực của Thành phố Thái Nguyên thông qua hệ thống giáo dục và đào tạo 62

Bảng 3.8 Nguồn nhân lực công nghiệp được đào tạo trong hệ thống các cơ sở dạy nghề do địa phương quản lý 63

Bảng 3.9 Giá trị sản xuất ngành công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp của Thành phố Thái nguyên 66

Bảng 3.10 Nhân lực trong cụm công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp của Thành phố Thái Nguyên 67

Bảng 3.11 Hiện trạng nhân lực cña doanh nghiệp công nghiệp theo đơn vị hành chính 71

Bảng 3.12 Tình hình nhân lực theo ngành nghề trong ngành công nghiệp trên Thành phố năm 2011 72

Bảng 3.13 Hiện trạng sản phầm và nhân lực làng nghề trên địa bàn 77

Bảng 3.14 Chất lượng nhân lực trong các làng nghề năm 2011 79

Bảng 3.15 Nhân lực trong doanh nghiệp ngành công nghiệp hỗ trợ 81

Bảng 4.1 Dự báo lao động ngành công nghiệp Thành phố Thái Nguyên 92

Trang 9

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 1.1 Quy trình tuyển dụng nhân lực 20 Hình 1.2 Quy trình đào tạo và phát triển nhân lực 23

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Ngày nay sự phát triển của mỗi quốc gia, mỗi địa phương không chỉ dựa vào nguồn vốn, khoa học kỹ thuật công nghệ, tài nguyên mà còn dựa vào nguồn nhân lực Nguồn nhân lực con người là một trong những yếu tố không thể thiếu được trong mọi quá trình phát triển sản xuất xã hội, nhất là trong quá trình hiện nay nước ta đang thực hiện công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại

hoá đất nước Thái Nguyên với tư cách là trung tâm về chính trị, kinh tế, văn

hoá của cả vùng núi phía Đông Bắc nên việc phát triển của tỉnh Thái Nguyên

về mọi mặt có ý nghĩa vô cùng quan trong trong việc thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của toàn vùng núi phía Bắc Trong quá trình tiến hành công

nghiệp hoá, hiện đại hoá, Thành phố Thái Nguyên có nhiều ưu thế so với các

tỉnh, thành phố khác trong cả nước về cơ sở hạ tầng, vật chất kỹ thuật, hệ thống giao thông vận tải thuận lợi, bưu chính viễn thông phát triển, nhà máy,

xí nghiệp, doanh nghiệp, công ty thuộc tất cả các lĩnh vực, các ngành nghề phát triển đa dạng phong phú

Để thực hiện mục tiêu năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp, thì vấn đề nguồn nhân lực cho phát triển ngành công nghiệp cả nước

nói chung và cho ngành công nghiệp trên địa bàn Thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên nói riêng là rất cần thiết và có ý nghĩa rất lớn

Nguồn nhân lực cho ngành công nghiệp trên địa bàn Thành phố Thái Nguyên hiện nay như thế nào: về quy mô, chất lượng, nguồn cung cấp, sự phân bố, vấn đề đào tạo bồi dưỡng và phát triển Đó là một loạt vấn đề đang đặt ra cho sự phát triển nguồn nhân lực công nghiệp Thành phố Thái Nguyên

hiện nay Vì vậy, tác giả đã chọn đề tài: “Giải pháp chủ yếu nhằm phát triển nguồn nhân lực cho ngành công nghiệp Thành phố Thái Nguyên - tỉnh Thái Nguyên giai đoạn từ năm 2012 - 2020” làm đề tài nghiên cứu

2 Mục đích, nội dung nghiên cứu

Trang 11

a) Mục đích: Trên cơ sở đánh giá đúng thực trạng nguồn nhân lực cho

ngành công nghiệp trên địa bàn Thành phố Thái Nguyên để đề xuất những giải pháp phát triển nguồn nhân lực cho ngành công nghiệp Thành phố Thái Nguyên

trong những năm tới

b) Nội dung:

- Luận văn khái quát một số vấn đề lý luận về nguồn nhân lực

- Đánh giá thực trạng về nguồn nhân lực ngành công nghiệp Thành phố Thái Nguyên từ năm 2008 - 2011

- Đưa ra phương hướng và giải pháp phát triển nguồn nhân lực ngành

công nghiệp Thành phố Thái Nguyên từ 2012 đến năm 2020

3 Phạm vi nghiên cứu

+ Không gian: Nghiên cứu nguồn nhân lực đối với ngành công nghiệp

bao gồm: doanh nghiệp, cơ sở sản xuất làng nghề công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp; công nghiệp hỗ trợ trên địa bàn Thành phố Thái Nguyên

+ Thời gian: Từ năm 2008 - 2011

4 Ý nghĩa khoa học của luận văn

- Góp phần làm rõ, bổ sung lý luận về nguồn nhân lực ngành công nghiệp trên địa bàn Thành phố Thái Nguyên;

- Làm rõ thực trạng và đề xuất giải pháp phát triển nguồn nhân lực ngành công nghiệp trên địa bàn Thành phố Thái Nguyên;

- Tài liệu khoa học để tham khảo về nguồn nhân lực ngành công nghiệp Thành phố Thái Nguyên;

5 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục, tài liệu tham khảo, luận văn gồm

có 4 chương

Chương 1: Một số vấn đề lý luận về nguồn nhân lực

Chương 2: Phương pháp nghiên cứu

Chương 3: Thực trạng nguồn nhân lực ngành công nghiệp Thành phố Thái Nguyên

Trang 12

Chương 4: Giải pháp chủ yếu nhằm phát triển nguồn nhân lực ngành công nghiệp Thành phố Thái Nguyên giai đoạn từ năm 2012-2020

Chương 1

MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NGUỒN NHÂN LỰC

1.1 Những vấn đề chung về nguồn nhân lực, nhân lực trong ngành công nghiệp

1.1.1 Khái niệm và những vấn đề cơ bản về nguồn nhân lực trong công nghiệp

1.1.1.1 Khái niệm về nguồn nhân lực

Với cách nhìn nhận của Liên Hợp Quốc thì nguồn nhân lực bao gồm những người đang làm việc và những người trong độ tuổi lao động có khả năng lao động

Theo Giáo sư - Viện sĩ Phạm Minh Hạc cùng các nhà khoa học tham gia chương trình KX - 07: “Nguồn nhân lực cần được hiểu là số dân và chất lượng con người, bao gồm cả thể chất và tinh thần, sức khỏe và trí tuệ, năng lực, phẩm chất và đạo đức của người lao động Nó là tổng thể nguồn nhân lực hiện có thực tế và tiềm năng được chuẩn bị sẵn sàng để tham gia phát triển kinh tế - xã hội của một quốc gia hay một địa phương nào đó”.(15)

Như vậy, nguồn nhân lực là một trong những yếu tố quan trọng quyết định đến sự thành công trong việc phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia Nguồn nhân lực mang tính rộng lớn, tầm vĩ mô

Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam: “Nguồn lực con người là quý báu nhất, có vai trò quyết định, đặc biệt đối với nước ta khi nguồn lực tài chính

và nguồn lực vật chất còn hạn hẹp”, đó là “người lao động có trí tuệ cao, tay nghề thành thạo, có phẩm chất tốt đẹp, được đào tạo, bồi dưỡng và phát huy bởi nền giáo dục tiên tiến gắn liền với một nền khoa học hiện đại” (10)

Ngoài ra, một số tác giả khác khi nghiên cứu các đề tài về nguồn nhân lực và phát triển nguồn nhân lực Việt Nam cũng đã đưa ra những quan điểm

Trang 13

khác nhau về nguồn nhân lực; theo tôi, khái niệm nguồn nhân lực nên được hiểu một cách ngắn gọn là nguồn lực con người

Theo quan điểm phát triển con người là nhằm mục tiêu mở rộng cơ hội lựa chọn cho mọi người và tạo điều kiện cho họ thực hiện sự lựa chọn, đó là sống lâu, khẻo mạnh, được học hành, làm việc và có cuộc sống ấm no Đặc trưng cơ bản của quan điểm phát triển con người đó là: Con người là trung tâm của sự phát triển; Mọi người vừa là phương tiện vừa là mục tiêu của sự phát triển; Nâng cao vị thế của người dân; Tạo lập cho mọi người dân sự bình đẳng về mọi mặt; Tạo lập cơ hội lựa chọn tốt nhất cho con người về việc làm, kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội

Điều đó, cũng có nghĩa là nguồn nhân lực cần tập trung phản ánh những vấn đề sau đây:

Một là, xem xét nguồn nhân lực dưới góc độ nguồn lực con người - yếu

tố quyết định sự phát triển của xã hội; Hai là, nguồn nhân lực bao gồm số

lượng và chất lượng, trong đó mặt chất lượng thể hiện ở trí lực, nhân cách,

phẩm chất đạo đức, lối sống và sự kết hợp giữa các yếu tố đó; Ba là, nghiên

cứu về nguồn nhân lực và phát triển nguồn nhân lực nhất thiết phải gắn liền với thời gian và không gian mà nó tồn tại

Quan điểm của Đảng ta - Đảng Cộng sản Việt Nam đã phản ánh một cách

tổng quát khái niệm nguồn nhân lực trên cả ba phương diện: trí lực, thể lực, nhân cách, cùng với nền giáo dục tiên tiến gắn liền khoa học công nghệ hiện đại

Từ sự phân tích trên, nguồn nhân lực có thể hiểu:

Trên góc độ bao hàm thì nguồn nhân lực cụ thể bao gồm những người đủ

15 tuổi trở lên thực tế đang làm việc (gồm những người trong độ tuổi lao động và những người trên độ tuổi lao động), những người trong độ tuổi lao động có khả năng lao động nhưng chưa có việc làm (do thất nghiệp hoặc đang làm nội trợ trong gia đình), cộng với nguồn lao động dự trữ (những người

Trang 14

đang được đào tạo trong các trường đại học, cao đẳng, trung cấp và dạy nghề…) Điều đó có nghĩa là, số lượng và chất lượng nguồn nhân lực được nghiên cứu trên các khía cạnh quy mô, tốc độ tăng nguồn nhân lực, sự phân

bố theo vùng, khu vực và lãnh thổ; trong đó, trí lực thể hiện ở trình độ dân trí,

trình độ chuyên môn, là yếu tố trí tuệ, tinh thần, tiềm lực sáng tạo ra các giá trị vật chất, văn hóa, tinh thần của con người, vì thế nó đóng vai trò quyết định trong sự phát triển nguồn nhân lực

Sau trí lực là thể lực hay thể chất, bao gồm không chỉ sức khỏe cơ bắp

mà còn là sự dẻo dai của hoạt động thần kinh, bắp thịt, là sức mạnh của niềm tin và ý trí, là khả năng vận động của trí lực Thể lực là điều kiện tiên quyết để duy trì và phát triển trí tuệ, là phương tiện tất yếu để chuyển tải tri thức vào hoạt động thực tiễn, để biến tri thức vào sức mạnh vật chất Do đó, sức mạnh trí tuệ chỉ có thể phát huy được lợi thế khi thể lực con người được phát triển Ngoài ra, nói đến nguồn nhân lực cần xét đến các yếu tố nhân cách, thẩm

mỹ, quan điểm sống Đó là, sự thể hiện nét văn hóa của người lao động, được kết tinh từ hàng loạt các giá trị: Đạo đức, tác phong, tính tự chủ và năng động,

kỷ luật và tinh thần trách nhiệm trong công việc khả năng hợp tác, làm việc theo nhóm, khả năng hội nhập với môi trường đa văn hóa, đa sắc tộc và các tri thức khác về giá trị của cuộc sống Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “Có đức mà không có tài, làm việc gì cũng khó; nhưng có tài mà không có đức là người vô dụng” Bởi vậy, sẽ không đầy đủ khi nói đến nguồn nhân lực mà không đề cập đến sự phối hợp hài hòa giữa ba yếu tố trí lực, thể lực và nhân cách thẩm

mỹ, vì nó là điều kiện tạo nên sức mạnh trong mỗi con người, trong cộng đồng và cũng là để hướng cho người lao động phát triển toàn diện

Chúng ta cũng cần phân biệt một số khái niệm sau đây:

Trang 15

Nguồn lao động là tổng số nhân khẩu có khả năng lao động bao gồm

nhân khẩu ở độ tuổi lao động và nhân khẩu ngoài độ tuổi lao động Nguồn lao động mang tính chất vi mô, trong một phạm vi hẹp

Nguồn nhân lực (nguồn lực con người) ngày nay đã trở thành một khái

niệm công cụ để điều hành thực thi chiến lược và kế hoạch phát triển kinh tế -

xã hội Nguồn nhân lực là tổng thể các tiềm năng lao động của một nước hay một địa phương, tức là nguồn lao động được chuẩn bị (ở các mức độ khác nhau) sẵn sàng tham gia một công việc lao động nào đó, tức là những người lao động có kỹ năng (hay khả năng nói chung), con đường đáp ứng được yêu cầu của chuyển đổi cơ cấu lao động, chuyển đổi cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa

Lực lượng lao động bao gồm những người lao động, tức là nguồn nhân

lực được sử dụng vào công việc nào động nào đó Theo ILP, “Lực lượng lao

động là một bộ phận dân số trong độ tuổi quy định, thực tế đang có việc làm

và những người thất nghiệp”; Theo R.Nonan, “Lực lượng lao động gồm những người đủ 15 tuổi trở lên có việc làm và những người đang tìm việc làm” Như vậy, những người đang thất nghiệp hoặc không có việc làm và không tìm việc làm như học sinh, sinh viên, người bệnh, những người mất

khả năng lao động…thì không phải là lực lượng lao động

Từ khái niệm khác nhau trên nhiều lĩnh vực, khía cạnh khác nhau nhưng

có thể tóm lại như sau: Nhân lực được hiểu là toàn bộ khả năng về thể lực, trí

Trang 16

lực của con người được vận dụng vào trong quá trình lao động sản xuất Nhân lực được xem là sức lao động của con người, là một nguồn lực hết sức quý trong các yếu tố sản xuất Nhân lực bao gồm tất cả những người lao động trong các ngành kinh tế quốc dân: Công nghiệp, nông nghiệp và dịch vụ và trong các lĩnh vực khác nhau của một quốc gia Cả ba ngành kinh tế quốc dân,

vị trí, vai trò, chức năng, nội dung, quy trình tuyển dụng và phát triển nguồn nhân lực về cơ bản là giống nhau, tuy nhiên mỗi ngành kinh tế có đặc thù Trong phạm vi giới hạn của đề tài, chúng tôi chỉ đề cập và đi sâu vào nguồn nhân lực trong ngành công nghiệp

Trong mục tiêu chiến lược phát triển kinh tế của đất nước ta phấn đấu đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp phát triển Để đạt được mục tiêu trên thì việc đầu tư cho phát triển công nghiệp trên phạm vi

cả nước nói chung và thành phố Thái Nguyên nói riêng là hết sức cần thiết Muốn phát triển công nghiệp chúng ta không chỉ đầu tư về vốn, khoa học công nghệ, mà còn phải đầu tư về nguồn lực con người - đây là yếu tố quan trọng nhất đối với sự phát triển của nền kinh tế xã hội nói chung và đối với sự phát triển của các ngành công nghiệp nói riêng

Trên cơ sở kế thừa lý luận của các nhà khoa học về nguồn nhân lực cho quá trình phát triển kinh tế - xã hội nói chung và cho ngành công nghiệp nói riêng

theo quan điểm của tác giả luận văn thì nguồn nhân lực cho ngành công nghiệp là tổng thể năng lực của con người (thể lực và trí lực) được huy động vào quá trình sản xuất công nghiệp nhằm phục vụ cho sự phát triển của các ngành công nghiệp Nó là nguồn nội lực quan trọng nhất của một quốc gia

đặc biệt là đối với những nước đang phát triển như Việt Nam, là động lực to lớn thúc đẩy quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước nói chung và đối với Thành phố Thái Nguyên nói riêng Có thể nói, sự phát triển công nghiệp và tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá Thành phố Thái Nguyên có

Trang 17

vị trí hết sức quan trọng với tư cách là trung tâm phát triển của một vùng, nó

có tác dụng lan toả tới sự phát triển của các địa phương trong và ngoài tỉnh

1.1.1.2 Chức năng nguồn nhân lực

Nguồn nhân lực là nhân tố chủ yếu bảo đảm mọi nguồn sáng tạo trong tổ chức Chỉ có con người mới sáng tạo ra các hàng hóa, dịch vụ phục vụ chính

họ và kiểm tra quá trình đó Cấu thành giá trị hàng hóa theo C.Mác cho rằng giá trị của hàng hóa bao gồm bao gồm hai yếu tố đó là giá trị chuyển dịch và giá trị mới tăng thêm, giá trị tăng thêm chính là giá trị thặng dư và do sức lao động của người công nhân đã tạo ra trong quá trình sản xuất Trong các đầu vào của quá trình tổ chức sản xuất như trang thiết bị, nhà xưởng, tài sản, tài chính là nguồn tài nguyên không thể thiếu, con người lại là nhân tố đặc biệt quan trọng trong quá trình đó; thiếu nguồn lực này quá trình sản xuất không xảy ra, đồng thời hiệu quả của quá trình đó rất thấp khi mà nguồn lực này không đáp ứng được về chất lượng, số lượng đối với yêu cầu của quá trình tổ chức xuất, cuối cùng là mục tiêu không đạt được

Nguồn nhân lực là một nguồn lực luôn mang tính chiến lược, khi mà kinh tế xã hội đang chuyển mình sang nền kinh tế tri thức, thì các yếu tố đầu vào giảm dần vai trò trong khi vai trò nguồn nhân lực càng ngày được tôn trọng và nâng cao vị thế

Nguồn nhân lực là một nguồn lực vô tận, loài người ngày càng tiến lên vượt bậc cả về số lượng và trí tuệ Vấn đề khai thác như thế nào nguồn lực này là việc làm đòi hỏi những người lãnh đạo xã hội cần hội tụ đủ các phẩm chất cao quý của loài người

Trong điều kiện của cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa, khoa học đã trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, các phát minh khoa học được áp dụng ngày càng nhiều vào sản xuất, nhưng không vì thế mà vai trò của nguồn lực con người giảm nhẹ Chủ nghĩa Mác đã từng khẳng định: Thiên nhiên không tạo

Trang 18

bộ óc con người, được con người tạo ra và là sức mạnh tri thức của con người được vật hoá Điều này chứng tỏ cùng với quá trình phát triển của sản xuất, của tiến bộ khoa học được áp dụng vào sản xuất, con người cùng với tiềm năng trí tuệ có vai trò ngày càng quan trọng

Thực tiễn lịch sử cho thấy quốc gia nào phát triển công nghiệp và tiến hành công nghiệp hoá mà biết phát huy trí tuệ và sức mạnh tiềm năng của nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực trong lĩnh vực công nghiệp thì sẽ đạt được sự phát triển nhanh và ổn định, chẳng hạn như Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapo và cỏc quốc gia Đông Á Ngược lại những quốc gia chỉ dựa vào điều kiện tự nhiên hoặc vốn từ bên ngoài như một số ở nước Trung Đông, Châu Phi hoặc Mỹ La tinh thì tốc độ tăng trưởng và phát triển không bền vững Ví dụ: Nigiêria chỉ dựa vào nguồn dầu lửa - nguồn tài nguyên thiên nhiên nhưng khai thác và sử dụng lãng phí nên khi nguồn tài nguyên thiên nhiên có hạn này cạn kiệt thì trở nên nghèo khó, hoặc Braxin chỉ dựa vào nguồn vốn nước ngoài nên năm 1982 nước này rơi vào khủng hoảng về nợ nước ngoài, lạm phát tăng lớn hơn 500%/năm, thu nhập bình quân đầu người không tăng trong suốt 10 năm liền

Cuộc cách mạng khoa học công nghệ hiện đại đã làm cho nền kinh tế thế giới bước vào giai đoạn mới của sự phát triển Đặc điểm nổi bật của nền sản xuất hiện đại là hàm lượng khoa học cao - máy móc công nghiệp đã được thiết kế theo dây chuyền công nghệ tự động, những máy móc cơ khí công nghệ cao được kết nối với máy tính, điều khiển tự động làm cho năng suất lao động tăng, sản phẩm đạt mức chuẩn xác cao Sự phát triển đó không thể thiếu được vai trò của yếu tố con người, sự phát triển của nguồn nhân lực con người

và trí tuệ, tri thức về hàm lượng chất xám công nghiệp Đây chính là nguồn tài nguyên vô giá của một quốc gia Nó đóng vai trò to lớn trong tiến trình phát triển công nghiệp và quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước

Trang 19

Nước ta tiến hành xây dựng chủ nghĩa xã hội từ một nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu Để tạo dựng cơ sở vật chất kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội và đưa đất nước phát triển đi lên, nước ta đã từng bước tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại hoá, từng bước chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng ưu tiên phát triển công nghiệp và dịch vụ, phấn đấu đến năm 2020 đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp Song thực tế hiện nay các nguồn lực với tư cách tiền đề để cho công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở nước ta còn rất hạn chế

Về khoa học công nghệ: trình độ công nghệ nước ta còn ở mức trung bình thấp nhất là trong ngành công nghiệp, so với các nước phát triển thì hệ thống máy móc thiết bị của chúng ta lạc hậu từ 2 đến 4 thế hệ, các loại vật liệu mới chỉ chiếm 5% tổng số vật liệu đang sử dụng, ngành máy cái của công nghiệp chỉ tương đương với thời kỳ cách đây 30 - 50 năm của các nước tư bản phát triển trên thế giới và so với các nước công nghiệp phát triển thì công nghệ của ta lạc hậu khoảng từ 50 - 100 năm

1.1.1.3 Phát triển nguồn nhân lực

Trên quan điểm “con người là vốn - vốn nhân lực”, theo tác giả Yoshihara

Kunio cho rằng: Phát triển nguồn nhân lực là các hoạt động đầu tư nhằm tạo ra nguồn nhân lực với số lượng và chất lượng đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế -

xã hội của đất nước, đồng thời bảo đảm cho sự phát triển của mỗi các nhân

Theo Tổ chức Quốc tế về lao động trên quan điểm sử dụng năng lực con người cho là Phát triển nguồn nhân lực bao hàm không chỉ sự chiếm lĩnh trình

độ lành nghề mà bên cạnh phát triển năng lực là làm cho con người có nhu cầu sử dụng năng lực đó để tiến đến có được việc làm có hiệu quả cũng như thỏa mãn nghề nghiệp và cuộc sống cá nhân

Theo Tổ chức Giáo dục, khoa học và văn hóa Liên hợp quốc cho rằng phát triển nguồn nhân lực là làm cho toàn bộ sự lành nghề của dân cư luôn phù hợp trong mối quan hệ với sự phát triển của quốc gia, giới hạn trong phạm vi phát triển kỹ năng lao động và sự thích ứng yêu cầu về việc làm

Trang 20

“Phát triển nguồn nhân lực được hiểu là sự gia tăng giá trị cho con người trên các mặt trí tuệ, kỹ năng lao động, thể lực, đạo đức, tâm hồn… để họ có thể tham gia vào lực lượng lao động làm giàu cho đất nước, góp phần cải tạo

xã hội, cũng như phát huy truyền thống của dân tộc và góp phần tô điểm thêm bức tranh muồn màu của nhân loại Do vậy, phát triển nguồn nhân lực phải được tiến hành trên cả 3 mặt: Phát triển nhân cách, phát triển sinh thể, đồng thời tạo ra môi trường xã hội thuận lợi cho nguồn lực phát triển” (GS-TSKH Nguyễn Minh Đường)

Kế thừa và phát huy những quan điểm trên, theo tôi dưới góc độ nghiên cứu tổng thể, phát triển nguồn nhân lực là phát triển nguồn lực con người dưới dạng tiềm năng thành “vốn con người - vốn nhân lực” Xét ở bình diện

cá nhân, đó là nâng cao tri thức, sức khỏe, kỹ năng thực hành để tăng năng suất lao động dẫn đến tăng thu nhập và cải thiện chất lượng cuộc sống Xét ở

bình diện xã hội, là quá trình tạo dựng một lực lượng lao động cả về số lượng, chất lượng và sử dụng có hiệu quả nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia, vùng lãnh thổ trong từng thời kỳ Cho nên, dù

với khái niệm rộng hay hẹp thì giáo dục và đào tạo vẫn được coi là biện pháp

chủ yếu và quan trọng để phát triển nguồn nhân lực

Chúng ta cần thấy rõ, phát triển nguồn nhân lực được nhìn nhận con người dưới góc độ là một yếu tố của sản xuất, một nguồn lực của xã hội, mục đích là gia tăng sự đóng góp có hiệu quả của nó cho quá trình tái sản xuất để phát triển kinh tế - xã hội; còn phát triển con người được nhìn nhận dưới góc

độ con người là một chủ thể của tự nhiên và xã hội Vì thế, phát triển con người là trung tâm của sự phát triển, mục đích là hướng tới sự phát triển toàn diện con người Đó là, xác lập các quyền và tạo điều kiện thuận lợi để con người thực hiện các quyền của mình Có nghĩa là, phát triển con người không chỉ xem xét dưới góc độ là nguồn lực đóng góp cho sự phát triển xã hội, mà

Trang 21

còn là sự thỏa mãn các nhu cầu để con người sớm có điều kiện phát triển toàn diện Phát triển con người mang tính rộng lớn hơn phát triển nguồn nhân lực không chỉ ở phương diện giáo dục, tuổi thọ mà còn ở mức sống của họ Đây chính là cơ sở giúp chúng ta lý giải vì sao nhiều quốc gia có Chỉ số phát triển con người (HDI) tương đối cao Từ đây, cho ta thấy rõ sự khác nhau giữa nguồn lực, nguồn nhân lực và một số khái niệm khác nhau về nguồn nhân lực Hiện tượng mang tính phổ biến những quốc gia có chỉ số phát triển con người càng cao tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển nguồn nhân lực càng tố hơn

1.1.1.4 Vai trò của phát triển nguồn nhân lực trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá

Nguồn nhân lực giữ vai trò vô cùng quan trọng trong các hoạt động của

tổ chức Việc tuyển chọn, sắp xếp, đào tạo nhân viên phải dựa vào các tiêu chuẩn nhất định nhằm đạt được mục tiêu mà doanh nghiệp đề ra Quản lý nguồn nhân lực xác định rõ vai trò của từng cá nhân, từng thành viên trong tổ chức, lên kế hoạch phát triển nguồn nhân lực cho phù hợp với quy mô của tổ chức Nguồn nhân lực là nguồn tài sản - tài sản nhân lực; do vậy, phát triển nguồn nhân lực sẽ không được coi là toàn diện nếu không quan tâm đến vai trò của nguồn tài sản này

Hiệu quả sử dụng nguồn nhân lực, theo chúng tôi được đánh giá bằng mức độ toàn dụng nguồn nhân lực cả về số lượng và chất lượng và thời gian được sử dụng; việc nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn nhân lực đồng nhất với:

- Nâng cao hệ số sử dụng số lượng nhân lực;

- Nâng cao hiệu suất sử dụng nhân lực, hay giá trị tăng thêm được tạo ra

từ việc sử dụng nhân lực;

- Và nâng cao hệ số sử dụng thời gian lao động

Việc nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn nhân lực là một quá trình chịu ảnh hưởng trực tiếp từ tình hình cung cầu trên thị trường lao động, chất lượng

Trang 22

nguồn nhân lực, chính sách lao động, việc làm và tiền lương của Nhà nước đối với nguồn lao động Theo đó, hiệu quả sử dụng nguồn nhân lực sẽ đồng biến với tốc độ giải quyết việc làm, nghịch biến với tỷ lệ thất nghiệp và phụ thuộc vào chính sách thu hút, bố trí, sử dụng và chế độ đãi ngộ Nếu những chính sách này hợp lý sẽ kích thích được tinh thần làm việc, phát huy được khả năng sáng tạo của người lao động, là động lực quan trọng để nâng cao hiệu quả và chất lượng công việc, sẽ thu hút được nhân tài cho tổ chức mình

Do vậy, phát triển nguồn nhân lực có một vai trò hết sức quan trọng đến

sự thành công hay thất bại của mỗi một doanh nghiệp, mỗi địa phương và mỗi một quốc gia, nếu tạo điều kiện cho nguồn nhân lực thể hiện tốt vai trò tiên phong của mình thì hiệu quả kinh tế - xã hội sẽ không ngừng được nâng lên

cả về chất và lượng, còn nếu một nguồn nhân lực kém chất lượng thì sẽ làm cho nền kinh tế phát triển chậm hoặc thậm chí kém phát triển và tụt hậu Được xác định là một điều kiện không thể thiếu trong bất kỳ một hoạt động nào trong phát triển kinh tế - xã hội, nguồn nhân lực luôn đóng vai trò cực kỳ quan trọng đối với sự tồn vong của mỗi quốc gia

1.1.1.5 Nội dung cơ bản của phát triển nguồn nhân lực trong công nghiệp

Cho tới nay xuất phát điểm cách tiếp cận về nguồn nhân lực khác nhau, nên khái niệm phát triển nguồn nhân lực khác nhau Từ quan niệm nguồn nhân lực là tiềm năng của con người thì sự phát triển nguồn nhân lực là một quá trình làm biến đổi, khơi dậy tiềm năng của con người cả vật chất và tinh thần càng nâng cao, hoàn thiện hơn, làm gia tăng giá trị con người, nâng cao phẩm giá trên nhiều phương diện trí tuệ, kỹ năng, đạo đức, thể lực

Xuất phát từ quan niệm về nguồn lực và phát triển nguồn nhân lực nêu trên, theo chúng tôi, nội dung cơ bản của phát triển nguồn nhân lực trong công nghiệp bao gồm:

- Phát triển nguồn nhân lực trong công nghiệp bảo đảm phù hợp về mặt

số lượng và cơ cấu

Trang 23

- Phát triển nguồn nhân lực trong công nghiệp về mặt chất lượng thể hiện

ở góc độ thể lực, trình độ chuyên môn nghiệp vụ, đạo đức tác phong của người lao động

- Phát triển nguồn nhân lực trong công nghiệp về trình độ lành nghề

- Phát triển nguồn nhân lực trong công nghiệp về khả năng làm việc nhóm

Nội dung trên được phát triển trong một thể thống nhất, làm tiền đề cho nhau với mối quan hệ hữu cơ, nguồn nhân lực phát triển đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, ngược lại phát triển kinh tế - xã hội đòi hỏi nguồn lực phải phát triển

a Phát triển nguồn nhân lực trong công nghiệp bảo đảm phù hợp về mặt

số lượng và cơ cấu

Nguồn nhân lực của một quốc gia, vùng lãnh thổ, về mặt số lượng thể hiện ở quy mô dân số, cơ cấu về giới và độ tuổi Theo đó, nguồn nhân lực được gọi là đông về số lượng khi quy mô dân số lớn, tỷ lệ người trong độ tuổi lao động cao

Dưới góc độ phát triển, chúng ta không thể không xét đến tỷ lệ gia tăng dân số hàng năm Nghĩa là, về mặt số lượng, nguồn nhân lực chịu ảnh hưởng trực tiếp đến quy mô dân số tại thời điểm gốc và chính sách phát triển dân số của các quốc gia và vùng lãnh thổ Vấn đề này, hiện nay trên thế giới đang diễn ra hai xu hướng trái ngược nhau

Đối với các quốc gia phát triển, đặc biệt là các quốc gia ở Bắc Âu, do nhiều yếu tố: khí hậu, di truyền, nhu cầu được tự do phát triền của mỗi cá nhân, điều kiện kinh tế và đặc biệt trợ giúp của khoa học - kỹ thuật trong ngành y… nên tỷ lệ sinh thấp (từ 0,5 % - 0,7%), trong khi đó, tuổi thọ lại cao nên dẫn đến tình trạng già hóa nguồn nhân lực Hệ quả thiếu nguồn nhân lực đến mức báo động

Đối với các quốc gia đang phát triển, đặc biệt là các nước chậm phát triển, thì lại ngược lại hoàn toàn Tỉ lệ sinh ở các nước này thường khá cao (trên

Trang 24

1,5%/năm), điều kiện kinh tế, chăm sóc sức khỏe và dịch vụ y tế chậm được cải thiện, dẫn đến dư thừa lao động, hệ quả là gia tăng thất nghiệp và gây áp lực cho việc giải quyết việc làm Do đó, sự cân đối về mặt số lượng giữa lao động, việc làm và tỷ lệ thất nghiệp là vấn đề rất lớn cần phải được giải quyết thỏa đáng đối với mọi quốc gia Trong phạm vi này nguồn nhân lực được thể hiện

cơ cấu: về độ tuổi, giới tính, trình độ và sự phân bổ nhân lực giữa các hoạt động với nhau Bảo đảm nguồn nhân lực đủ về số lượng và cơ cấu cân đối, phù hợp phụ thuộc vào quy hoạch, kế hoạch đào tạo, thu hút tuyển chọn

b Phát triển nguồn nhân lực trong công nghiệp về mặt chất lượng

Hiện nay, có hai quan điểm phổ biến xem xét chất lượng nguồn nhân lực: Theo quan điểm thứ nhất, chất lượng nguồn nhân lực được thể hiện ở các mặt trí lực, thể lực và nhân cách, thẩm mỹ và yếu tố kết cấu các mặt đó Nghĩa là, yếu tố kết cấu được tách riêng khi xem xét nguồn nhân lực

Theo quan điểm thứ hai, chất lượng nguồn nhân lực thể hiện trên ba mặt: trí lực, thể lực và nhân cách, thẩm mỹ; nghĩa là, yếu tố đã được bao hàm trong chính nội tại ba yếu tố đó

Chúng tôi tiếp cận theo quan điểm thứ hai khi xem xét chất lượng nguồn nhân lực của một quốc gia, vùng lãnh thổ Vì chất lượng nguồn nhân lực được xem xét ở đây là của một tập hợp người, bao gồm các những người trong và trên độ tuổi lao động có khả năng lao động, thực tế đang làm việc, chưa có việc làm hoặc đang được đào tạo Mặt khác, khi xem xét chất lượng nguồn nhân lực, nếu tính riêng yếu tố kết cấu thì sẽ không thể phác họa được một bức tranh đầy đủ về chất lượng nguồn nhân lực

* Phát triển nguồn nhân lực trong công nghiệp về mặt thể lực:

- Nguồn nhân lực phải có đủ sức khỏe để đảm nhận công việc theo tiêu chuẩn quy định cho từng ngành nghề, lĩnh vực, đáp ứng được quá trình làm việc liên tục, kéo dài

Trang 25

- Nguồn nhân lực có khả năng phát huy cao độ năng lực làm việc và sự sáng tạo trong công việc được đảm nhận

Từ đây đặt ra vấn đề rất cần thiết trong quá trình tuyển dụng nguồn nhân lực phải tuân thủ đúng quy trình, việc chăm sóc và bồi dưỡng sức khỏe nguồn nhân lực

* Phát triển nguồn nhân lực trong công nghiệp về mặt chuyên môn nghiệp vụ:

Là vấn đề quan trọng nhất nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực thông qua các kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng kiến thức để phù hợp với sự phát triển chung của một quốc gia, hòa nhập quốc tế

* Phát triển nguồn nhân lực trong công nghiệp về đạo đức, tác phong làm việc:

Yêu cầu nguồn nhân lực đưa vào sử dụng phải đạt những điểm cơ bản: Tác phong làm việc công nghiệp, tinh thần tự giác cao, có ý thức chấp hành tổ chức, kỷ luật, có sự say mê nghề nghiệp và sự năng động sáng tạo cũng như tính thích nghi cao với môi trường làm việc

c Phát triển nguồn nhân lực trong công nghiệp về trình độ lành nghề

Nếu nguồn nhân lực đạt một trình độ chuyên môn kỹ thuật cao nhưng kỹ năng và sự thiếu lành nghề sẽ dẫn tới hiệu quả sử dụng nguồn nhân lực không thể đạt như mong muốn

d Phát triển nguồn nhân lực trong công nghiệp về khả năng làm việc nhóm

Đây là xu thế chung, hết sức cần thiết đối với nhiều hoạt động khác nhau trong thời đại ngày nay, trong đó các khuyết thiếu của cá nhân sẽ được bổ sung để tạo sự hoàn thiện trong công việc mà nhóm đảm nhận Thực chất là phát triển kỹ năng, khơi dậy tiềm năng từng cá nhân và tạo ra sự tương tác giữa các cá nhân trong nhóm làm việc để tạo ra hiệu quả công việc cao hơn

Trang 26

1.1.1.6 Quản trị nguồn nhân lực và quản trị nhân lực trong ngành công nghiệp

Vấn đề phát triển nguồn nhân lực đã hết sức cần thiết, song việc quản trị nguồn nhân lực càng sức quan trọng hơn, nó liên quan chặt chẽ với quá trình

phát triển nguồn nhân lực Quản trị nguồn nhân lực và quản trị nhân lực của

các ngành kinh tế có nhiều điểm cơ bản tương tự nhau Ở phạm vi có giới hạn của đề tài, chúng tôi chỉ đề cập một số vấn đề cơ bản của nội dung này

- Khái niệm: Quản trị nguồn nhân lực được quan niệm theo nghĩa rộng

và nghĩa hẹp Ở nhiều quốc gia phương Tây và giờ đây trên nhiều quốc gia trên thế giới cũng như ở Việt Nam những năm gần đây đã và đang sử dụng

cụm từ “nguồn nhân lực”tương đối thịnh hành được dựa trên vai trò, vị trí của

con người trong quá trình phát triển Về số lượng nguồn nhân lực được biểu hiện thông qua chỉ tiêu: quy mô, tốc độ tăng, sự phân bố nguồn lực theo vùng, theo lãnh thổ, theo khu vực…

- Quản trị nguồn nhân lực: Theo nghĩa rộng là sự quản trị không chỉ là công việc chính của một bộ phận mà là hoạt động chung của tất cả các bộ phận trong ngành và một số liên ngành Theo nghĩa hẹp sự quản trị nhân lực

là cơ quan quản lý làm những công việc phát hiện, tuyển dụng, bình xét, giao việc, giải quyết tiền lương, bồi dưỡng, đánh giá chất lượng cán bộ công nhân viên chức nhằm cho họ chấp hành và thực hiện tốt công việc được giao và đạt được mục tiêu, kế hoạch của đơn vị

- Quản trị nhân lực:

+ Trên góc độ tổ chức lao động:

TS Hà Văn Hội, năm 2007 trong Giáo trình quản trị nhân lực cho rằng:

“Quản trị nhân lực là lĩnh vực theo dõi, hướng dẫn, điều chỉnh, kiểm tra sự trao đổi chất (năng lượng, thần kinh, bắp thịt ) giữa con người với các yếu tố vật chất của tự nhiên (công cụ lao động, đối tượng lao động, năng lượng…) trong

Trang 27

quá trình tạo ra của cải vật chất và tinh thần để thỏa mãn các nhu cầu của con người và xã hội nhằm duy trì, bảo vệ, phát triển tiềm năng của con người” + Trên góc độ chức năng cho rằng: Quản trị nhân lực bao gồm các việc

từ hoạch định, tổ chức, chỉ huy, phối hợp và kiểm soát các hoạt động liên quan đến việc thu hút, sử dụng và phát triển người lao động trong các tổ chức

+ Nhìn từ góc độ nội dung hoạt động chính thì: “Quản trị nhân lực là

việc tuyển dụng, sử dụng, duy trì và phát triển cũng như cung cấp các tiện nghi cho người lao động”

Theo tôi, có thể tóm tắt như sau: Quản trị nguồn nhân lực là những hoạt động nhằm tăng cường những đóng góp có hiệu quả của cá nhân vào mục tiêu của tổ chức trong khi đồng thời cố gắng đạt được các mục tiêu xã hội và mục

tiêu cá nhân

Như vậy, quản trị nguồn nhân lực được xem là một nghệ thuật, một tập hợp có ý thức nhằm nâng cao hiệu suất hoạt động của một tổ chức bằng cách nâng cao hiệu quả lao động của mỗi thành viên trong tổ chức đó

1.1.1.7 Vai trò của quản trị nhân lực

Sự phát triển kinh tế - xã hội phụ thuộc vào nhiều yếu tố, nhiều điều kiện, nhưng chủ yếu nhất vẫn là phụ thuộc vào yếu tố con người Nếu so sánh các nguồn lực với nhau thì nguồn nhân lực có ưu thế hơn cả Do vậy, hơn bất cứ nguồn lực nào khác, nguồn nhân lực luôn chiếm vị trí trung tâm

và đóng vai trò quan trọng hàng đầu trong phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, nhất là trong giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập kinh tế quốc tế

Ngày nay, khi thế giới bước vào nền kinh tế tri thức thì vấn đề nhân tài đang thực sự là vấn đề cấp thiết, vì nhân tài là hạt nhân của nền kinh tế tri thức Tuy rằng, nhân tài thời nào cũng quý cũng quan trọng nhưng ngày nay lại càng quan trọng hơn Muốn đi tắt, đón đầu trong phát triển thì phải có

Trang 28

nguồn nhân lực tiên tiến, không để lãng quên nhân tài và không để lãng phí nguồn nhân lực Do vậy, đi đôi với việc phải chủ động quy hoạch, tạo nguồn, đào tạo và bồi dưỡng để sử dụng nguồn nhân lực phát huy đạt hiệu quả cao nhất cần phải quản trị tốt nguồn nhân lực này Đối với các nhà xưởng, máy móc, thiết bị kỹ thuật, công nghệ, của cải vật chất đều có thể mua được, học hỏi được hoặc sao chép; nhưng đối với con người là không thể Từ đó, quản trị nhân lực đóng vai trò hết sức thiết yếu đến sự tồn tại, phát triển của một tổ chức, cơ quan Trên góc độ hệ thống, quản trị nhân lực hiện diện ở mọi mặt, mọi lĩnh vực đời sống, kinh tế, chính trị, xã hội, trong mọi tổ chức Với vai trò

to lớn của quản trị nhân lực được coi như một nghệ thuật, một văn hóa ứng

xử, nó tạo ra những yếu tố mang tính quyết định dẫn tới sự sống còn, chất lượng, hiệu quả của bất kỳ tổ chức, cơ quan nào, đó chính là bầu không khí văn hóa của việc quản trị nhân lực

1.1.1.8 Nội dung chủ yếu của quản trị nguồn nhân lực

Theo Giáo trình quản trị nhân sự năm 2006 của Ths Nguyễn Văn Điểm

và PGS.TS Nguyễn Ngọc Quân thì nguồn nhân lực cần được quản trị theo trình tự như sau:

- Phân tích công việc: Bao gồm xác định nội dung, đặc điểm của từng công việc, đánh giá tầm quan trọng của từng công việc và đưa ra yêu cầu cần thiết đối với người lao động

- Tuyển dụng nhân sự: Chiêu mộ và chọn ra những người có khả năng thực hiện công việc theo yêu cầu

- Đào tạo và phát triển nhân sự: Giúp người lao động xác định mục tiêu, hướng đi của mình, tạo môi trường lao động để người lao động làm việc tốt

- Sắp xếp và sử dụng người lao động: Đảm bảo sự phù hợp, sự tương xứng giữa công việc và người thực hiện công việc, mọi công việc đều phải được thực hiện tốt, đạt hiệu quả và mục tiêu đề ra

Trang 29

- Đánh giá và đãi ngộ nhân sự: Là việc làm hết sức quan trọng nhằm kích thích người lao động nâng cao hiệu quả lao động, thực hiện mục tiêu của doanh nghiệp

Từ đây, đi vào phân tích từng nội dung:

a Phân tích công việc: Phân tích công việc có tầm quan trọng đặc biệt

trong nội dung quản trị nhân sự, ảnh hưởng trực tiếp tới các nội dung khác Mục đích của phân tích công việc: Đưa ra các tiêu chuẩn cần thiết để tiến hành tuyển dụng nhân sự Chuẩn bị nội dung cần đào tạo và bồi dưỡng trình

độ để đáp ứng được yêu cầu công việc Lấy phân tích công việc làm căn cứ xây dựng và đánh giá hiệu quả chất lượng công việc và cải thiện điều kiện làm việc Là yếu tố định giá công việc phù hợp với mức thù lao cần thiết cho từng công việc, là cơ sở đánh giá thành tích, kết quả của lao động mà người

đó được đảm đương Các bước của phân tích công việc bao gồm 5 bước: Mô

tả công việc, xác định công việc, tiêu chuẩn về nhân sự, đánh giá công việc, xếp loại công việc

b Tuyển dụng:

Coi đây là bước quan trọng nhất của một tổ chức, cơ quan, bởi nó quyết định tới chất lượng, hiệu quả và phát triển Là một quá trình, nghiên cứu, thu hút, lựa chọn và quyết định tiếp nhận lao động vào tổ chức hoặc cơ quan Trong số đó sẽ chọn được những người lao động dự tuyển phù hợp với các tiêu chuẩn, yêu cầu và vị trí công việc

Trang 30

Hình 1.1 Quy trình tuyển dụng nhân lực

Nguồn: Giáo trình quản lý nhân sự (2007), NXB Khoa học và Kỹ thuật

c Đào tạo và phát triển nhân lực

- Đào tạo nói chung là tổng hợp những hoạt động nhằm nâng cao trình

độ học vấn, trình độ nghề nghiệp, chuyên môn cho người lao động Nói khác, đào tạo là những cố gắng của tổ chức, cơ quan được đưa ra nhằm thay đổi hành vi và thái độ của người lao động để đáp ứng yêu cầu, hiệu quả của công việc Nó là một quá trình họp tập lý luận, kiến thức, kinh nghiệm để tìm kiếm một sự biến đổi về chất có tính chấy tương đói lâu dài cho từng cá nhân, giúp cho cá nhân có thêm năng lực, kiến thức để thực hiện công việc

Nguyên tắc đào tạo: Thứ nhất xác định đúng đối tượng cần đào tạo; Thứ hai đào tạo lý luận kết hượp với thực hành; Thứ ba cần phải kết hợp chặt chẽ giữa đào tạo và đào tạo lại với khả năng tự bồi dưỡng nâng cao Thứ tư là đào tạo liên tục để có đội ngũ cán bộ, quản trị viên, nhân viên có trình độ và kinh nghiệm

Nhu cầu đào tạo: Trước hết xác định có nhu cầu đào tạo không? Có phù hợp với mục tiêu đào tạo của tổ chức, cơ quan chưa? Thông qua đó xác định những nhiệm vụ nào cần phải hoàn thành để đạt được mục tiêu? Các kiến

Trang 31

thức, hành vi cần thiết nào của mỗi nhân viên đảm đương để hoàn thành công việc của họ? Sự thiếu hụt kiến thức, kỹ năng cần thiết cho nhân viên

Các phương pháp đào tạo: Có thể phân làm hai loại, một là đào tạo trong công việc, hai là đào tạo ngoài công việc Đào tạo trong công việc có ưu điểm

là có chi phí thấp, phù hợp với công việc cần kỹ năng thực hành Ngược lại,

có hạn chế về năng suất giảm khi người lao động tham gia học tập Đối với đào tạo ngoài công việc có thể dùng nhiều phương pháp, hình thức khác nhau như: Bài giảng trên lớp học; Video; các bài tập tình huống; các diễn đàn, hội nghị khoa học Đào tạo ngoài công việc chi phí tương đối lớn, nhưng đào tạo căn bản có tính hệ thống

- Phát triển nhân lực: Là công việc mang định hướng có tính lâu dài cho

tổ chức, cơ quan, cá nhân trong tương lai về năng lực, chức vụ trên cơ sở đào tạo và giáo dục Đối tượng là những người có năng lực, khả năng tiến bộ ở tất

cả các loại hình lao động ở mọi cấp để họ phát triển tầm cao hơn Có hai phương pháp trong và ngoài công việc

Thăng tiến: Đào tạo và phát triển luôn đi đôi với nhau, nó tạo tiền đề, cơ

sở cho sự thăng tiến, có ý nghĩa rất lớn khi đánh giá đúng năng lực của việc đào tạo Sự thăng tiến hợp lý, đúng vị trí trở thành động lực thúc đẩy nỗ lực của mỗi người trong công việc được giao và ngược lại Tác dụng của thăng tiến là lựa chọn được những người có năng lực, phù hợp công việc và khả năng của họ Kích thích sự học hỏi và tự bồi dưỡng nâng cao trình độ quản lý, chuyên môn, nghiệp vụ, đồng thời tạo ra đội ngũ kế cận tốt, phát huy được trí tuệ và sự lành nghề của đội ngũ lâu năm trong tổ chức, cơ quan

Qua trình bày ở trên ta có thể tóm tắt thành Sơ đồ Quy trình đào tạo và phát triển nhân lực sau đây:

Xác định nhu cầu đào tạo

Trang 32

Nội dung chương trình Phương pháp đào tạo

Thực hiện chương trình đào tạo và phát triển

Đạt được sự hiểu biết, kỹ năng mong muốn

Đánh giá kết quả

đào tạo

Hình 1.2 Quy trình đào tạo và phát triển nhân lực

1.1.1.9 Các yếu tố ảnh hưởng tới nguồn nhân lực và phát triển nguồn nhân lực trong ngành công nghiệp

a Những yếu tố ảnh hưởng đến số lượng nguồn nhân lực

- Về tốc độ tăng dân số: tốc độ tăng dân số là sự gia tăng về dân số, hay

sự biến động dân số ở mỗi vùng, mỗi địa phương hay mỗi quốc gia Sự gia tăng dân số này sẽ ảnh hưởng tới sự phát triển kinh tế - xã hội ở các vùng, địa phương hay quốc gia đó có thể theo hướng tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát

Trang 33

triển, nhưng có thể gây ra áp lực không tốt cho sự phát triển kinh tế - xã hội Đối với những nước đang phát triển, tốc độ tăng dân số phù hợp sẽ tạo điều kiện cho sự phát triển của cả nước nói chung, nhưng đối với từng địa phương, từng vùng trong một nước thì việc gia tăng dân số của một địa phương, một vùng không chỉ phụ thuộc vào tỷ lệ tăng tự nhiên mà còn bao gồm cả tỷ lệ tăng dân số cơ học Tốc độ gia tăng về dân số có ảnh hưởng rất lớn đến số lượng nguồn nhân lực ở địa phương đó

- Về độ tuổi: hiện nay ở nước ta, những người trong độ tuổi lao động chiếm tỷ lệ cao trong tổng dân số và được phân bố trong tất cả các ngành của nền kinh tế quốc dân Đây chính là nguồn nhân lực quan trọng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước

- Về thu nhập và điều kiện sống: ở đâu có thu nhập cao và điều kiện sống tốt thì ở đó sẽ là nơi có sức hấp dẫn lớn đối với sự di chuyển của dòng người

từ nơi khác đến Thái Nguyên là một thành phố có mức phát triển kinh tế - xã hội cao nhất so với thị xã và các huyện trong tỉnh về thu nhập, điều kiện sống của người Chính sự phát triển đó đã tạo ra sự hấp dẫn đối với những người lao động từ các nơi khác đổ về làm cho dân số của Thành phố tăng dân số cơ học, đặc biệt về các mùa ôn và thi tuyển sinh đại học, cao đẳng

b Những yếu tố ảnh hưởng tới chất lượng nguồn nhân lực

Chất lượng nguồn nhân lực chính là động lực trực tiếp cho sự phát triển kinh tế xã hội Thông qua chất lượng của nguồn nhân lực, thể hiện trình độ phát triển nền kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia, chất lượng cuộc sống của dân

cư hay mức độ văn minh của xã hội

Chất lượng nguồn nhân lực là trình độ khả năng của năng lực thể chất và năng lực tinh thần cấu thành lực lượng lao động xã hội Chất lượng nguồn nhân lực bao gồm thể lực, trí lực, trình độ văn hoá và phẩm chất đạo đức

Trang 34

* Các yếu tố liên quan đến thể chất của nguồn nhân lực:

Nói đến thể lực tức là nói đến tình trạng sức khoẻ của nguồn nhân lực , bao gồm yếu tố cả về thể chất lẫn tinh thần và phải đảm bảo được sự hài hoà giữa bên trong và bên ngoài Sức khoẻ là yếu tố quan trọng nhất của nguồn nhân lực, nó được các quốc gia và các tổ chức quốc tế quan tâm.Thể lực của nguồn nhân lực được hình thành duy trì và phát triển bởi các chế độ dinh dưỡng, chăm sóc sức khoẻ Vì thế, nó phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh

tế xã hội, phân phối thu nhập và chính sách xã hội của mỗi quốc gia Thể lực tốt của người lao động thể hiện ở sự nhanh nhẹn, tháo vát, bền bỉ, dẻo dai của sức mạnh cơ bắp trong công việc Thể lực tốt còn là điều kiện cho sự phát triển trí lực Trình độ phát triển kinh tế xã hội càng cao thì càng đòi hỏi cao ở thể lực vì nếu không có thể lực tốt thì sẽ không thể chịu nổi sức ép căng thẳng của công việc, nhất là trong điều kiện ứng dụng khoa học công nghệ mới vào sản xuất và nếu không có thể lực tốt thì cũng không thể sáng tạo ra những tri thức mới, những sản phẩm mới Do vậy, để tạo điều kiện cho việc nâng cao thể lực của nguồn nhân lực cần phải tạo ra các điều kiện sống và chăm sóc sức khoẻ tốt nhất cho người dân

* Các yếu tố liên quan đến trí lực của nguồn nhân lực:

Trí lực là tiêu chí quan trọng nhất để đánh giá chất lượng nguồn nhân lực Trí lực của nguồn nhân lực thể hiện ở trình độ học vấn, trình độ chuyên môn kỹ thuật, kỹ năng nghề nghiệp của lực lượng lao động xã hội

- Trình độ học vấn thể hiện ở sự hiểu biết của người lao động về những kiến thức tự nhiên, xã hội Trình độ học vấn được cung cấp thông qua hệ thống giáo dục đào tạo chính quy, không chính quy, quá trình tự học suốt đời của người lao động Thông thường trình độ học vấn được thể hiện qua các chỉ

số như: số lượng người biết chữ và mù chữ, tỷ lệ đi học chung theo các cấp học, tỷ lệ đi học đúng tuổi Trình độ dân trí của dân cư phản ánh trình độ học

Trang 35

vấn của lực lượng lao động và là chỉ tiêu quan trọng để đánh giá chất lượng nguồn nhân lực Bởi lẽ, khi có trình độ học vấn cao thì điều kiện và khả năng

để tiếp thu và vận dụng nhanh chóng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất kinh doanh góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội

- Trình độ chuyên môn kỹ thuật: trình độ chuyên môn của người lao động

là kiến thức, sự hiểu biết, khả năng thực hành về một chuyên môn nào đó Trình độ chuyên môn đó có được nhờ đào tạo ở các trường trung học chuyên nghiệp, cao đẳng, đại học và sau đại học Trong một công ty, một tổ chức hay một quốc gia nó được thể hiện qua những con số cụ thể như tỷ lệ cán bộ trung cấp, cao đẳng, đại học, sau đại học trong toàn bộ lực lượng lao động của các

cơ sở đó

- Trình độ kỹ thuật của người lao động thường dùng để chỉ những người được đào tạo ở các trường kỹ thuật, được trang bị kỹ năng thực hành về một công việc nào đó và được thể hiện qua các chỉ tiêu so sánh như: số lao động được đào tạo và số lao động phổ thông, số người có bằng kỹ thuật, số người không có bằng kỹ thuật, trìmh độ tay nghề theo bậc thợ

- Thông thường trình độ chuyên môn kỹ thuật được kết hợp với nhau theo thông số so sánh về trình độ chuyên môn kỹ thuật, đó là:

1- Tỷ lệ lao động được đào tạo so với lực lượng lao động đang làm việc 2- Tỷ lệ lao động được đào tạo theo cấp bậc so với tổng số lao động đang làm việc

3- Tỷ lệ các loại lao động đã qua đào tạo thể hiện ở cơ cấu công nhân kỹ thuật, trung học chuyên nghiệp, cao đẳng, đại học

Thông qua cơ cấu này để thấy được mức độ phù hợp về yêu cầu đào tạo nguồn nhân lực đối với sự phát triển kinh tế xã hội hay không để có kế hoạch điều chỉnh nhu cầu đào tạo tổng thể của cả nước hay của một địa phương

c C¸c yÕu tè ¶nh h-ëng kh¸c

Trang 36

- Yếu tố môi trường: Bao gồm nhiều nhóm khác nhau như Luật pháp; Dân số - lực lượng lao động; Kinh tế - văn hóa - xã hội, Khoa học - kỹ thuật; Nhiệm vụ và chức năng chủ yếu của cơ quan, tổ chức…

- Yếu tố con người là chủ thể trong mọi hoạt động của bất kỳ các tổ chức,

cơ quan Sự phát triển của khoa học - kỹ thuật ngày càng cao dẫn đến đại đa

số nguồn nhân lực được nâng cao về nhiều mặt, đồng thời cũng đặt ra đối với vấn đề quản trị nhân lực làm thỏa mãn, phù hợp năng lực và bằng lòng với công việc được đảm nhận với sự hưởng thụ chính đáng mà hiệu quả công việc mang lại, mối quan hệ này hết sức chặt chẽ, mang tính nhân văn và nghệ thuật cao trong phép sử dụng nhân lực

- Yếu tố về các nhà quản trị: Yêu cầu cần phải có đủ năng lực quản lý, quản trị, có trình độ về chuyên môn và tầm nhìn đưa ra những định hướng, giải pháp, phương pháp, biện pháp phù hợp có hiệu quả trong quản trị và quản

lý nhân lực Luôn luôn coi công tác quản trị và quản lý nhân lực là công tác quan trọng nhất để tạo ra hiệu quả và mục tiêu công việc mà tổ chức, cơ quan cần đạt được Hay nói cách khác đối với những nhà quản trị, quản lý nguồn

nhân lực phải có “đủ tâm, đủ tầm”

- Tác động của Quá trình hội nhập kinh tế quốc tế với phát triển nguồn nhân lực ở Việt Nam cần được đề cập Hội nhập tích cực vào nền kinh tế quốc

tế là một xu thế tất yếu mà bất kỳ một quốc gia nào trên thế giới đều phải lựa chọn để phát triển Chiến lược hội nhập kinh tế quốc tế tạo cơ hội cho các nước

có khả năng tiếp cận với thị trường thế giới, với những công nghệ hiện đại, với những thành tựu mới trong quản lý, nhờ đó có cơ hội phát triển tăng tốc và rút ngắn được thời gian công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước Hội nhập kinh tế quốc tế tạo điều kiện cho các quốc gia kết hợp tốt nhất sức mạnh dân tộc với sức mạnh quốc tế, phát huy được nội lực và mọi tiềm năng sáng tạo; đồng thời, tranh thủ được tối đa các nguồn lực bên ngoài phục vụ cho phát triển

Trang 37

Tác động của xu thế toàn cầu hóa kinh tế đối với việc điều chỉnh và lựa chọn chiến lược phát triển của các quốc gia là rất mạnh mẽ và sâu sắc Chỉ có quốc gia nào thích ứng nhanh nhạy với xu thế này, sớm tìm được mô hình - chiến lược phát triển phù hợp và vận dụng sáng tạo - có hiệu quả vào hoàn cảnh cụ thể của nước mình thì khả năng tăng trưởng và phát triển nhanh, cải thiện được vị thế của mình trong nền kinh tế thế giới

* Mở rộng quy mô, nâng cao chất lượng, tăng cường nguồn lực cho giáo dục, thực sự coi giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu

Hội nhập kinh tế quốc tế có tác động nhiều mặt và đặt ra những yêu cầu mới đối với việc đào tạo nguồn nhân lực ở mỗi quốc gia Hội nhập kinh tế cùng với cuộc cách mạng khoa học kỹ - công nghệ hiện đại dẫn đến một cuộc cách mạng về đào tạo ngành nghề trong xã hội Do đó, các quốc gia phải chuẩn bị cho mình những tiềm lực lao động đáp ứng yêu cầu của một hệ thống ngành nghề mới đang phát triển phù hợp với xu thế thời đại

Trong bối cảnh toàn cầu hóa kinh tế và Hội nhập kinh tế quốc tế, các quốc gia còn phải hướng đến việc đào tạo những con người thích ứng với thời đại cạnh tranh ồ ạt và khốc liệt để phát triển Việc đào tạo một thế hệ mới các doanh nhân - những người lao động có tri thức - khoa học - công nghệ hiện đại, tri thức - năng lực kinh doanh - năng lực cạnh tranh để dẫn dắt doanh nghiệp dành phần thắng trong cuộc cạnh tranh kinh tế trong và ngoài nước, phải là mục tiêu cơ bản trong chính sách giáo dục - đào tạo của các quốc gia trong bối cảnh toàn cầu hóa

Thứ tư, việc sử dụng tiếng Anh trong giáo dục và đào tạo là một yêu cầu

thực tế mà các quốc gia phải hướng tới trong thời đại toàn cầu hóa

Tiếng Anh là một trong những ngôn ngữ toàn cầu, thứ tiếng của doanh nghiệp, của chính trị, của ngoại giao, là tiếng “mẹ đẻ” của ngôn ngữ máy tính

và Internet Sự phổ biến của tiếng Anh là sự thật không thể phủ nhận; hiện

Trang 38

nay, có khoảng 200 triệu người đang sử dụng tiếng Anh như ngôn ngữ thứ nhất, 2/3 dân số thế giới dùng như ngôn ngữ thứ hai và 1/6 dân số thế giới đang học tiếng Anh Theo dự báo thì có khoảng ½ dân số thế giới sẽ ít nhiều thông thạo tiếng Anh vào trước năm 2050 Muốn hội nhập kinh tế thế giới, tham gia vào quá trình toàn cầu hóa thì phải biết sử dụng tiếng Anh; dĩ nhiên, việc phổ biến tiếng Anh trong giáo dục và đào tạo ở các quốc gia không có nghĩa là làm suy giảm vị thế của tiếng mẹ đẻ

Trong bối cảnh toàn cầu hóa kinh tế và dưới tác động của cuộc cách mạnh khoa học - công nghệ, nhu cầu và khả năng thực hiện sự hợp tác quốc tế

về phát triển và sử dụng nguồn nhân lực ngày càng trở nên tất yếu và rõ nét Nhiều nước coi đây là con đường cơ bản để rút ngắn khoảng cách chênh lệch

về trình độ phát triển với khu vực và thế giới Việc cử cán bộ, chuyên gia, học sinh …ra nước ngoài học tập, công tác được nhiều nước quan tâm và trở thành phương thức chủ yếu để phát triển nguồn nhân lực ở mỗi nước

Việc sử dụng lao động cũng ngày càng mang tính quốc tế hóa rộng rãi

Xu hướng đầu tư trực tiếp ngày càng gia tăng và sự di chuyển ồ ạt các nguồn lực sản xuất giữa các nước làm cho quy mô của lao động tổng thể được sử dụng vượt ra khỏi phạm vi quốc gia, lãnh thổ Trên thực tế, sự di chuyển nguồn nhân lực giữa các nước hiện đã trở thành hiện tượng phổ biến trong đời sống, hoạt động kinh tế - xã hội quốc tế và khu vực

Giáo dục và Đào tạo, cùng với khoa học công nghệ phải thực sự là quốc sách hàng đầu, phải coi đầu tư cho giáo dục là một trong những hướng chính của đầu tư phát triển, tạo điều kiện cho giáo dục đi trước và phục vụ đắc lực cho sự phát triển kinh tế - xã hội Đa dạng hoá các loại hình đào tạo, huy động toàn xã hội làm giáo dục, động viên các tầng lớp nhân dân góp sức xây dựng nền giáo dục quốc dân dưới sự quản lý của Nhà nước Xã hội hoá giáo dục là

Trang 39

tạo ra và phát triển phong trào toàn dân học tập; học tâp suốt đời, toàn xã hội làm giáo dục Thực hiện xã hội hoá giáo dục không có nghĩa là khoán trắng cho nhà trường và giảm nhẹ trách nhiệm của Đảng và Nhà nước

Nhà nước quy định cơ chế cho các doanh nghiệp đầu tư vào giáo dục và đào tạo Khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi để các cá nhân, tổ chức trong và ngoài nước giúp đỡ phát triển giáo dục - đào tạo

Phát triển giáo dục nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài Giáo dục phải vừa gắn chặt với yêu cầu phát triển đất nước, vừa phù hợp với xu thế tiến bộ của thời đại

Dành một tỷ lệ ngân sách thoả đáng để cử những người giỏi và có phẩm chất tốt đi đào tạo và bồi dưỡng về những ngành nghề và lĩnh vực then chốt ở những nước có nền khoa học, công nghệ phát triển; sử dụng một phần vốn vay và viện trợ của nước ngoài để xây dựng cơ sở vật chất cho giáo dục và đào tạo

* Xây dựng một xã hội học tập: Dưới tác động của xu thế toàn cầu hóa kinh tế, việc đào tạo nguồn nhân lực cần phải được đầu tư phát triển theo một phương châm mới, đó là đào tạo thường xuyên, liên tục, đào tạo suốt đời, đồng thời học tập suốt đời

Giáo dục và đào tạo sẽ liên quan đến toàn bộ cuộc đời chứ không phải chỉ ở tuổi trẻ Giáo dục phổ thông và chuyên nghiệp giúp con người có thể học thường xuyên - học suốt đời và giáo dục sẽ chuẩn bị cho con người về nội dung và phương pháp để học thường xuyên - học suốt đời Học thường xuyên

- học suốt đời là đặc trưng cơ bản của một nền giáo dục - đào tạo từ thấp lên cao và mang tính toàn cầu Vì thế, hệ thống đào tạo cũng dần được điều chỉnh, đổi mới căn bản toàn diện với những chương trình, kỹ năng đổi mới để đáp ứng yêu cầu phát triển khoa học - công nghệ trong thời kỳ công nghiệp hóa - hiện đại hóa

Trang 40

* Nhu cầu và cơ cấu nguồn nhân lực Việt Nam ngày càng tăng về số lượng và chất lượng

Thông qua nghiên cứu số liệu cho ta thấy, để chuẩn bị lực lượng lao động cho xã hội, mục tiêu đào tạo nguồn nhân lực ở Việt Nam hiện nay tập trung vào việc đào tạo hướng nghiệp cho học sinh một cách thiết thực để có

kỹ năng lao động cao Tỷ lệ học sinh được hướng nghiệp cần phải tăng thêm

từ khoảng 10% hiện nay lên 20% vào năm 2015 và 30% vào năm 2020

Lao động có tay nghề cần được đào tạo theo hình thức khác nhau, phấn đấu để chứng chỉ nghề của Việt Nam được thế giới mà trước hết là Hiệp hội các nước Đông Nam Á công nhận

1.2 Những kinh nghiệm về phát triển nguồn nhân lực của một số quốc gia

và ở Việt Nam

Ở những nước tiên tiến, họ xác định đầu tư cho giáo dục và đào tạo là đầu tư phát triển nguồn nhân lực; cho nên chính sách phát triển nguồn nhân lực luôn là một trong những bộ phận cấu thành chủ chốt trong hầu hết các chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của các nước trên thế giới

1.2.1 Nhật Bản

Đây là một quốc gia coi nguồn nhân lực là yếu tố quyết định tương lai của đất nước; từ đầu thập niên 1980 Nhật Bản đã đề ra mục tiêu: đào tạo những thế hệ mới có tính năng động, sáng tạo có kiến thức chuyên môn sâu,

có khả năng suy nghĩ và làm việc độc lập, khả năng giao tiếp quốc tế để đáp ứng những đòi hỏi của thế giới, với sự tiến bộ không ngừng của khoa học và

xu thế cạnh tranh - hợp tác toàn cầu Qua nghiên cứu thì từ năm 1995 -

2002, dân số trong độ tuổi từ 15 trở lên thì năm sau tăng hơn năm trước nhưng lực lượng lao động và tỷ lệ tham gia lao động thì có giảm nhưng không nhiều, điều này cho thấy mức ổn định về lực lượng lao động đã tạo

Ngày đăng: 23/03/2021, 22:37

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm