Về mặt quản lý nhà nước, sự phát triển kinh tế tư nhân từng bước được thể chế hóa bằng các nghị định và một số bộ luật, trong đó phải kể đến Luật Doanh nghiệp 1999 có hiệu lực từ 1-1-200
Trang 1“PHÁT TRIỂN KINH TẾ TƯ NHÂN Ở HẢI PHÒNG -
VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN”
Trang 3KỶ YẾU HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA
“PHÁT TRIỂN KINH TẾ TƯ NHÂN Ở HẢI PHÒNG -
VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN”
NHÀ XUẤT BẢN ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
Trang 5MỤC LỤC
Trang
Lời nói đầu 11
Phần 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ KINH TẾ TƯ NHÂN Ở VIỆT NAM
SỰ PHÁT TRIỂN NHẬN THỨC CỦA ĐẢNG VỀ KINH TẾ TƯ NHÂN
TRONG THỜI KỲ ĐỔI MỚI
TS Bùi Thanh Xuân 14
SỰ THAM GIA CỦA KINH TẾ TƯ NHÂN TRONG PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP Ở VIỆT NAM
TS Đỗ Thị Diệu 26
NGHỊ QUYẾT SỐ 10-NQ/TW - BƯỚC ĐỘT PHÁ CỦA ĐẢNG TA
VỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ TƯ NHÂN
TS Nguyễn Văn Hiếu 38
KINH TẾ TƯ NHÂN VÀ TÁC ĐỘNG CỦA THÀNH PHẦN KINH TẾ
NÀY ĐẾN SỰ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ Ở NƯỚC TA
ThS Nguyễn Đức Khiêm - ThS Thân Thị Giang - ThS Quách Thị Kiều Dung 45
PHÁT TRIỂN KINH TẾ TƯ NHÂN TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG
ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA - LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
ThS Hoàng Xuân Sơn - ThS Lê Thị Ái Nhân 56
NHẬN THỨC CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM VỀ “KINH TẾ TƯ NHÂN”
TS Đinh Văn Trọng - TS Ngô Minh Hiệp 68
QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM VỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ TƯ NHÂN
TRONG THỜI KỲ ĐỔI MỚI
TS Ngô Thái Hà - ThS Nguyễn Đức Khiêm 78
QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG VỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ TƯ NHÂN -
NHỮNG ĐIỂM NHẤN QUAN TRỌNG
ThS Mạc Văn Nam 91
KINH TẾ TƯ NHÂN - LỰC LƯỢNG CẦN THIẾT
CỦA NỀN KINH TẾ THEO TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH
TS Trần Thị Phúc An - ThS Nguyễn Thị Kim Dung 100
KINH TẾ TƯ NHÂN Ở VIỆT NAM - CƠ CHẾ CHÍNH SÁCH
HỖ TRỢ PHÁT TRIỂN VÀ NHỮNG ĐÁNH GIÁ
TS Đặng Thị Hoài 110
TIẾN TRÌNH PHÁT TRIỂN TƯ DUY VỀ KINH TẾ TƯ NHÂN Ở VIỆT NAM
TS Nguyễn Văn Thắng 118
Trang 6 VAI TRÒ CỦA KINH TẾ TƯ NHÂN TRONG NỀN KINH TẾ NƯỚC TA HIỆN NAY
ThS Nguyễn Thị Lan Minh 129
KINH TẾ TƯ NHÂN VỚI KHẢ NĂNG THÚC ĐẨY PHÁT TRIỂN
TRÌNH ĐỘ LỰC LƯỢNG SẢN XUẤT Ở NƯỚC TA
TS Đào Thu Hiền 136
NGHỊ QUYẾT TRUNG ƯƠNG 5 KHÓA XII - BƯỚC ĐỘT PHÁ TRONG TƯ DUY
CỦA ĐẢNG VỀ KINH TẾ TƯ NHÂN Ở NƯỚC TA
ThS Nguyễn Thị Ngọc Dung 146
MỐI QUAN HỆ GIỮA PHÁT TRIỂN KINH TẾ TƯ NHÂN VỚI VIỆC
THỰC HIỆN MỤC TIÊU DÂN GIÀU, NƯỚC MẠNH, DÂN CHỦ, CÔNG BẰNG, VĂN MINH
TS Nguyễn Thị Anh - TS Nguyễn Thị Thu Hà 152
NHỮNG ĐÓNG GÓP CỦA KINH TẾ TƯ NHÂN VÀO SỰ PHÁT TRIỂN KINH TẾ NƯỚC TA
TRONG THỜI KỲ QUÁ ĐỘ LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI
ThS Hà Thị Liên 162
KINH TẾ PHI CHÍNH THỨC:
NHẬN DIỆN VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA VỚI CÔNG TÁC QUẢN LÝ
PGS TS Nguyễn Thái Sơn – ThS Phạm Thị Thu Hương 171
NHẬN DIỆN VÀ THÁO GỠ CÁC RÀO CẢN ĐỂ KINH TẾ TƯ NHÂN
LÀ MỘT ĐỘNG LỰC QUAN TRỌNG CỦA NỀN KINH TẾ VIỆT NAM
PGS.TS Phạm Thị Túy 183
PHÁT TRIỂN KINH TẾ TƯ NHÂN VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH
CUỘC CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP 4.0- CƠ HỘI, THÁCH THỨC VÀ GIẢI PHÁP
TS Trần Thị Ngọc Thúy 196
PHÁT TRIỂN KINH TẾ TƯ NHÂN - TỪ QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG
ĐẾN THỰC TIỄN TẠI TỈNH THÁI NGUYÊN
TS Hoàng Thu Thuỷ - TS Trần Thị Lan 206
TÁC ĐỘNG CỦA ĐIỀU CHỈNH CHÍNH SÁCH
TỚI CÁC DOANH NGHIỆP TƯ NHÂN Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
Nguyễn Thu Hạnh 213
BÀN VỀ VAI TRÒ CỦA VĂN HÓA DOANH NGHIỆP
ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN CỦA DOANH NGHIỆP TƯ NHÂN
TS Nguyễn Thị Thanh Thủy 225
KINH TẾ TƯ NHÂN Ở VIỆT NAM - CƠ HỘI
VÀ THÁCH THỨC TRONG THỜI ĐẠI CÔNG NGHỆ 4.0
Trang 7 MỘT SỐ NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN NĂNG SUẤT LAO ĐỘNG
CỦA DOANH NGHIỆP THUỘC KHU VỰC KINH TẾ TƯ NHÂN
ThS: Nguyễn Như Quảng 256
PHÁT TRIỂN KINH TẾ TƯ NHÂN Ở VIỆT NAM HIỆN NAY - RÀO CẢN VÀ GIẢI PHÁP
TS Hoàng Thu Trang 267
THỰC HIỆN CÔNG BẰNG XÃ HỘI GIỮA KINH TẾ TƯ NHÂN
VÀ CÁC THÀNH PHẦN KINH TẾ TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
TS Phạm Thị Oanh 276
KINH TẾ TƯ NHÂN, THÀNH TỰU VÀ NHỮNG RÀO CẢN THÁCH THỨC
ThS Lê Thị Lan 288
Phần 2: KINH TẾ TƯ NHẬN Ở HẢI PHÒNG - THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP
TỪ NHẬN THỨC ĐẾN THỰC TIỄN PHÁT TRIỂN KINH TẾ TƯ NHÂN
Ở HẢI PHÒNG HIỆN NAY
ThS Đỗ Thị Khánh Nguyệt 304
VAI TRÒ CỦA ĐẠO ĐỨC KINH DOANH ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN
CỦA DOANH NGHIỆP Ở HẢI PHÒNG HIỆN NAY
PGS TS Trần Đăng Sinh - TS Cao Thị Sính 316
NGHỊ QUYẾT 10 (2017) VÀ VẤN ĐỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ TƯ NHÂN
Ở HẢI PHÒNG GIAI ĐOẠN 2017- 2019
TS Nguyễn Thị Kim Nguyên - ThS Vũ Văn Đông 344
THỰC TIỄN PHÁT TRIỂN KINH TẾ TƯ NHÂN
TẠI THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG GIAI ĐOẠN 2013-2017
ThS Trần Thị Phương Thảo - ThS Hoàng Xuân Trường 352
TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ TƯ NHÂN
VÀ SỰ VẬN DỤNG CỦA ĐẢNG TA HIỆN NAY
(QUA THỰC TẾ Ở HUYỆN THỦY NGUYÊN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG)
ThS Nguyễn Ngọc Yên 362
VẬN DỤNG QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG TRONG HOẠCH ĐỊNH
CHỦ TRƯƠNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ TƯ NHÂN CỦA ĐẢNG BỘ
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG THỜI KỲ ĐỔI MỚI
TS Nguyễn Phương Hải 372
Trang 8 THỰC HIỆN TRÁCH NHIỆM XÃ HÔI - ĐỘNG LỰC PHÁT TRIỂN
CỦA DOANH NGHIỆP TƯ NHÂN Ở HẢI PHÒNG HIỆN NAY
ThS Vũ Thị Hồng Dung 381
NHÌN LẠI KHU VỰC KINH TẾ TƯ NHÂN VIỆT NAM
VÀ MỘT SỐ KINH NGHIỆM CHO PHÁT TRIỂN KINH TẾ TƯ NHÂN TẠI HẢI PHÒNG
ThS Nguyễn Thu Hà 390
VAI TRÒ CỦA DOANH NGHIỆP TƯ NHÂN ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN KINH TẾ
Ở HẢI PHÒNG HIỆN NAY
ThS Đinh Thị Tiệp 402
QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG VỀ KINH TẾ TƯ NHÂN THỜI KỲ ĐỔI MỚI
VÀ SỰ PHÁT TRIỂN KINH TẾ TƯ NHÂN Ở HẢI PHÒNG
Đại tá Nguyễn Ánh Ngọc 412
DỰ THẢO THAY THẾ THÔNG TƯ 36/2014/TT-NHNN - NHỮNG TÁC ĐỘNG ĐẾN NGUỒN VỐN
CỦA CÁC DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ KINH DOANH BẤT ĐỘNG SẢN TẠI HẢI PHÒNG
ThS Nguyễn Thị Hằng 422
VINGROUP - DẤU ẤN CỦA DOANH NGHIỆP TƯ NHÂN LỚN NHẤT VIỆT NAM TẠI HẢI PHÒNG
ThS Trương Thị Nga 430
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN KINH TẾ TƯ NHÂN
Ở HẢI PHÒNG TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
ThS Vũ Kiến Quốc 440
ĐÓNG GÓP CỦA KINH TẾ TƯ NHÂN VỚI SỰ PHÁT TRIỂN KINH TẾ
HẢI PHÒNG TRONG NHỮNG NĂM GẦN ĐÂY
TS Quách Thị Hà 448
KHÁI QUÁT VỀ THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN CỦA KINH TẾ TƯ NHÂN TẠI HẢI PHÒNG
ThS Lê Thu Trang 454
VAI TRÒ CỦA KINH TẾ TƯ NHÂN VIỆT NAM
VÀ THỰC TIỄN ĐỔI MỚI Ở THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
ThS Lê Thị Thảo 461
MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT HUY VAI TRÒ KINH TẾ TƯ NHÂN Ở HẢI PHÒNG HIỆN NAY
TS Tô Mạnh Cường 470
PHÁT TRIỂN KINH TẾ TƯ NHÂN TẠI THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
NĂM 2018 - MỘT SỐ THÀNH TỰU, HẠN CHẾ VÀ GIẢI PHÁP
TS Lương Thị Huyền Trang 478
PHÁT TRIỂN KINH TẾ TƯ NHÂN Ở HẢI PHÒNG - CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC
PGS.TS Phạm Thị Hồng Điệp, CN Tống Thế Sơn 490
KINH TẾ TƯ NHÂN VỚI CÔNG TÁC ĐẢM BẢO AN SINH XÃ HỘI
TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
ThS Nguyễn Ngọc Mạnh 501
Trang 9 PHÁT TRIỂN KINH TẾ TƯ NHÂN Ở HẢI PHÒNG
Nguyễn Thị Hồng Thúy 513
SỬ DỤNG VỐN XÃ HỘI TRONG MẠNG LƯỚI KINH DOANH
CỦA CÁC DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ Ở HẢI PHÒNG
ThS Nguyễn Thị Chiên - TS Lê Thanh Tùng 520
TỔNG CÔNG TY XÂY DỰNG BẠCH ĐẰNG - DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC TIÊU BIỂU
CHUYỂN ĐỔI THÀNH CÔNG TỪ MÔ HÌNH KINH TẾ NHÀ NƯỚC SANG CÔNG TY CỔ PHẦN
ThS Nguyễn Thúy Hoa 531
DOANH NGHIỆP KHU VỰC KINH TẾ TƯ NHÂN HẢI PHÒNG
TRƯỚC TÁC ĐỘNG CỦA CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP 4.0
TS Phạm Văn Hùng 563
KINH TẾ TƯ NHÂN Ở HẢI PHÒNG -
THÀNH TỰU VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ ĐẶT RA HIỆN NAY
TS Hoàng Thị Kim Oanh 570
PHÁT TRIỂN KINH TẾ TƯ NHÂN Ở HẢI PHÒNG - THỰC TRẠNG VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA
ThS Nguyễn Vũ Châu Giang 580
HỘI DOANH NHÂN TRẺ HẢI PHÒNG - ĐÒN BẨY THÚC ĐẨY KINH TẾ - XÃ HỘI
THÀNH PHỐ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG
ThS Nguyễn Thị Nga 587
PHÁT TRIỂN DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA Ở THÀNH PHỐ HÀ NỘI
TRONG BỐI CẢNH CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP 4.0 VÀ MỘT SỐ GỢI Ý
ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN LOẠI HÌNH DOANH NGHIỆP NÀY Ở HẢI PHÒNG
ThS Nguyễn Thị Hạnh - ThS Nguyễn Mai Anh - ThS Nguyễn Tuấn Anh 585
XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN VĂN HOÁ DOANH NGHIỆP,
DOANH NHÂN HẢI PHÒNG TRƯỚC YÊU CẦU CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP 4.0
PGS.TS Nguyễn Thanh Tú - ThS Đào Thị Ngân Huyền 603
KINH TẾ TƯ NHÂN VÀ GIẢI PHÁP ĐẨY MẠNH KINH TẾ TƯ NHÂN Ở HẢI PHÒNG HIỆN NAY
TS Đỗ Huyền Trang 611
KINH TẾ TƯ NHÂN Ở HẢI PHÒNG: NHỮNG RÀO CẢN VÀ KIẾN NGHỊ CHÍNH SÁCH
PGS TS.Bùi Văn Huyền - ThS Phạm Thị Bảo Thoa 622
KINH TẾ TƯ NHÂN - ĐỘNG LỰC QUAN TRỌNG
TRONG TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ Ở HẢI PHÒNG
TS Phạm Thị Huyền 632
Trang 10 THỰC TRẠNG THỰC THI CƠ CHẾ, CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA
TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
ThS Nguyễn Thị Hường 642
MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ KẾ TOÁN CHI PHÍ CUNG ỨNG DỊCH VỤ VẬN TẢI
TẠI CÁC DOANH NGHIỆP VẬN TẢI HÀNG HÓA ĐƯỜNG BỘ TẠI HẢI PHÒNG
ThS Nguyễn Lan Anh 650
VAI TRÒ CỦA KINH TẾ TƯ NHÂN Ở HẢI PHÒNG
ThS Đỗ Chí Hiếu 661
MỘT SỐ TRAO ĐỔI VỀ XÂY DỰNG VÀ HOÀN THIỆN
KHUNG KHỔ PHÁP LÝ ĐỐI VỚI HỘ KINH DOANH
ThS Nguyễn Thị Thu Hằng 668
NHỮNG RÀO CẢN VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN KINH TẾ TƯ NHÂN Ở HẢI PHÒNG
TS Nguyễn Văn Thông 678
CÁC GIẢI PHÁP CHỦ YẾU THÚC ĐẨY KINH TẾ TƯ NHÂN Ở HẢI PHÒNG
THÀNH MỘT ĐỘNG LỰC QUAN TRỌNG, TẠO ĐỘT PHÁ TRONG PHÁT TRIỂN
CÁC NGÀNH KINH TẾ MŨI NHỌN, CÓ LỢI THẾ ĐẾN NĂM 2030, TẦM NHÌN ĐẾN NĂM 2045
TS Phạm Thị Thúy 688
NGUỐN NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO - NHÂN TỐ QUYẾT ĐỊNH KINH TẾ TƯ NHÂN
TRỞ THÀNH ĐỘNG LỰC PHÁT TRIỂN KINH TẾ THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
ThS Nguyễn Thị Bích 701
PHÁT TRIỂN KINH TẾ TƯ NHÂN Ở HẢI PHÒNG – CẦN CÓ CHÍNH SÁCH ‘ĐỘT PHÁ’
PGS.TS Vũ Thị Loan - ThS Lê Hữu Toản 714
Trang 11Lời nói đầu
Hơn 30 năm đổi mới, Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn về phát triển kinh tế - xã hội, trong đó có vai trò của khu vực kinh tế tư nhân Đại hội XII của Đảng đã khẳng định kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Có thể nói phát triển kinh tế tư nhân là đòn bẩy nhằm củng cố, phát triển kinh tế Việt Nam nói chung và Hải Phòng nói riêng Kinh tế tư nhân đã góp phần đưa kinh tế - xã hội thành phố phát triển nhanh, bền vững, tạo sự đột phá, tạo thêm việc làm, cải thiện đời sống nhân dân, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, góp phần xây dựng Hải Phòng trở thành thành phố Cảng xanh, văn minh, hiện đại Đồng thời, nâng cao chất lượng hiệu quả kinh doanh trong khu vực kinh tế tư nhân, xây dựng doanh nghiệp thành phố Hải Phòng có năng lực cạnh tranh, tăng trưởng bền vững; xây dựng và phát triển các tập đoàn kinh tế tư nhân có tiềm lực mạnh,
có khả năng cạnh tranh trên thị trường trong và ngoài nước; nhiều doanh nghiệp tham gia mạng sản xuất chuỗi giá trị khu vực và toàn cầu Với sự đóng góp của kinh tế tư nhân, cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá, đô thị hoá; mô hình tăng trưởng chuyển mạnh từ chiều rộng sang chiều sâu; khai thác tốt tiềm năng, lợi thế, giải quyết việc làm, bảo đảm an sinh xã hội; có nhiều đóng góp cho phát triển tam giác kinh tế Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh, liên kết vùng và phát triển kinh tế đối ngoại
Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đáng ghi nhận, sự phát triển kinh tế tư nhân tại Hải Phòng vẫn còn một số vấn đề cần được nghiên cứu một cách khách quan và toàn diện Môi trường pháp lý đối với khu vực kinh tế tư nhân chưa hoàn thiện, nhiều quy định chưa đầy đủ, chưa rõ ràng, thiếu nhất quán, phức tạp và chồng chéo Chính sách thuế quá nhiều bất cập và có sự phân biệt đối xử giữa doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp tư nhân Các doanh nghiệp tư nhân còn
bị đối xử thiếu công bằng, thiếu vốn, thiếu mặt bằng sản xuất kinh doanh là trở ngại lớn nhất đối với các doanh nghiệp Vai trò lãnh đạo của Đảng và hiệu quả quản lý của Nhà nước đối với kinh tế tư nhân còn nhiều hạn chế Có một sự chênh lệch ngày càng lớn giữa số lượng doanh nghiệp đã đăng ký kinh doanh và số lượng doanh nghiệp đang thực sự hoạt động …
Với mục đích tạo diễn đàn chuyên môn, học thuật để làm sáng tỏ những vấn
đề lý luận về vai trò, vị trí, điều kiện và thực trạng phát triển kinh tế tư nhân;
Trang 12phân tích cơ hội, thách thức và rào cản, từ đó khuyến nghị các giải pháp phát triển kinh tế tư nhân,làm luận cứ tham mưu cho Thành ủy, HĐND, UBND Thành phố xây dựng chính sách phát triển khu vực kinh tế này ở Hải Phòng hiện nay, Trường Đại học Hải Phòng tổ chức Hội thảo khoa học Quốc gia với chủ đề:
“Phát triển kinh tế tư nhân ở Hải Phòng - Vấn đề lý luận và thực tiễn” Qua quá trình phát động, Ban tổ chức đã nhận được bài viết của các chuyên gia, các nhà nghiên cứu, các thầy cô giáo từ các học viện, các trường đại học, cao đẳng Các bài viết tập trung vào các vấn đề:
1 - Những vấn đề lý luận về kinh tế tư nhân;
2 - Vai trò của kinh tế tư nhân ở Hải Phòng Các mô hình phát triển kinh tế
tư nhân: lý thuyết và thực tiễn được áp dụng;
3 - Đánh giá thực trạng phát triển kinh tế tư nhân tại Hải Phòng (làm rõ nguyên nhân khách quan, chủ quan ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế tư nhân:
Hệ thống chính sách vĩ mô, mô hình tổ chức quản lý doanh nghiệp, khả năng tiếp cận và sử dụng các yếu tố đầu vào…);
4 - Nhận diện và đánh giá các rào cản mà doanh nghiệp khu vực tư nhân gặp phải khi tiếp cận thị trường các yếu tố sản xuất (vốn, lao động, đất đai, công nghệ, cơ sở vật chất, logistic….);
5 - Đề xuất những giải pháp nhằm phát triển khu vực kinh tế tư nhân và kiến nghị các chính sách nhằm tháo gỡ các rào cản (đặc biệt về thể chế, cơ chế chính sách, sự vận động của thị trường, các yếu tố sản xuất )
Những bài viết của các nhà khoa học, các nhà nghiên cứu, các chuyên gia
và các thầy cô giáo là những trao đổi, góp ý và những kinh nghiệm quý báu để chúng ta có cách nhìn nhận, đánh giá khách quan, toàn diện, sâu sắc và đưa ra những giải pháp thiết thực đóng góp cho sự phát triển kinh tế - xã hội thành phố Hải Phòng trong thời gian tới!
Xin trân trọng cảm ơn!
BAN TỔ CHỨC HỘI THẢO
Trang 13PHẦN 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ KINH TẾ TƯ NHÂN
Ở VIỆT NAM
Trang 14SỰ PHÁT TRIỂN NHẬN THỨC CỦA ĐẢNG VỀ KINH TẾ TƯ NHÂN
TRONG THỜI KỲ ĐỔI MỚI
TS Bùi Thanh Xuân
Trường Đại học Thủ Dầu Một, Bình Dương
Tóm tắt: Từ khi tiến hành đường lối đổi mới đến nay, nhận thức của Đảng về kinh tế tư
nhân ngày càng được bổ sung, hoàn thiện Văn kiện Đại hội XII của Đảng khẳng định:Kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng trong phát triển kinh tế nhiều thành phần định hướng xã hội chủ nghĩa Thành phần kinh tế này được phát triển ở tất cả các ngành, lĩnh vực mà pháp luật không cấm Đây là kết quả của cả quá trình đổi mới và phát triển nhận thức của Đảng về thành phần kinh tế này
Tứ khóa: Đảng cộng sản Việt Nam, kimh tế tư nhân, thời kỳ đổi mơi
PARTY COGNITIVE DEVELOPMENT OF THE PRIVATE ECONOMY DURING
THE RENEWAL PERIOD
Abstract: Since the renovation process has been implemented up to now, the Party's awareness
of the private economy has been increasingly supplemented and completed The document of the 12th Party Congress affirmed: “The private economy is an important driving force in the development of the economy with many socialist-oriented components This economic component is developed in all sectors and fields not prohibited by law” This is the result of both
the process of renewing and developing the Party's awareness of this economic component
Keyword: Communist Party of Vietnam, private economy, new era
Phát triển kinh tế tư nhân là vấn đề chiến lược lâu dài trong phát triển nền kinh tế nhiều thành phần định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN), góp phần quan trọng thực hiện thắng lợi nhiệm vụ trung tâm là phát triển kinh tế, công nghiệp hóa, hiện đại hóa, nâng cao nội lực của đất nước trong hội nhập kinh tế quốc tế
Quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về các thành phần kinh tế nói chung, về vị trí, vai trò của kinh tế tư nhân nói riêng có một quá trình hình thành và phát triển lâu dài, được bổ sung và hoàn thiện qua mỗi giai đoạn phát triển kinh tế đất nước
Trang 152 NỘI DUNG
2.1 Bước phát triển nhận thức của Đảng về kinh tế tư nhân trong đường lối
Trước thời kỳ đổi mới, đường lối kinh tế của Đảng ta là xây dựng một nền kinh tế quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội (CNXH) với cơ cấu kinh tế một thành phần - xã hội chủ nghĩa (XHCN) - gồm hai bộ phận, quốc doanh và tập thể, được quản lý theo cơ chế kế hoạch hóa tập trung, còn các thành phần kinh tế khác được gọi là phi XHCN, được nằm trong diện cải tạo và xóa bỏ, để tiến tới một nền kinh tế thuần khiết, do đó phạm trù kinh tế
tư nhân không còn tồn tại trong lý luận và trong đời sống thực tiễn
Bước vào thời kỳ đổi mới, với tinh thần “nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự thật”, Đại hội VI (năm 1986) phê phán và chỉ ra rằng “chưa thực sự thừa nhận cơ cấu kinh tế nhiều thành phần”[1]; do đó, đã nôn nóng, chủ quan, duy ý chí khi muốn “xóa bỏ ngay các thành phần phi xã hội chủ nghĩa, nhanh chóng biến kinh tế tư bản
tư nhân thành quốc doanh”[1] Trên cơ sở “coi nền kinh tế có cơ cấu nhiều thành phần là một đặc trưng của thời kỳ quá độ” [1], Đại hội VI khẳng định: “Bằng những biện pháp thích hợp, sử dụng mọi khả năng của các thành phần kinh tế khác trong sự liên kết chặt chẽ
và dưới sự chỉ đạo của thành phần kinh tế xã hội chủ nghĩa”[1] Với quan điểm này, các thành phần kinh tế “phi xã hội chủ nghĩa” được tồn tại và hoạt động dưới sự dẫn dắt của thành phần kinh tế xã hội chủ nghĩa
Đại hội VI của Đảng đã có chủ trương đúng đắn, phù hợp với thực tiễn Việt Nam, đó
là “Phải có chính sách mở đường cho người lao động tự tạo ra việc làm, kích thích mọi người đưa vốn vào sản xuất, kinh doanh, tiết kiệm tiêu dùng để tích lũy tái sản xuất trên quy
mô toàn xã hội”[2], “cần có chính sách sử dụng và cải tạo đúng đắn các thành phần kinh tế khác”[2] Trên tinh thần đó, Đại hội VI chỉ rõ: “Không nên có thành kiến, phân biệt đối xử, gây khó khăn cho những người lao động cá thể chưa muốn tham gia các tổ chức kinh tế tập thể hoặc xin rút ra khỏi các tổ chức đó”[2] Đại hội VI khẳng định: “Nhưng không thể xóa
bỏ thương nghiệp nhỏ tự do theo ý muốn chủ quan bằng mệnh lệnh hành chính, mà chỉ có thể thu hẹp nó bằng sự thay thế tốt hơn của thương nghiệp xã hội chủ nghĩa và biết sử dụng
nó trong những lĩnh vực mà thương nghiệp xã hội chủ nghĩa chưa thể kinh doanh tốt hoặc chưa cần kinh doanh”[2] Đây là những quan điểm đúng đắn về phát triển kinh tế nói chung, phát triển kinh tế tư nhân nói riêng
Tuy nhiên, ngay cả tại Đại hội VI của Đảng, khởi xướng công cuộc đổi mới và đề ra chính sách kinh tế nhiều thành phần nhưng tư tưởng cải tạo, xóa bỏ các thành phần kinh tế không được coi là XHCN vẫn được nhấn mạnh Văn kiện Đại hội VI đã xác định rõ: “Đi đôi với việc phát triển kinh tế quốc doanh, kinh tế tập thể, tăng cường nguồn tích lũy tập trung của Nhà nước và tranh thủ vốn ngoài nước, cần có chính sách sử dụng và cải tạo đúng đắn các thành phần kinh tế khác”[3] Kinh tế tư nhân mặc dù vẫn tồn tại và hoạt động trong nền kinh tế quốc dân nhưng không còn tên gọi, bị cấm kỵ, thành kiến và bị xa
lạ không chỉ trong các văn kiện của Đảng và Nhà nước mà cả trong các phương tiện thông tin đại chúng và trong cuộc sống đời thường Nó được gọi dưới các tên hợp thời hơn như kinh tế ngoài quốc doanh, kinh tế phi XHCN, kinh tế tư bản tư nhân…
Trang 16Chính sách kinh tế nhiều thành phần” tiếp tục được Nghị quyết 16 của Bộ Chính trị khóa VI (15-7-1988) và Nghị quyết Hội nghị Trung ương 6 khóa VI tiếp tục khẳng định đường lối đổi mới, nhất quán thực hiện chính sách kinh tế nhiều thành phần, khẳng định kinh tế tư nhân được phát triển không hạn chế địa bàn, quy mô, trong các ngành nghề mà pháp luật không cấm Cũng trong năm 1988, Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị (khóa VI) xác định hộ nông dân là đơn vị kinh tế tự chủ, từ đó đổi mới cơ bản cách thức quản lý hợp tác xã nông nghiệp đã tạo động lực cho kinh tế tư nhân trong nông nghiệp hồi phục và phát triển năng động, bước đầu chuyển sang sản xuất hàng hóa Đó là bước khởi đầu đáng quý đối với kinh tế tư nhân nước ta, mở đường cho những bước đột phá mạnh hơn sau này Tổng kết việc thực hiện nghị quyết Đại hội VI và nhằm thực hiện mục tiêu ổn định
và phát triển kinh tế, bước đầu có tích lũy từ nội bộ nền kinh tế, Đại hội VII tiếp tục khẳng định phải “Phát huy thế mạnh của các thành phần kinh tế, vừa cạnh tranh, vừa hợp tác, bổ sung cho nhau trong nền kinh tế quốc dân thống nhất”[3] Trên cơ sở đó, Đại hội VII cũng khuyến khích mọi người tăng thu nhập và làm giàu dựa vào kết quả lao động và hiệu quả kinh tế Mọi người được tự do kinh doanh theo pháp luật, được bảo vệ quyền sở hữu và thu nhập hợp pháp Kinh tế cá thể “được phát triển trong các ngành nghề ở cả thành thị và nông thôn, không hạn chế việc mở rộng kinh doanh Như vậy, quan điểm của Đảng về phát triển kinh tế tư nhân được tiếp tục củng cố ở Đại hội VII
Từ Đại hội VII và đặc biệt từ Hội nghị Trung ương 2 khóa VII (1922) kinh tế tư nhân
đã được coi trọng và khuyến khích phát triển, trong đó nhấn mạnh: “Bổ sung, sửa đổi thể chế nhằm đảm bảo cho kinh tế tư nhân được phát huy không hạn chế về quy mô và địa bàn hoạt động trong những lĩnh vực mà pháp luật không cấm; được tự do lựa chọn hình thức kinh doanh, kể cả liên doanh với nước ngoài theo những điều kiện do luật định” [4] Như vậy, từ chỗ coi kinh tế tư bản tư nhân là một thành phần kinh tế có thể sử dụng nhưng cần
“cải tạo” bằng những bước đi thích hợp, Đại hội VII đã thực sự coi kinh tế tư nhân là một thành phần kinh tế độc lập, có tiềm năng phát triển và đóng góp cho sự phát triển kinh tế đất nước
Đại hội VIII tổng kết 10 năm đổi mới và tổng kết việc thực hiện chính sách phát triển kinh tế tư nhân đã thẳng thắn nhận thấy còn hạn chế, đó là “Chưa giải quyết tốt một số chính sách để khuyến khích kinh tế tư nhân phát huy tiềm năng, đồng thời chưa quản lý tốt thành phần kinh tế này” [5], mặc dù kinh tế tư nhân chiếm tỷ trọng đáng kể trong nền kinh tế Tiếp tục tinh thần đổi mới, Đại hội VIII khẳng định “khuyến khích phát triển các thành phần kinh
tế và hình thức tổ chức kinh doanh” [5] Đại hội VIII cũng khẳng định, kinh tế cá thể, tiểu chủ có vị trí quan trọng lâu dài, do vậy Nhà nước phải giúp đỡ kinh tế cá thể, tiểu chủ giải quyết các khó khăn về vốn, về khoa học, công nghệ, về thị trường tiêu thụ sản phNm; khuyến khích tư bản tư nhân đầu tư vào sản xuất, yên tâm làm ăn lâu dài; bảo hộ quyền sở hữu và lợi ích hợp pháp của kinh tế tư bản tư nhân [5] Trên cơ sở đó, Đại hội VIII đề ra nhiệm vụ nâng cao năng lực, hiệu quả quản lý kinh tế của N hà nước Đối với kinh tế tư nhân, N hà nước cần
“thiết lập khuôn khổ luật pháp, có hệ thống chính sách nhất quán để tạo môi trường ổn định
và thuận lợi cho giới kinh doanh làm ăn phát đạt” [5] Để thực hiện mục tiêu này, quan điểm
Trang 17của Đảng tại Đại hội VIII là khuyến khích mọi thành phần kinh tế, mọi công dân, mọi nhà đầu tư mở mang ngành nghề, tạo nhiều việc làm, mọi công dân tự do hành nghề, thuê mướn nhân công theo pháp luật [5] N hờ những tư tưởng quan trọng này mà kinh tế cá thể, tiểu chủ
đã phát triển nhanh trong lĩnh vực nông, lâm, ngư nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và thương mại, dịch vụ, góp phần quan trọng vào các thành tựu kinh tế - xã hội của đất nước Kinh tế tư bản tư nhân bước đầu được phát triển, mặc dù mới tập trung nhiều ở lĩnh vực thương mại, dịch vụ và kinh doanh bất động sản với quy mô vừa và nhỏ là chủ yếu [5] Đại hội VIII cũng chỉ rõ, các thành phần kinh tế ngoài nhà nước vừa chưa được phát huy mạnh mẽ các tiềm năng, vừa chưa bảo đảm hoạt động có trật tự, kỷ cương theo pháp luật Mặc dù vậy cần mở rộng các hình thức liên doanh, liên kết giữa kinh tế nhà nước với kinh tế tư nhân trong và ngoài nước [5]
Đại hội IX của Đảng tiếp tục khẳng định vai trò, vị trí quan trọng lâu dài của kinh tế
cá thể, tiểu chủ ở thành thị và nông thôn Do vậy, N hà nước tạo điều kiện và giúp đỡ để phát triển Đảng, N hà nước cũng khuyến khích phát triển kinh tế tư bản tư nhân phát triển rộng rãi trong những ngành nghề sản xuất, kinh doanh mà pháp luật không cấm Tạo môi trường kinh doanh thuận lợi về chính sách, pháp lý để kinh tế tư bản tư nhân phát triển trên những hướng ưu tiên của N hà nước, kể cả đầu tư ra nước ngoài [6] Đại hội IX tiếp tục khẳng định: “Thực hiện nhất quán chính sách phát triển nền kinh tế nhiều thành phần Các thành phần kinh tế kinh doanh theo pháp luật đều là bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, cùng phát triển lâu dài, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh; trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, kinh tế nhà nước cùng với kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân” [6] Đại hội IX có bước tiến lớn về nhận thức khi đề ra nhiệm vụ “Sửa đổi, bổ sung hệ thống pháp luật nhằm bảo đảm sự bình đẳng về cơ hội cho mọi tổ chức, cá nhân thuộc các thành phần kinh tế Xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử, bảo đảm cơ hội và khả năng lựa chọn bình đẳng của các thành phần kinh tế trong tiếp cận về vốn, đất đai, lao động, công nghệ trong sản xuất, kinh doanh và xuất, nhập khNu tiến tới xây dựng một luật áp dụng thống nhất cho các loại hình doanh nghiệp khác nhau thuộc các thành phần kinh tế” [7] Đây là bước phát triển về lý luận của Đảng ta đối với kinh tế tư nhân Bởi lẽ, chủ trương phát triển kinh tế tư nhân, chủ trương bình đẳng giữa các thành phần kinh tế được Đảng đề ra từ khi bắt đầu đổi mới (1986) Tuy nhiên đây là lần đầu tiên Đảng ta yêu cầu hiện thực hóa chủ trương bình đẳng về cơ hội trong tiếp cận về vốn, đất đai, lao động, công nghệ trong sản xuất, kinh doanh và xuất, nhập khNu Bởi lẽ, bình đẳng về cơ hội tiếp cận các nguồn vốn đầu tư là một trong những bất cập mà các thành phần kinh tế ngoài kinh
tế nhà nước ở nước ta chưa được thụ hưởng
N hư vậy, từ Đại hội VI đến Đại hội IX quan điểm của Đảng đã có bước nhìn nhận mới về kinh tế tư nhân và đề ra định hướng: Tạo môi trường kinh doanh thuận lợi về chính sách, pháp lý để kinh tế tư bản tư nhân phát triển trên những hướng ưu tiên của N hà nước,
kể cả đầu tư ra nước ngoài; chuyển thành doanh nghiệp cổ phần, bán cổ phần cho người lao động; liên doanh liên kết với nhau với kinh tế tập thể và kinh tế nhà nước
Trang 18Trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng, kinh tế tư nhân ngày càng chứng tỏ được sức mạnh, là một trong các động lực phát triển đất nước, đến Hội nghị Trung ương 5 khóa IX, lần đầu tiên, vấn đề phát triển kinh tế tư nhân đã được đưa ra thảo luận trong một chuyên đề riêng và ra N ghị quyết Về tiếp tục đổi mới cơ chế, chính sách khuyến khích và tạo điều kiện phát triển kinh tế tư nhân Đây là một bước tiến đáng kể về tư duy lý luận và quan điểm, đường lối kinh tế của Đảng ta, thể hiện tính nhất quán của đường lối đổi mới theo hướng kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế, đã tạo nên động lực và sự yên tâm cho các doanh nhân và nhà đầu tư được tự do kinh doanh theo pháp luật
Về mặt quản lý nhà nước, sự phát triển kinh tế tư nhân từng bước được thể chế hóa bằng các nghị định và một số bộ luật, trong đó phải kể đến Luật Doanh nghiệp 1999 có hiệu lực từ 1-1-2000, tồn tại song song với Luật Doanh nghiệp N hà nước, trong đó quy định về việc thành lập, tổ chức quản lý và hoạt động của công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty hợp danh, doanh nghiệp tư nhân…, là các hình thức tổ chức doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế tư nhân Sau 5 năm thực hiện, hai bộ luật này đã được thống nhất chung vào Luật doanh nghiệp 2005, có hiệu lực từ 1-7-2006, cùng các bộ luật
có liên quan như Luật Đất đai, Luật Đàu tư, Luật Thương mại… được sửa đổi, bổ sung theo hướng thống nhất hóa về mặt pháp luật, bảo đảm sự bình đẳng trước pháp luật đối với các thành phần kinh tế
N hờ sự khơi thông về mặt lý luận và mở đường về đường lối, cơ chế, chính sách mà kinh tế tư nhân nước ta vốn có sức sồng bền bỉ, năng động đã được phát triển với tốc độ khá cao, trở thành một trong những lực lượng kinh tế chủ yếu của nền kinh tế quốc dân Đánh giá về vai trò của kinh tế tư nhân, Hội nghị Trung ương 5 khóa IX khẳng định:
“Kinh tế tư nhân là bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế quốc dân Phát triển kinh
tế tư nhân là vấn đề chiến lược lâu dài trong phát triển nền kinh tế nhiều thành phần định hướng xã hội chủ nghĩa, góp phần quan trọng thực hiện thắng lợi nhiệm vụ trung tâm là phát triển kinh tế, công nghiệp hóa, hiện đại hóa, nâng cao nội lực của đất nước trong hội nhập kinh tế quốc tế” [8] Văn kiện Hội nghị Trung ương 9 khóa IX cũng đánh giá một cách lạc quan: “Khu vực kinh tế tư nhân có những bước phát triển vượt bậc so với những năm trước đây, đóng góp nhiều cho việc tạo việc làm mới, tăng thu nhập cho người lao động và cho ngân sách nhà nước” [8]
Tuy nhiên, không chỉ thấy mặt tích cực của kinh tế tư nhân mà không thấy mặt hạn chế, tiêu cực của nó, đó là năng lực kinh tế còn nhỏ bé, trình độ công nghệ và quản lý kinh doanh phần lớn còn yếu kém, sức cạnh tranh còn yếu, còn nhiều tiêu cực trong kinh doanh Mặt khác, sự phát triển kinh tế tư nhân vẫn còn gặp nhiều vướng mắt, lúng túng cả về tư duy
lý luận, quan điểm, chính sách đến thực tiễn, như N ghị quyết Trung ương 5 khóa IX đã nêu:
“Quan điểm của Đảng trên một số vấn đề cụ thể về phát triển kinh tế tư nhân chưa được làm
rõ để có sự thống nhất cao Một số cơ chế, chính sách của N hà nước chưa phù hợp với đặc điểm của kinh tế tư nhân đại bộ phận có quy mô nhỏ và vừa; quản l ý có phần buông lỏng và
có nhiều sơ hở, hạn chế việc thúc đNy kinh tế tư nhân phát triển đúng hướng” [9]
Trang 192.2 Nhận thức mới của Đảng về kinh tế tư nhân là một trong những động lực của nền kinh tế
Đại hội X tổng kết việc thực hiện nghị quyết Đại hội IX về kinh tế tư nhân, xác định:
“Kinh tế tư nhân chưa được tạo đủ điều kiện thuận lợi để phát triển, quy mô còn nhỏ, sức cạnh tranh còn yếu và chưa được quản lý tốt” [9] Trên cơ sở rút kinh nghiệm việc thực hiện nghị quyết Đại hội IX, nhất là N ghị quyết Trung ương 5 (khóa IX), Đại hội X tiếp tục coi kinh tế tư nhân bao gồm kinh tế cá thể, tiểu chủ, tư bản tư nhân và tiếp tục tinh thần bình đẳng cùng các thành phần kinh tế khác trước pháp luật, cùng phát triển lâu dài, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh Đặc biệt, từ tổng kết thực tiễn, lần đầu tiên tại Đại hội X, Đảng có bước đột phá mới trong nhận thức về kinh tế tư nhân: “Kinh tế tư nhân có vai trò quan trọng,
là một trong những động lực của nền kinh tế” [10] Đây là lần đầu tiên kinh tế tư nhân được xác định chính thức với tư cách là một thành phần kinh tế, được khuyến khích phát triển; đồng thời, chấp thuận cho đảng viên được làm kinh tế tư nhân, nhằm phát huy mọi tiềm năng con người của xã hội, tạo động lực thúc đNy kinh tế tư nhân phát triển Đại hội X tiếp tục khẳng định: “Xóa bỏ mọi sự phân biệt đối xử theo hình thức sở hữu” [10] Cũng tại Đại hội X, Đảng ta đã đề ra một kế hoạch phát triển các loại hình doanh nghiệp tư nhân: “Mọi công dân có quyền tham gia các hoạt động đầu tư, kinh doanh với quyền sở hữu tài sản và quyền tự do kinh doanh được pháp luật bảo hộ; có quyền bình đẳng trong đầu tư, kinh doanh, tiếp cận các cơ hội, nguồn lực kinh doanh, thông tin và nhận thông tin Xóa bỏ mọi rào cản, tạo tâm lý xã hội và môi trường kinh doanh thuận lợi cho các loại hình doanh nghiệp của tư nhân phát triển không hạn chế quy mô trong mọi ngành nghề, lĩnh vực, kể cả các lĩnh vực sản xuất kinh doanh quan trọng của nền kinh tế mà pháp luật không cấm” [10]
N hư vậy, có thể nói tại Đại hội X, Đảng ta đã có bước phát triển vượt bậc lý luận về kinh
tế tư nhân Điều này thể hiện ở chỗ: Một là, khẳng định vai trò quan trọng của kinh tế tư nhân với tư cách là một trong những động lực của nền kinh tế nhiều thành phần ở nước ta Hai là, tiếp tục khẳng định quyền bình đẳng của kinh tế tư nhân trong đầu tư, kinh doanh, tiếp cận cơ hội, nguồn lực kinh doanh Ba là, cho phép kinh tế tư nhân phát triển không hạn chế quy mô trong mọi ngành nghề, lĩnh vực, kể cả các lĩnh vực sản xuất kinh doanh quan trọng của nền kinh tế mà pháp luật không cấm Chính những quan điểm lý luận này đã thúc đNy, tạo cơ hội cho kinh tế tư nhân phát huy sức mạnh nội tại và có cơ hội phát triển ở nước ta
Đại hội XI của Đảng tiếp tục khẳng định các thành phần kinh tế ở nước ta đều bình đẳng trước pháp luật, đều là bộ phận quan trọng của nền kinh tế, tồn tại lâu dài, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh, kinh tế tư nhân là một trong những động lực của nền kinh tế,
“Khuyến khích phát triển mạnh mẽ kinh tế tư nhân” [11] Đại hội XI cũng đề ra nhiệm vụ
“Hoàn thiện cơ chế, chính sách để phát triển mạnh kinh tế tư nhân trở thành một trong những động lực của nền kinh tế” [11]; “thúc đNy hình thành các tập đoàn kinh tế tư nhân, khuyến khích tư nhân góp vốn vào các tập đoàn kinh tế nhà nước” [11]; “Phát triển mạnh các loại hình kinh tế tư nhân ở hầu hết các ngành, các lĩnh vực kinh tế theo quy hoạch và quy định của pháp luật” [11] Có thể nói, Đại hội XI đã tiếp tục thực hiện và hiện thực hóa các luận điểm về kinh tế tư nhân mà Đại hội X đã đề ra
Trang 20Trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CN XH (bổ sung phát triển năm 2011) đã khẳng định: “Phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, hình thức tổ chức kinh doanh
và hình thức phân phối Các thành phần kinh tế hoạt động theo pháp luật đều là bộ phận hợp thành quan trọng của nền kinh tế, bình đẳng trước pháp luật, cùng phát triển lâu dài, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh” [12]
Vị thế của KTTN không chỉ được khẳng định trong các văn bản của Đảng mà còn được tiếp tục khẳng định trong Hiến pháp năm 2013:
1 N ền kinh tế Việt N am là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế; kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo
2 Các thành phần kinh tế đều là bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế quốc dân Các chủ thể thuộc các thành phần kinh tế bình đẳng, hợp tác và cạnh tranh theo pháp luật
3 N hà nước khuyến khích, tạo điều kiện để doanh nhân, doanh nghiệp và cá nhân, tổ chức khác đầu tư, sản xuất, kinh doanh; phát triển bền vững các ngành kinh tế, góp phần xây dựng đất nước Tài sản hợp pháp của cá nhân, tổ chức đầu tư, sản xuất, kinh doanh được pháp luật bảo hộ và không bị quốc hữu hóa” [13]
2.3 Nhận thức của Đảng về kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng của nền kinh tế
Đại hội XII tổng kết việc phát triển kinh tế tư nhân theo nghị quyết Đại hội XI, đã chỉ rõ hạn chế: “Hầu hết doanh nghiệp tư nhân quy mô còn nhỏ, thiếu liên kết, khả năng ứng phó với các rủi ro yếu, nhiều doanh nghiệp phải giải thể hoặc ngừng hoạt động” [14] Một trong những nguyên nhân của hạn chế này theo Đại hội XII của Đảng là do “Chưa thật sự phát huy đầy đủ quyền tự do kinh doanh của người dân theo quy định của Hiến pháp, pháp luật” [14]
Sự phát triển mới về nhận thức của Đảng đối với kinh tế tư nhân tại Đại hội XII (tháng 12/2016) đã chính thức xác nhận: Hoàn thiện cơ chế, chính sách khuyến khích, tạo thuận lợi phát triển mạnh kinh tế tư nhân ở hầu hết các ngành và lĩnh vực kinh tế, trở thành động lực quan trọng của nền kinh tế Điểm mới đáng quan tâm ở Đại hội XII so với các kỳ Đại hội trước là sự khẳng định mạnh mẽ, dứt khoát hơn quan điểm của Đảng khi coi “kinh tế tư nhân
là một động lực quan trọng của nền kinh tế” [15] So với Đại hội X, XI, Đại hội XII đã bổ sung thêm tính từ “quan trọng” vào vai trò, vị trí của kinh tế tư nhân Để bảo đảm bình đẳng giữa các doanh nghiệp trên thực tế, Đại hội XII đòi hỏi “Mọi doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế đều phải hoạt động theo cơ chế thị trường, bình đẳng và cạnh tranh theo pháp luật” [15]; “Hoàn thiện cơ chế, chính sách khuyến khích, tạo thuận lợi phát triển mạnh kinh
tế tư nhân ở hầu hết các ngành và lĩnh vực kinh tế, trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế Hoàn thiện chính sách hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp khởi nghiệp Khuyến khích hình thành các tập đoàn kinh tế tư nhân đa sở hữu và tư nhân góp vốn vào các tập đoàn kinh tế nhà nước” [15]
Để hiện thực hóa chủ trương Đại hội XII về phát triển kinh tế tư nhân, Hội nghị Trung ương 5 (khóa XII) đã ra nghị quyết số 10 (03-6-2017) về phát triển kinh tế tư nhân
Trang 21trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Với mục tiêu tổng quát: phát triển kinh tế tư nhân lành mạnh, hiệu quả, bền vững, thực sự trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
N ghị quyết đề ra các mục tiêu cụ thể về chỉ số phát triển kinh tế tư nhân; đưa ra các nhóm giải pháp chủ yếu như: thống nhất nhận thức, tư tưởng, hành động trong triển khai các chủ trương, chính sách về phát triển kinh tế tư nhân; tạo lập môi trường đầu tư, kinh doanh thuận lợi cho phát triển kinh tế tư nhân; hỗ trợ kinh tế tư nhân đổi mới sáng tạo, hiện đại hóa công nghệ và phát triển nguồn nhân lực, nâng cao năng suất lao động; nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước; đổi mới nội dung, phương thức và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, nâng cao vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt N am, các tổ chức chính trị - xã hội,
xã hội - nghề nghiệp đối với kinh tế tư nhân
N ghị quyết Trung ương 5 đã chỉ rõ, kinh tế tư nhân ở nước ta kể từ khi thực hiện N ghị quyết Trung ương 5 (khóa IX) về tiếp tục đổi mới cơ chế, chính sách, khuyến khích tạo điều kiện phát triển kinh tế tư nhân, liên tục duy trì tốc độ tăng trưởng khá, chiếm tỷ trọng 39-40% GDP, thu hút khoảng 85% lực lượng lao động của nền kinh tế, tuy nhiên phát triển kinh tế tư nhân ở nước ta còn nhiều hạn chế Từ tổng kết thực tiễn, N ghị quyết Trung ương 5 (khóa XII) khẳng định: Một là, phát triển kinh tế tư nhân lành mạnh theo cơ chế thị trường là một yêu cầu khách quan; là một biện pháp để giải phóng sức sản xuất, huy động, phân bổ nguồn lực phát triển Hai là, kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng để phát triển kinh tế Ba là, phải xóa
bỏ mọi rào cản, định kiến, tạo mọi điều kiện thuận lợi cho kinh tế tư nhân phát triển lành mạnh, đúng định hướng Bốn là, kinh tế tư nhân được phát triển ở tất cả các ngành, các lĩnh vực mà luật pháp không cấm N ăm là, khuyến khích kinh tế tư nhân tham gia góp vốn, mua cổ phần doanh nghiệp nhà nước khi cổ phần hóa hoặc N hà nước thoái vốn Sáu là, chăm lo giáo dục, bồi dưỡng phát triển, phát huy đội ngũ doanh nhân Việt N am trong xây dựng văn hóa doanh nghiệp, đạo đức kinh doanh [16]
2.4 Một số thành tựu trong nhận thức của Đảng về kinh tế tư nhân trong thời kỳ đổi mới
Thứ nhất, về tư tưởng và nhận thức, từ Đại hội VI, chủ trương của Đảng đã cho phép
phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, đa dạng về hình thức sở hữu và loại hình kinh doanh để phát triển lực lượng sản xuất, mở ra điều kiện thuận lợi cho kinh tế tư nhân phục hồi và phát triển Quan điểm của Đảng về kinh tế tư nhân cho đến nay là nhất quán và liên tục phát triển, hoàn thiện dần qua các kỳ đại hội Sự đa dạng về thành phần kinh tế đã làm cho quan hệ sản xuất phù hợp hơn với tính chất và trình độ phát triển lực lượng sản xuất ở nước ta Đây là tiền đề quan trọng giải phóng sức sản xuất, phát triển kinh tế - xã hội, cải thiện và nâng cao đời sống của nhân dân N hững quan điểm này cần được kế thừa và phát triển trong các giai đoạn tiếp theo
Thứ hai, vị trí, vai trò của kinh tế tư nhân trong nền kinh tế nhiều thành phần được
thừa nhận dần dần qua từng giai đoạn, từ chỗ chỉ là thành phần kinh tế có thể được sử dụng
và cần cải tạo bằng những bước đi thích hợp đến chỗ có vị trí quan trọng lâu dài trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN , được khuyến khích phát triển; từ chỗ là một trong
Trang 22những động lực của nền kinh tế trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế Qua các
kỳ Đại hội Đảng, vị trí và vai trò của khu vực kinh tế tư nhân dần được khẳng định và nhấn mạnh Điển hình như: Văn kiện Đại hội X của Đảng năm 2006 với nhận định: Kinh tế tư nhân là khu vực “có vai trò quan trọng, là một trong những động lực của nền kinh tế”; N ghị quyết Đại hội XI của Đảng năm 2011 cho rằng: “Hoàn thiện cơ chế, chính sách để phát triển mạnh kinh tế tư nhân trở thành một trong những động lực của nền kinh tế”; N ghị quyết Đại hội XII của Đảng năm 2016 cũng chỉ rõ: “Hoàn thiện chế chính sách để tạo thuận lợi phát triển mạnh kinh tế tư nhân ở hầu hết các ngành và lĩnh vực kinh tế, trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế Hoàn thiện chính sách hỗ trợ phát triển doanh nghiệp (DN ) nhỏ
và vừa, DN khởi nghiệp Khuyến khích hình thành các tập đoàn kinh tế tư nhân đa sở hữu và
tư nhân góp vốn vào các tập đoàn kinh tế nhà nước, kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng của nền kinh tế” Chủ trương không phân biệt đối xử giữa các thành phần kinh tế, các chủ thể thuộc các thành phần kinh tế bình đẳng, hợp tác và cạnh tranh theo pháp luật Hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách từng bước được hoàn thiện Quyền tài sản, quyền tự do kinh doanh của cá nhân và tổ chức được thể chế hoá và được pháp luật bảo vệ Phương thức quản lý của N hà nước đối với kinh tế tư nhân được đổi mới phù hợp hơn với cơ chế thị trường Cải cách hành chính, nhất là cải cách thủ tục hành chính được đNy mạnh; môi trường đầu tư, kinh doanh từng bước được cải thiện, thông thoáng, thuận lợi hơn Dân chủ trong đời sống kinh tế - xã hội ngày càng được phát huy Hội nghị Trung ương 5 khóa XII (tháng 5/2017) đã ban hành N ghị quyết về phát triển kinh tế tư nhân, với mục tiêu phát triển kinh tế
tư nhân trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đưa kinh tế tư nhân phát triển nhanh, bền vững, đa dạng với tốc độ tăng trưởng cao cả
về số lượng, quy mô, chất lượng và tỷ trọng trong tổng sản phNm nội địa (GDP) N ghị quyết được đánh giá là một bước tiến mới, tạo động lực thúc đNy phát triển cho khu vực kinh tế tư nhân và toàn bộ nền kinh tế Vai trò, vị trí của kinh tế tư nhân trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế ngày càng được nhận thức rõ hơn và đánh giá đúng hơn Kinh tế tư nhân ngày càng đóng góp lớn hơn trong huy động các nguồn lực xã hội cho đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh, tăng trưởng kinh tế, cơ cấu lại nền kinh tế, tăng thu ngân sách nhà nước, tạo việc làm, cải thiện đời sống nhân dân, bảo đảm an sinh xã hội, giải quyết các vấn đề xã hội
Thứ ba, những đóng góp ngày càng quan trọng của khu vực kinh tế tư nhân cho
nền kinh tế Việt N am trong thời kỳ đổi mới cũng được Đảng ghi nhận qua quá trình phát triển của khu vực kinh tế này N ếu ban đầu chỉ hoạt động trong những ngành, những lĩnh vực “có lợi cho quốc kế dân sinh”, góp phần tạo ra sản phNm cho ba chương trình kinh tế lớn của Đại hội VI, thì từ những năm 2000 trở đi, kinh tế tư nhân đã được Đảng đánh giá là lực lượng đóng góp quan trọng vào phát triển kinh tế, huy động các nguồn lực xã hội vào sản xuất, kinh doanh, góp phần giữ vững ổn định chính trị - xã hội của đất nước Tỷ trọng trong GDP của khu vực kinh tế tư nhân, bao gồm cả kinh tế
cá thể luôn duy trì ổn định trong khoảng 39-40% Bước đầu đã hình thành được một số tập đoàn kinh tế tư nhân có quy mô lớn, hoạt động đa ngành, có khả năng cạnh tranh tốt hơn trên thị trường trong nước và quốc tế; đội ngũ doanh nhân ngày càng lớn mạnh
Trang 23Số lượng DN của tư nhân tăng nhanh với nhiều loại hình đa dạng; phong trào khởi nghiệp được đNy mạnh…Mức độ đóng góp vào tổng sản phNm trong nước của kinh tế
tư nhân luôn chiếm tỷ trọng lớn và tăng liên tục trong những năm qua Tính đến nay, cả nước có khoảng trên 500.000 DN tư nhân đang hoạt động và mỗi năm có thêm hàng vạn DN được thành lập mới; Thu hút khoảng 51% lực lượng lao động cả nước và tạo khoảng 1,2 triệu việc làm cho người lao động mỗi năm, góp phần quan trọng vào quá trình tái cấu trúc nền kinh tế, tăng thu nhập cho người dân…Đặc biệt, khu vực kinh tế
tư nhân ngày càng trở thành động lực quan trọng của nền kinh tế, với đầu tư khu vực tư nhân năm 2018 tăng 18,5% so với năm trước chiếm tới 43,3 % tổng đầu tư xã hội (tính theo giá hiện hành ước tính đạt 1.856,6 nghìn tỷ đồng, tăng 11,2% so với năm trước và bằng 33,5% GDP) Tăng trưởng xuất khNu của khu vực trong nước đạt 17%, cao hơn mức 14% của khu vực FDI N ăm 2018, ngoài khoảng gần 21,2 nghìn hợp tác xã và 61 liên hiệp hợp tác xã, trong đó có 13 nghìn hợp tác xã hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp, thu hút 6,4 triệu thành viên tham gia, cả nước có 131.275 doanh nghiệp đăng
ký thành lập mới với tổng vốn đăng ký là 1.478,1 nghìn tỷ đồng, tăng 3,5% về số doanh nghiệp và tăng 14,1% về số vốn đăng ký so với năm 2017; vốn đăng ký bình quân một doanh nghiệp thành lập mới đạt 11,3 tỷ đồng, tăng 10,2%
Thứ tư, để thúc đNy kinh tế tư nhân phát triển, Đảng đã có nhiều chủ trương,
chính sách tập trung vào hoàn thiện môi trường thể chế, chính sách, môi trường tâm lý
xã hội trong quá trình xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng XHCN Với nhận thức rõ ràng là: để kinh tế tư nhân phát triển thì điều quan trọng mấu chốt là hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường, Đảng đã đề ra các định hướng cơ bản hoàn thiện thể chế kinh
tế thị trường định hướng XHCN , trong đó nhấn mạnh về hoàn thiện thể chế sở hữu, phát triển các thành phần kinh tế, các loại hình doanh nghiệp và các tổ chức sản xuất - kinh doanh, hoàn thiện thể chế bảo đảm đồng bộ các yếu tố thị trường và phát triển đồng bộ các loại thị trường
Thứ năm, về định hướng phát triển cho khu vực kinh tế tư nhân, trong khi khẳng định
kinh tế tư nhân là thành phần kinh tế có vị trí quan trọng lâu dài trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN , Đảng và N hà nước cũng khuyến khích các doanh nghiệp tư nhân chuyển thành doanh nghiệp cổ phần, các tập đoàn kinh tế lớn, bán cổ phần cho người lao động, liên doanh, liên kết với nhau, với kinh tế tập thể và kinh tế nhà nước, trở thành kinh tế tư bản nhà nước Với các hộ cá thể, tiểu chủ, N hà nước tạo điều kiện, hỗ trợ để phát triển lên quy mô lớn hơn hoặc liên kết hình thành các tổ hợp tác tự nguyện, làm vệ tinh cho doanh nghiệp Định hướng này phù hợp với xu thế xã hội hóa lực lượng sản xuất và cũng cho thấy sự thống nhất trong quan điểm, nhận thức của Đảng về sự cần thiết tồn tại cũng như xu thế phát triển kinh tế
tư nhân trong nền kinh tế thị trường ở Việt N am
Thứ sáu, quan điểm, đường lối của Đảng về kinh tế tư nhân và khuyến khích tạo điều
kiện phát triển kinh tế tư nhân qua 30 năm đổi mới đã có sự phát triển, hoàn thiện trên nền tảng nhất quán coi trọng sự tồn tại lâu dài của nền kinh tế nhiều thành phần trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội
Trang 24tế N hà nước cùng với kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân (Đại hội X) đến việc xác định KTTN đều là bộ phận hợp thành quan trọng của nền kinh tế (Đại hội XI) rồi nay đã “sánh” với các thành phần kinh tế khác: KTTN trở thành một trong những động lực của nền kinh tế (Đại hội XII) N ghị quyết Trung ương lần thứ 5 (khóa XII) còn tiếp tục khẳng định: Phát triển kinh tế tư nhân trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Đây là kết quả tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận, học hỏi kinh nghiệm quốc tế của Đảng ta về phát triển kinh tế tư nhân
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Đảng Cộng sản Việt N am (2010): Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc thời kỳ đổi mới,
N XB Chính trị quốc gia, Hà N ội, Phần I, tr.21, 20, 53, 41
2 Đảng Cộng sản Việt N am (2013): Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc thời kỳ đổi mớ và hội nhập, N XB Chính trị quốc gia, Hà N ội, tr.43, 43, 46, 53
3 Đảng Cộng sản Việt N am (2013): Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc thời kỳ đổi mớ và hội nhập, N XB Chính trị quốc gia, Hà N ội, tr 43, 197
4 Đảng Cộng sản Việt N am (2013): Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc thời kỳ đổi mớ và hội nhập, N XB Chính trị quốc gia, Hà N ội, tr 197
5 Đảng Cộng sản Việt N am (1993): Văn kiện Hội nghị lần thứ hai Ban chấp hành Trung ương khóa VII, N XB Chính trị quốc gia, Hà N ội, tr.75
6 Đảng Cộng sản Việt N am (1996): Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, N XB
Chính trị quốc gia, Hà N ội, tr.65-66, 92 96, 103-104, 114, 158, 164-169
7 Đảng Cộng sản Việt N am (2001): Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, N XB
Chính trị quốc gia, Hà N ội, tr 31, 95-96,
8 Đảng Cộng sản Việt N am (2001): Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, N XB
Chính trị quốc gia, Hà N ội, tr 320- 321
9 Đảng Cộng sản Việt N am (2002): Văn kiện Hội nghị lần thứ năm Ban chấp hành Trung ương khóa IX, N XB Chính trị quốc gia, Hà N ội, tr 57-58, 23-24
10 Đảng Cộng sản Việt N am (2002): Văn kiện Hội nghị lần thứ năm Ban chấp hành Trung ương khóa IX, N XB Chính trị quốc gia, Hà N ội, tr 56
11 Đảng Cộng sản Việt N am (2006): Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, N XB
Chính trị quốc gia, Hà N ội, tr.165, 83, 84, 86
Trang 2512 Đảng Cộng sản Việt N am (2011): Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, N XB
Chính trị quốc gia, Hà N ội, tr.36, 101, 110 -111, 209
13 Đảng Cộng sản Việt N am (2011): Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, N XB
Chính trị quốc gia, Hà N ội, tr.73
14 Quốc Hội (2013): Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Chương III, Điều 51
15 Đảng Cộng sản Việt N am (2016): Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, N XB
Chính trị quốc gia, Hà N ội, tr.99, 101
16 Đảng Cộng sản Việt N am (2016): Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, N XB
Chính trị quốc gia, Hà N ội, tr 25 và 103, 105, 108
17 Đảng Cộng sản Việt N am (2017): Văn kiện Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương khóa XII, Hà N ội, tr 94-97
Trang 26SỰ THAM GIA CỦA KINH TẾ TƯ NHÂN TRONG PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP Ở VIỆT NAM
TS Đỗ Thị Diệu
Trường Đại học Lâm nghiệp Việt Nam, Hà Nội
Tóm tắt: Kinh tế tư nhân phát triển mạnh mẽ là nền tảng quan trọng đóng góp rất lớn
cho nền kinh tế Việt Nam nói chung và cho ngành nông nghiệp nói riêng Sự tham gia của khu vực kinh tế này trong ngành nông nghiệp đang phải đối mặt với nhiều khó khăn
và thách thức, đòi hỏi phải có sự tổng kết, đánh giá một cách có hệ thống; tuy nhiên cho đến nay đây vẫn là một khoảng trống về mặt lý thuyết và thực tiễn dành cho các nhà nghiên cứu và quản lý Với lý do như vậy, bài viết này không những tìm ra câu trả lời cho vấn đề đã nêu mà còn đưa ra các giải pháp mang tính thực tiễn nhằm thúc đẩy sự tích cực tham gia của kinh tế tư nhân vào phát triển nền nông nghiệp hàng hóa, ứng dụng công nghệ tiên tiến
Từ khóa: doanh nghiệp; đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI); hộ gia đình; hợp tác xã, kinh tế
tư nhân; kinh tế thị trường định hướng XHCN; nông nghiệp; thu hút đầu tư
PRIVATE-SECTOR ENAGAGEMENT
IN THE VIETNAM’S AGRICULTURE DEVELOPMENT
Abstract: The strong development of the private economic area creates an important
foundation for the Vietnamese economy generally, and for the agricultural sector particularly The the involvement of the private sector in agriculture, forestry and aquaculture is facing many difficulties and challenges, requiring systematic summation and evaluation; however, this is still a theoretical and practical gaps for researchers and governors For this reason, the paper not only finds the answer to the stated problem but also provides practical solutions to promote the active participation of the private sector
to the development of Vietnam’s market-orionted and hi-tech agriculture
Keywords: agriculture; cooperatives; investment attraction; farm households/ farmers;
enterprises; Foreign Direct Investment (FDI); private-sector; socialism-oriented market economy
1 ĐẶT VẤN ĐỀ
Việt N am là một nước có tiềm năng rất lớn về tài nguyên thiên nhiên và con người cho phát triển sản xuất nông nghiệp (hiểu theo nghĩa rộng bao gồm cả trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy, diêm nghiệp) nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng gia tăng
về an ninh lương thực và xuất khNu Về quy mô đất đai, tổng diện tích đất nông nghiệp
Trang 27hiện nay là 27,268 triệu ha, chiếm tới 82,3% tổng diện tích cả nước (trong đó đất sản xuất nông nghiệp chiếm 42,2%, đất lâm nghiệp chiếm 54,7%, đất nuôi trồng thủy sản chiếm 2,9%) [11] Diện tích đất sản xuất nông nghiệp phân bố rộng khắp trên địa bàn cả nước, kết hợp với các điều kiện về thổ nhưỡng, khí hậu, thủy văn… hình thành nên các vùng sinh thái nông nghiệp với các sản phNm nông lâm sản mang tính đặc trưng vùng miền Với quy
mô dân số 96,2 triệu người (đứng thứ ba trong khu vực Đông N am Á - chỉ sau Indonesia
và Philippines và đứng thứ 15 trên Thế giới), trong đó có tới 65,6% dân số cư trú ở khu vực nông thôn [2], Việt N am vừa là một thị trường tiêu thụ nông sản lớn, nhưng đồng thời cũng là một thị trường cung cấp lao động tiềm năng cho phát triển sản xuất nông nghiệp
N ông nghiệp ở Việt N am mặc dù tỷ trọng đóng góp trong GDP ngày càng giảm từ gần 40% (những năm 1990) xuống dưới 15% (tính đến hết năm 2018) nhưng là một ngành luôn nhận được sự quan tâm hàng đầu từ Đảng, Chính phủ và toàn thể xã hội Tuy nhiên, trên thực tế, ngành nông nghiệp chưa thực sự tận dụng được hết các tiềm năng sẵn có, chưa nắm bắt có hiệu quả các thời cơ, vận hội mới từ hội nhập kinh tế quốc tế (WTO, FTA ), rất cần có những
“cú huých” về thể chế, chính sách thu hút các thành phần kinh tế, đặc biệt là kinh tế tư nhân, đầu tư phát triển nông nghiệp, nông thôn
Khu vực tư nhân chính thức được công nhận là một bộ phận cấu thành của nền kinh
tế thị trường định hướng XHCN và của nền kinh tế nhiều thành phần kể từ khi ban hành chính sách Đổi Mới tại Đại hội Đảng lần thứ VI (1986) Sau hơn 30 năm thực hiện, để phát triển kinh tế tư nhân trong tình hình mới, Hội nghị lần thứ năm BCH Trung ương Đảng
khóa XII đã ban hành N ghị quyết số 10-N Q/TW ngày 03/6/2017 “Về phát triển kinh tế tư nhân trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN”
Qua hơn hai năm thực hiện, N ghị quyết 10-N Q/TW đã từng bước được thể chế hóa, đi vào thực hiện và bước đầu phát huy tác dụng thúc đNy kinh tế tư nhân phát triển nhanh hơn và đóng vai trò ngày càng quan trọng trong nền kinh tế, nhất là góp phần thúc đNy tăng trưởng kinh tế, thương mại, đầu tư, tăng thu ngân sách nhà nước, tạo việc làm, cải thiện an sinh xã hội, đồng thời góp phần hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN [1], [7]
Kinh tế tư nhân phát triển mạnh mẽ là nền tảng quan trọng đóng góp rất lớn cho nền kinh tế Việt N am nói chung và cho ngành nông nghiệp nói riêng Thời gian qua, môi trường kinh doanh trong nước đã có những cải thiện rõ rệt, cộng đồng doanh nghiệp được thụ hưởng nhiều kết quả về cải cách thông qua việc cắt giảm điều kiện đầu tư kinh doanh, đơn giản hóa thủ tục hành chính và các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp phát triển Làn sóng khởi nghiệp hình thành đã huy động được nguồn vốn cho nền kinh tế (số DN thành lập mới năm 2016 - hơn 110 ngàn DN ; năm 2017 - 127 ngàn DN ; năm 2018 - 131 ngàn DN ), nếu tính chung cả vốn đăng ký mới và vốn đăng ký tăng thêm thì năm 2018 ước tính các doanh nghiệp bổ sung cho nền kinh tế gần 3,9 triệu tỷ đồng [6]
Trong lĩnh vực nông nghiệp, mặc dù Đảng, N hà nước đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách rất cụ thể nhằm thu hút, khuyến khích doanh nghiệp đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh nông nghiệp nhưng còn chậm trễ trong tổ chức thực hiện dẫn tới doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn, vướng mắc trong đầu tư Số lượng doanh nghiệp
Trang 28tư nhân hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp chỉ chiếm khoảng 1,2%, trong tổng số hơn 500 ngàn doanh nghiệp đang hoạt động Bên cạnh đó, cả nước hiện có tới gần 10 triệu hộ nông dân, đa số sản xuất kinh doanh quy mô nhỏ lẻ, manh mún Sự liên kết giữa các hộ nông dân với nhau, giữa hộ nông dân với doanh nghiệp, giữa doanh nghiệp với doanh nghiệp trong chuỗi giá trị nông sản chưa vững chắc Vai trò hạt nhân của các doanh nghiệp, chủ yếu là doanh nghiệp tư nhân, trong đầu tư phát triển nông nghiệp, nông thôn chưa được quan tâm đúng mức
Xuất phát từ những vấn đề thực tiễn nêu trên, bài viết này nhằm làm rõ hơn thực trạng tham gia của kinh tế tư nhân trong phát triển nông nghiệp ở Việt N am, những giải pháp tháo gỡ nhằm thu hút đầu tư và tạo động lực phát triển nông nghiệp, nông dân và nông thôn trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng Trong bài viết này, chúng tôi chủ yếu sử dụng phương pháp phân tích tổng hợp, dựa trên các nguồn tài liệu thứ cấp Cơ sở dữ liệu sử dụng bao gồm các số liệu thống kê; các báo cáo tổng kết đánh giá của cơ quan chức năng trong lĩnh vực nông nghiệp; các bài báo khoa học; các báo cáo chuyên đề; sách chuyên khảo trong nước và quốc tế liên quan đến chủ đề kinh
tế tư nhân và lĩnh vực nông nghiệp Thuật ngữ “ngành nông nghiệp” sử dụng trong bài viết này được hiểu theo nghĩa rộng, bao gồm cả các hoạt động sản xuất kinh doanh nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản
2 CƠ SỞ PHÁP LÝ CHO PHÁT TRIỂN KINH TẾ TƯ NHÂN TRONG LĨNH VỰC NÔNG NGHIỆP
Khái niệm kinh tế tư nhân hiện nay vẫn chưa được thống nhất Tuy nhiên, hiểu theo nghĩa rộng, kinh tế tư nhân được sử dụng để phân biệt với kinh tế N hà nước Theo đó, kinh tế tư nhân là khu vực kinh tế nằm ngoài khu vực kinh tế nhà nước, bao gồm các doanh nghiệp trong và ngoài nước, trong đó tư nhân nắm giữ trên 50% vốn đầu tư Kinh tế tư nhân là tất cả các cơ sở sản xuất kinh doanh không dựa trên nền tảng sở hữu nhà nước về các yếu tố của quá trình sản xuất Theo nghĩa hẹp hơn, kinh
tế tư nhân là thành phần kinh tế được hình thành và phát triển dựa trên sở hữu tư nhân
về tư liệu sản xuất và lợi ích cá nhân
N ghị quyết số 14-N Q/TW ngày 18/3/2002 của Hội nghị BCH Trung ương Đảng lần thứ
5 khóa IX đã chỉ rõ: “Kinh tế tư nhân gồm kinh tế cá thể, tiểu chủ và kinh tế tư bản tư
nhân, hoạt động dưới hình thức hộ kinh doanh cá thể và các loại hình doanh nghiệp tư nhân” [3]
Với khái niệm này kinh tế tư nhân bao gồm những nội dung sau: 1) Về lĩnh vực sản xuất kinh doanh: Kinh tế tư nhân bao gồm những hộ gia đình, doanh nghiệp tư nhân tham gia vào các hoạt động sản xuất kinh doanh như nông nghiệp, công nghiệp, giao thông vận tải, xây dựng, chế biến nông lâm sản, đánh bắt và chế biến thuỷ sản, thương mại và dịch vụ du lịch trừ
an ninh quốc phòng; 2) Về mô hình tổ chức: Kinh tế tư nhân gồm các hộ sản xuất kinh doanh
cá thể và các doanh nghiệp tư nhân (doanh nghiệp tư nhân, công ty TN HH, công ty cổ phần, công ty hợp danh) N goài ra gồm cả phần đầu tư của tư nhân vào khu vực kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài [9], [12]
Trang 29Sau hơn 30 năm thực hiện đường lối phát triển kinh tế thị trường (dựa trên nền tảng đa sở hữu với nhiều thành phần kinh tế) theo định hướng XHCN , nhất là từ khi thực hiện N ghị quyết Trung ương 5 khoá IX "Về tiếp tục đổi mới cơ chế, chính sách, khuyến khích và tạo điều kiện phát triển kinh tế tư nhân", khu vực kinh tế tư nhân đã không ngừng phát triển, đóng góp ngày càng lớn hơn vào sự nghiệp đổi mới và phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Tuy nhiên, trong quá trình triển khai thực hiện, thực tiễn đã bộc lộ những bất cập cơ bản, được Hội nghị BCH Trung ương Đảng lần thứ 5
khóa XII chỉ rõ như sau: 1) Hệ thống pháp luật, các cơ chế, chính sách khuyến khích kinh tế tư nhân phát triển còn nhiều bất cập, thiếu đồng bộ; 2) Kinh tế tư nhân chưa đáp ứng được vai trò là một động lực quan trọng của nền kinh tế; 3) Vi phạm pháp luật
và cạnh tranh không lành mạnh trong kinh tế tư nhân còn khá phổ biến [4]
Chính vì vậy, Hội nghị Trung ương 5 khóa XII của Đảng đã thông qua N ghị quyết
số 10-N Q/TW ngày 03/6/2017 về phát triển kinh tế tư nhân trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới,
với mục tiêu tổng quát là “Phát triển kinh tế tư nhân lành mạnh, hiệu quả, bền vững, thực sự trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, góp phần phát triển kinh tế - xã hội nhanh, bền vững, không ngừng nâng cao đời sống của nhân dân, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội, bảo đảm quốc phòng,
an ninh, sớm đưa nước ta trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại” N ghị
quyết 10-N Q/TW đặt ra mục tiêu phát triển mạnh khu vực kinh tế tư nhân, phấn đấu đến năm 2020 có ít nhất 1 triệu doanh nghiệp; đến năm 2025 có hơn 1,5 triệu doanh nghiệp để đến năm 2030, cả nước sẽ có 2 triệu doanh nghiệp, chủ yếu là DN TN ; Tỷ trọng đóng góp của kinh tế tư nhân vào GDP chiếm khoảng 60-65% [4]
Căn cứ vào các mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp tại N ghị quyết số 10-N Q/TW khóa XII, Chính phủ đã ban hành N ghị quyết số 98/N Q-CP ngày 03/10/2017 về chương trình hành động của Chính phủ nhằm nhanh chóng đưa N ghị quyết số 10-N Q/TW vào thực tiễn cuộc sống Trong lĩnh vực nông nghiệp và phát triển nông thôn, Chính phủ ban hành một loạt các văn bản quy phạm pháp luật tạo hành lang pháp lý và đòn bNy khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh nông lâm nghiệp theo hướng hiệu quả, an toàn và bền vững Cụ thể:
- N ghị định số 98/2018/N Đ-CP ngày 05/07/2018 về Chính sách khuyến khích phát triển hợp tác, liên kết trong sản xuất và tiêu thụ sản phNm nông nghiệp
- N ghị định số 57/2018/N Đ-CP ngày 17/04/2018 về cơ chế, chính sách khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn
- Thông tư số 04/2018/TT-BKHĐT ngày 06/12/2018 hướng dẫn thực hiện N ghị định số 57/2018/N Đ-CP ngày 17/4/2018 của Chính phủ về cơ chế, chính sách khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn
- N ghị quyết số 53/N Q-CP ngày 17/07/2019 về giải pháp khuyến khích, thúc đNy doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp hiệu quả, an toàn và bền vững
Trang 303 SỰ THAM GIA CỦA KINH TẾ TƯ NHÂN ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN QUA
N gành nông nghiệp đã và đang thể hiện là một trong những trụ cột quan trọng, trở thành một động lực tăng trưởng mạnh mẽ của nền kinh tế; không những đảm bảo
an ninh lương thực cho quy mô dân số 96,2 triệu người, mà còn xuất khNu mang lại nguồn thu ngoại tệ cho đất nước
Nguồn: Tổng hợp và tính toán của Tác giả từ Niên giám thống kê qua các năm 2009-2018
của Tổng cục Thống kê
Hình 01 Đóng góp của ngành Nông nghiệp vào GDP cả nước giai đoạn 2009-2018
Theo các số liệu của Tổng cục Thống kê và các bộ ngành, năm 2018 vừa qua, GDP ngành nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản đạt giá trị 813,7 ngàn tỷ đồng cao nhất trong 10
năm trở lại đây (2009-2018) (Hình 01), tăng 5,9% so với năm 2017; tỷ lệ che phủ rừng đạt
41,65%; kim ngạch xuất khNu đạt 40,02 tỷ USD; thặng dư thương mại đạt 8,72 tỷ USD; tiếp tục duy trì 10 nhóm mặt hàng có kim ngạch xuất khNu hơn một tỷ USD; trong đó có 5 mặt hàng có kim ngạch hơn 3 tỷ USD gồm: gỗ và sản phNm gỗ 8,86 tỷ USD; tôm 3,59 tỷ USD; rau quả 3,81 tỷ USD; cà phê 3,46 tỷ USD; hạt điều 3,43 tỷ USD Việt N am đang khẳng định
vị thế là cường quốc về xuất khNu nông sản trên thế giới (đứng thứ 15 và đã xuất khNu sang hơn 180 quốc gia và vùng lãnh thổ) [5], [11] Mặc dù vậy, tỷ trọng đóng góp ngành nông lâm nghiệp, thủy sản vào GDP cả nước có xu hướng giảm dần, từ 19,17% năm 2009 xuống
14,68% năm 2018 (Hình 01), phù hợp với sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế của cả nước
N gành nông nghiệp đạt được mức tăng trưởng như trên nhờ sự tham gia trực tiếp của các nông hộ, các doanh nghiệp trong nước, các hợp tác xã, doanh nghiệp FDI vào một hay một số công đoạn trong quá trình sản xuất kinh doanh nông lâm nghiệp và thủy sản; tạo lập mạng lưới các chuỗi cung ứng và từng bước hình thành các chuỗi giá trị hàng hóa
Trang 31nông lâm nghiệp và thủy sản Trong những năm vừa qua, mặc dù sản xuất được cơ cấu lại theo hướng mở rộng quy mô với chính sách dồn điền đổi thửa, nhưng sản xuất nhỏ vẫn phổ biến Số doanh nghiệp và hợp tác xã tăng và số hộ liên tục giảm (do chuyển đổi sang sản xuất công nghiệp, thương mại, dịch vụ), nhưng đến nay hộ vẫn là đơn vị sản xuất cơ bản, chiếm tỷ trọng lớn
a) Các hộ sản xuất kinh doanh nông lâm nghiệp (farm households): Theo Tổng
cục Thống kê [10], cả nước hiện nay có khoảng 8,6 triệu hộ sản xuất nông lâm nghiệp, thủy sản (chiếm 53,66% tổng số hộ nông thôn cả nước) Đa số các hộ tổ chức sản xuất ở quy mô nhỏ: có tới 49,6% số hộ có diện tích đất sản xuất dưới 0,5 ha, 31,9% số hộ có diện tích đất sản xuất từ 0,5 đến dưới 2 ha, 10,5% số hộ có diện tích đất sản xuất từ 2 đến dưới
5 ha Diện tích đất sản xuất nông nghiệp bình quân hộ có sử dụng của cả nước chỉ đạt 5.805 m2/hộ, trong đó hộ trồng cây hằng năm 4.466 m2/hộ; hộ trồng lúa 3.468 m2/hộ; hộ trồng cây lâu năm 4.830 m2/hộ
Nguồn: Tổng hợp và tính toán của Tác giả từ Bộ KH&ĐT [6] và Tổng cục Thống kê [11]
Hình 02 Sự biến động số lượng doanh nghiệp NLN-TS giai đoạn 2016-2018
b) Các doanh nghiệp ngoài nhà nước (Non-State Enterprises): Số lượng doanh
nghiệp hoạt động trong lĩnh vực nông, lâm nghiệp và thủy sản có sự tăng trưởng đáng kể
qua 3 năm gần đây (2016-2018), nhưng cũng đầy biến động (Hình 02) N ăm 2018, cả nước
có 1.847 doanh nghiệp N LN -TS thành lập mới (giảm nhẹ so với năm 2017 - 1.955 doanh nghiệp), chỉ chiếm 1,41% tổng số doanh nghiệp được thành lập trên cả nước Số doanh nghiệp N LN -TS đang hoạt động là 10.766 doanh nghiệp, chiếm 1,51% trong tổng số doanh nghiệp cả nước đang hoạt động Trong số đó, có khoảng 5.400 doanh nghiệp đang hoạt động có kết quả sản xuất kinh doanh hàng năm tạo công ăn việc làm cho khoảng 260 ngàn lao động với thu nhập bình quân 5,2 triệu đồng/người/tháng; thu hút lượng vốn bình quân ở mức khá thấp so với các ngành khác, chỉ khoảng 330 ngàn tỷ đồng cho lĩnh vực
Trang 32nông lâm nghiệp và thủy sản Khác với lĩnh vực công nghiệp, thương mại - dịch vụ, sản xuất kinh doanh nông lâm nghiệp và thủy sản có khả năng sinh lợi thấp, rủi ro cao do quá trình sản xuất phụ thuộc phần lớn vào các yếu tổ tự nhiên, chu kỳ sản xuất dài, sản xuất manh mún, phân bố trên địa bàn rộng lớn, khó dự báo thị trường dẫn tới nhiều doanh nghiệp phải tạm dừng hoạt động kinh doanh có thời hạn (404 DN ), tạm dừng hoạt động kinh doanh không đăng ký hoặc chờ giải thể (1.187 DN ) hoặc giải thể (393 DN ) [6], [11]
Tỷ lệ doanh nghiệp nông lâm nghiệp và thủy sản phải ngưng hoạt động, phá sản khá cao cho thấy sự phát triển thiếu bền vững của các doanh nghiệp này
Mặc dù vậy, trong mấy năm trở lại đây, lĩnh vực nông nghiệp công nghệ cao bắt đầu thu hút sự quan tâm đầu tư của các công ty/ tập đoàn tư nhân lớn trong nước như: Vingroup, TH True Milk, Hoàng Anh Gia Lai, PAN Group, Tập đoàn N utiFood, Hòa Phát, Trường Hải Auto, FPT, Công ty Elcom, Vinaseed, Thaco, Mía đường Lam Sơn, Công ty Lộc Trời Bên cạnh các công ty/ tập đoàn lớn, các doanh nghiệp vừa và nhỏ cũng đang hướng tới đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp công nghệ cao, đặc biệt là hướng tới N ông nghiệp 4.0
c) Các hợp tác xã, tổ hợp tác nông nghiệp (Agricultural Cooperatives/ Groups): Trong
nền kinh tế thị trường mở cửa hội nhập, mức độ cạnh tranh đối với các hàng hóa nông lâm thủy sản ngày càng gay gắt, người nông dân và những hộ sản xuất nông nghiệp nhỏ phải đối mặt với rất nhiều rủi ro Các hợp tác xã (HTX) kiểu mới đã giúp họ giảm thiểu những rủi ro, thua thiệt trên thị trường, gia tăng lợi ích thông qua liên kết hữu cơ trong chuỗi giá trị nông sản, từ đó cải thiện đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội, nâng cao tinh thần hợp tác của cộng đồng Hiện nay, cả nước có 22.456 hợp tác xã (tăng 8% so với năm 2017), trong đó có 13.712 HTX nông nghiệp (chiếm tới 61,1% tổng số HTX của cả nước; tăng 14,6% so với năm 2017), tỷ lệ HTX nông nghiệp hoạt động có hiệu quả gần 50% (năm 2017 là 33%); khoảng 30% HTX nông nghiệp cung ứng cả dịch vụ đầu vào và đầu ra cho các thành viên; có khoảng 15% tổng số HTX nông nghiệp sản xuất gắn với chuỗi giá trị Bên cạnh đó, cả nước có 69.520 tổ hợp tác nông nghiệp, tăng 9,67% so với năm 2017 Phần lớn HTX nông nghiệp có nhận thức và nhu cầu sản xuất, kinh doanh gắn với chuỗi giá trị để phát triển bền vững, nhiều HTX nông nghiệp đã huy động các nguồn lực, xúc tiến thương mại thị trường trong nước và xuất khNu Khu vực kinh tế hợp tác, HTX và các thành viên đóng góp cho tăng trưởng kinh tế, qui mô và tỷ trọng có xu hướng tăng; cung ứng hàng hóa tiêu dùng cho ổn định giá cả thị trường, là thành tố đóng góp tích cực cho tái cơ cấu nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững; các HTX nông nghiệp và phi nông nghiệp là đầu mối liên kết với các doanh nghiệp hình thành các chuỗi giá trị Các tổ hợp tác, HTX, liên hiệp HTX ở vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số góp phần nâng cao trình độ sản xuất, tạo việc làm và thu nhập, góp phần đảm bảo an sinh xã hội, phát triển hệ thống chính trị, củng cố an ninh quốc phòng [8]
d) Các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI Enterprises): Xu hướng toàn cầu
hóa, hội nhập kinh tế quốc tế là giúp đNy nhanh dòng lưu chuyển vốn trên thế giới, đặc biệt là dòng vốn FDI Với lợi thế về nguồn vốn, về khoa học và công nghệ cũng như kinh nghiệm và trình độ quản lý, dòng vốn FDI được kỳ vọng giúp các nền kinh tế phát triển hơn, đặc biệt là ở các nước đang phát triển Ở Việt N am, vốn FDI là bổ sung nguồn vốn cho phát triển nông
Trang 33nghiệp và nông thôn, góp phần thúc đNy chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp và kinh tế nông thôn theo hướng sản xuất hàng hóa có chất lượng Tuy nhiên, thực tế cho thấy, dòng vốn
FDI vào khu vực nông nghiệp ở nước ta còn rất hạn chế (Hình 03) Theo số liệu từ Cục Đầu tư
nước ngoài (Bộ Kế hoạch và Đầu tư), năm 2018, vốn FDI thực hiện đạt 19,1 tỷ USD, tăng 9,1% so với năm 2017, chiếm 22% tổng vốn đầu tư xã hội Về vốn đăng ký, tính đến ngày 20/12/2018, cả nước có 3.046 dự án mới với vốn đăng ký gần 18 tỷ USD, bằng 84,5% năm 2017; có 1.169 lượt dự án điều chỉnh tăng vốn 7,59 tỷ USD, bằng 90,3%; 6.496 lượt góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài với 9,89 tỷ USD, tăng 59,8% so với 2017 Tổng vốn đăng ký mới, tăng thêm và góp vốn mua cổ phần đạt 35,46 tỷ USD, bằng 98,8% năm 2017 Các nhà đầu tư nước ngoài đã đầu tư vào 18 ngành lĩnh vực, trong đó chủ yếu đầu tư vào lĩnh vực công nghiệp, thương mại – dịch vụ, đầu tư FDI vào lĩnh vực nông lâm nghiệp và thủy sản còn quá khiêm tốn Tính lũy kế các dự án còn hiệu lực đến ngày 20/12/2018, số dự án nông lâm nghiệp và thủy sản của cả nước là 491 dự án (chiếm 1,8% các dự án FDI), với tổng số vốn đầu tư đăng ký 3,46 tỷ USD (chiếm 1,02% tổng vốn đầu tư FDI cả nước), vốn đầu tư bình quân chỉ đạt 7,03 triệu USD/ dự án nông nghiệp Cơ cấu FDI vào lĩnh vực nông nghiệp theo ngành phân bổ không đều, các dự án FDI chủ yếu tập trung vào một số lĩnh vực như chế biến
gỗ, lâm sản, chăn nuôi và chế biến thức ăn chăn nuôi, bước đầu có sự đầu tư vào lĩnh vực trồng trọt (tập trung ở sản phNm rau, hoa), chế biến nông - lâm - thủy sản
Nguồn: Tổng hợp và tính toán của Tác giả từ Niên giám thống kê qua
các năm 2009-2018 của Tổng cục Thống kê
Hình 03 Biến động vốn đăng ký đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI)
vào ngành nông nghiệp giai đoạn 2009-2018
Trong những năm gần đây, các dự án FDI công nghệ cao cho lĩnh vực nông nghiệp có
mấy điểm hạn chế như sau: 1) Chỉ tập trung một số ngành như trồng hoa, rau, chế biến nông sản Các ngành khác cũng rất cần nhưng chưa có nhiều dự án công nghệ cao, như các
ngành nghiên cứu sản xuất giống cây trồng, sản xuất thuốc thú y, sản xuất thuốc bảo vệ thực
Trang 34vật hữu cơ; 2) Các dự án FDI cho nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao chỉ mới tập trung ở một vài vùng miền có lợi thế về điều kiện tự nhiên và vị trí địa kinh tế Ví dụ, dẫn đầu là Lâm
Đồng với nhiều doanh nghiệp và dự án nông nghiệp công nghệ cao Lâm Đồng cũng là địa phương đứng đầu cả nước thu hút các nhà đầu tư N hật Bản trong lĩnh vực nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao Hà N am là địa phương mới nổi ở phía Bắc về thu hút FDI cho nông nghiệp công nghệ cao với 11 nhà đầu tư, tổng số vốn trên 33 triệu USD Hà N ội và thành phố
Hồ Chí Minh đã và đang xuất hiện những dự án sản xuất nông nghiệp thông minh, phát triển
nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao; 3) Số lượng nhà đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp công nghệ cao còn rất hạn chế, chủ yếu từ Châu Á Hiện nay, chủ yếu là các nhà đầu tư đến
từ N hật Bản, đây cũng là quốc gia có mức đầu tư lớn nhất và nhiều nhất vào lĩnh vực nông nghiệp, nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao tại Việt N am, với khoảng 20 doanh nghiệp, trong đó có hơn 10 doanh nghiệp đầu tư ở tỉnh Lâm Đồng N hiều doanh nghiệp N hật Bản đã tìm cơ hội đầu tư vào nông nghiệp với các mô hình như: Trồng rau công nghệ cao tại Lâm Đồng; liên kết xuất khNu xoài Cát Chu ở Đồng Tháp sang N hật Bản; các dự án nông nghiệp công nghệ cao tại Vĩnh Phúc; phát triển đánh bắt và chế biến cá ngừ ở Bình Định, hay phát triển các mặt hàng nông sản vùng Đồng bằng sông Cửu Long
4 GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY SỰ THAM GIA CỦA KINH TẾ TƯ NHÂN VÀO PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
a) Tích tụ, tập trung ruộng đất để sản xuất nông nghiệp hàng hóa:
Đất sản xuất nông lâm nghiệp và thủy sản về cơ bản đã được giao cho các tổ chức và
hộ gia đình quản lý, các địa phương hầu như không có quỹ đất để quy hoạch các vùng trồng trọt, chăn nuôi tập trung Để xây dựng trang trại và nhà máy, doanh nghiệp phải tự mua đất
từ cá nhân với giá cao, diện tích ít nên hạn chế việc mở rộng quy mô và phát triển hoạt động sản xuất kinh doanh lâu dài Do đó, Chính phủ, Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ N ông nghiệp & PTN T cần có cơ chế chính sách để tạo điều kiện cho các doanh nghiệp, HTX nông nghiệp tích tụ tập trung ruộng đất nhằm thúc đNy sản xuất (đặc biệt là cây lúa và cây ăn quả); tạo điều kiện pháp lý để liên kết giữa doanh nghiệp và nông dân bền chặt hơn
b) Ưu tiên cho đầu tư phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao:
Cần nghiên cứu bổ sung một số chính sách khuyến khích các công ty/ tập đoàn trong nước đầu tư phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao để sản xuất nông sản hàng hóa quy mô lớn phù hợp với lợi thế từng địa phương Xác định trọng tâm, kêu gọi đầu tư
và ưu tiên thu hút các dự án đầu tư nông nghiệp công nghệ cao, kèm theo chuyển giao công nghệ, từ các nước có nền nông nghiệp tiên tiến như: Mỹ, các nước Tây Âu, Israel
c) Tiêu chuẩn hóa hàng hóa nông sản, đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm:
Chính phủ cần thiết phải ban hành tiêu chuNn quốc gia về hàng nông sản để các doanh nghiệp cạnh tranh lành mạnh và phát triển bền vững Bộ N N &PTN T và chính quyền các địa phương cần phối hợp và có những chính sách hỗ trợ đào tạo nông dân và các HTX sâu rộng hơn về mặt tiêu chuNn chất lượng, các tiêu chuNn, quy chuNn sản xuất trong nước và quốc tế, và quản lý được chất lượng trên thực tế Cùng với đó là chính sách
Trang 35khuyến khích doanh nghiệp tham gia đào tạo, tập huấn cho nông dân các kỹ năng mới trong sản xuất nông nghiệp
Đặc biệt, Chính phủ cần khuyến khích và hỗ trợ mạnh mẽ các doanh nghiệp, HTX và
hộ nông dân triển khai áp dụng rộng rãi các tiêu chuNn VietGAP(1), Global GAP(2), với việc tuân thủ nghiêm túc các nguyên tắc, trình tự, thủ tục tiến hành sản xuất, thu hoạch, xử
lý sau thu hoạch nhằm đảm bảo an toàn, nâng cao chất lượng sản phNm, đảm bảo phúc lợi
xã hội, sức khỏe người sản xuất và người tiêu dùng; đồng thời bảo vệ môi trường và truy nguyên nguồn gốc sản xuất
d) Tăng cường kinh tế hợp tác, liên kết chặt chẽ xây dựng chuỗi giá trị nông sản:
Đầu tư vào nông nghiệp thường bị đánh giá là rủi ro lớn, không chỉ ở đầu ra mà còn
lo ngại nông dân bẻ kèo, phá vỡ hợp đồng trong xây dựng vùng nguyên liệu Các doanh nghiệp bị “vỡ” hợp đồng với đối tác vì nguyên liệu từ các hộ dân chuyển về không đủ về
số lượng và không đạt tiêu chuNn Mặc dù các doanh nghiệp tiến hành ký kết hợp đồng bao tiêu dài hạn với những yêu cầu cụ thể về hàm lượng chất bảo vệ thực vật trong hoa quả, tuy nhiên, bài toán vùng nguyên liệu vẫn luôn là "nỗi lo" của doanh nghiệp Để sản xuất nông nghiệp chuyển đổi cơ cấu, phát triển lên sản xuất lớn, Chính phủ cần hỗ trợ thành lập
mô hình HTX kiểu mới, khuyến khích việc thành lập và phát triển các HTX nông nghiệp trở thành đầu mối tập hợp nông dân, có đủ sức liên kết, hợp tác với doanh nghiệp, hình thành các chuỗi giá trị
e) Tăng cường xúc tiến thương mại, hỗ trợ xây dựng thương hiệu nông sản địa phương:
Thị trường tiêu thụ nông sản hàng hóa trong nước và quốc tế ngày càng biến động do nhiều nguyên nhân khác nhau, dễ đem đến rủi ro lớn; trong khi năng lực quản trị, công tác
dự báo nhu cầu thị trường của các doanh nghiệp trong nước còn bất cập… do đó N hà nước cần hỗ trợ các doanh nghiệp tiếp cận các hội thảo, hội chợ nông sản quốc tế để tìm kiếm thị trường; hỗ trợ đào tạo nâng cao năng lực tìm kiếm, phân tích và dự báo thị trường cho doanh nghiệp
Để nông dân chủ động hơn trong thời kỳ kinh tế thị trường, Chính phủ cần giúp họ sản xuất ra hàng hóa và xây dựng được thương hiệu Chính phủ nghiên cứu thiết kế nhận dạng thương hiệu theo quy mô vùng sản xuất tận dụng lợi thế tự nhiên và năng lực kinh tế của người dân; hàng triệu héc ta đất có thể thâm canh nuôi thủy sản, trồng cà phê, hồ tiêu, chè… bền vững theo mô hình HTX kiểu mới do N hà nước dẫn dắt về chính sách và kỹ thuật, qua đó người dân tuân thủ theo chính sách và quy trình kỹ thuật để làm
f) Tiếp tục hoàn thiện chính sách thuế:
Các doanh nghiệp xuất nhập khNu hàng nông sản phải đóng thuế giá trị gia tăng (VAT) trước Theo quy định, khoản thuế này sẽ được khấu trừ vào thuế xuất nhập khNu
(1) VietGAP = Vietnamese Good Agricultural Practices: Thực hành sản xuất nông nghiệp tốt ở Việt N am do Bộ
N ông nghiệp và PTN T ban hành đối với từng sản phNm, nhóm sản phNm thủy sản, trồng trọt, chăn nuôi
(2) Global GAP = Global Good Agricultural Practices: Thực hành sản xuất nông nghiệp tốt Toàn cầu
Trang 36các kỳ sau đó N hưng thuế xuất nhập khNu nông sản đã về 0% nên khoản tiền thuế giá trị gia tăng doanh nghiệp đóng trước đó không lấy lại được N hiều doanh nghiệp bị giữ số tiền thuế giá trị gia tăng lên tới vài chục tỷ đồng, trong khi không có vốn để xoay vòng Do
đó, đại diện doanh nghiệp này cho rằng, muốn khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn thì N hà nước phải điều chỉnh chính sách thuế cho hợp lý, tạo điều kiện cho doanh nghiệp lưu thông nguồn vốn Việc thực hiện chính sách khấu trừ thuế
mà không hoàn thuế cho doanh nghiệp như hiện nay vẫn được nhiều doanh nghiệp cho là không có lợi cho các doanh nghiệp Việt N am Đặc biệt, trong bối cảnh nhập khNu hàng hóa từ các nước ASEAN vào Việt N am ngày càng nhiều và được hưởng thuế suất ưu đãi
từ Hiệp định thương mại tự do ATIGA thì điều này lại càng bất lợi
g) Đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng Logistics cho ngành nông nghiệp:
N ông nghiệp là một ngành chịu rủi ro lớn về thời tiết, biến đổi khí hậu và thị trường, những yếu kém về hạ tầng logistics, hạ tầng công nghệ, công nghiệp cơ khí và bảo hiểm…cũng là “rào cản” khi thu hút đầu tư vào ngành Hoạt động xuất khNu nông sản đang gặp rất nhiều khó khăn ở khâu vận chuyển Một số tuyến đường xung yếu thường xuyên trong tình trạng kẹt xe, cảng biển thì quá tải trong khi đó nhiều loại nông sản như rau củ, trái cây, hoa rất dễ hư hỏng N ếu tình trạng vận chuyển liên tục gặp vấn đề sẽ ảnh hưởng lớn đến chất lượng nông sản cũng như chi phí, thời gian của doanh nghiệp
Sự thiếu hụt hạ tầng logistics làm tăng chi phí vận chuyển trái cây Việt N am sang các thị trường quốc tế, dẫn tới làm giảm khả năng cạnh tranh về giá Bên cạnh đó, việc không làm chủ được công nghệ cũng khiến doanh nghiệp chịu nhiểu rủi ro trong kinh doanh Do
đó, giải quyết bài toán về cơ sở hạ tầng logistics, đảm bảo hàng hóa lưu thông nhanh chóng không chỉ giúp thu hút doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp mà còn thúc đNy các ngành sản xuất khác phát triển
5 KẾT LUẬN
Trong bài viết này chúng tôi đã tập trung làm sáng tỏ hơn về khái niệm dưới góc độ kinh tế học của thuật ngữ “kinh tế tư nhân”, cơ sở pháp lý cho sự phát triển kinh tế tư nhân trong lĩnh vực nông nghiệp Bài viết đã làm sáng tỏ thực trạng tham gia của khu vực kinh
tế tư nhân (gồm các nông hộ, các doanh nghiệp tư nhân trong nước, hợp tác xã, tổ hợp tác, các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài) vào sự phát triển của ngành nông nghiệp Việt
N am trong những năm gần đây Từ những phân tích về thành công cũng như hạn chế, bài viết cũng đã đề xuất 7 giải pháp thực tiễn nhằm thúc đNy sự tham gia của kinh tế tư nhân vào phát triển nông nghiệp Việt N am trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng như hiện nay
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Ban Kinh tế Trung ương (2019), Báo cáo 2 năm thực hiện N ghị quyết Trung ương 5 Khóa XII
về phát triển kinh tế tư nhân trở thành một động lực quan trọng của nền Kinh tế thị trường định
hướng Xã hội chủ nghĩa, tại Diễn đàn Kinh tế tư nhân Việt Nam 2019, Ban Kinh tế Trung
ương, Hà N ội
Trang 372 BCĐ Tổng điều tra Dân số và N hà ở Trung ương (2019), Tổng điều tra dân số và nhà ở thời
điểm 0 giờ ngày 01/4/2019: Tổ chức thực hiện và Kết quả sơ bộ, N xb Thống kê, Hà N ội
3 BCH Trung ương Đảng CSVN (2002), N ghị quyết số 14-N Q/TW ngày 18/3/2002 của Hội nghị BCH Trung ương Đảng lần thứ 5 khóa IX về tiếp tục đổi mới cơ chế, chính sách, khuyến khích
và tạo điều kiện phát triển kinh tế tư nhân, Hà N ội
4 BCH Trung ương Đảng CSVN (2017), N ghị quyết số 10-N Q/TW ngày 03/6/2017 của Hội nghị BCH Trung ương Đảng lần thứ 5 khóa XII về phát triển kinh tế tư nhân trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN , Hà N ội
5 Bộ Công thương (2019), Báo cáo Xuất nhập khẩu Việt Nam 2018, N xb Công thương, Hà N ội
6 Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2019), Sách trắng Doanh nghiệp Việt Nam năm 2019, N xb Thống kê,
Hà N ội
7 Lê Duy Bình (2018), Kinh tế tư nhân Việt Nam: Năng suất và thịnh vượng, Sáng kiến Hỗ trợ
Khu vực Tư nhân Vùng Mekong (Mekong Business Initiative), Hà N ội
8 Liên minh HTX Việt N am (2019), Báo cáo thường niên 2018, Liên minh Hợp tác xã Việt N am
(VCA), Hà N ội
9 Phạm Thị Thanh Bình (2017), Kinh tế tư nhân: Động lực quan trọng trong phát triển kinh tế
Việt Nam, Tạp chí Cộng sản, Hà N ội, http://www.tapchicongsan.org.vn/Home/N
ghiencuu-Traodoi/2017/48688/Kinh-te-tu-nhan-Dong-luc-quan-trong-trong-phat-trien-kinh.aspx, ngày truy cập May 15-2019
10 Tổng cục Thống kê (2018), Kết quả tổng điều tra nông thôn, nông nghiệp và thuỷ sản năm
2016 (Results of the 2016 Rural, Agricultural and Fishery Census), N xb Thống kê, Hà N ội
11 Tổng cục Thống kê (2019), Niên giám thống kê 2018 (Statistical Yearbook of Vietnam 2018),
N xb Thống kê, Hà N ội
12 Võ Văn Lợi (2019), Phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam và một số vấn đề đặt ra, Hà N ội,
van-de-dat-ra-302117.html, ngày truy cập 29 Jul.-2019
Trang 38http://tapchitaichinh.vn/tai-chinh-kinh-doanh/phat-trien-kinh-te-tu-nhan-o-viet-nam-va-mot-so-NGHỊ QUYẾT SỐ 10-NQ/TW - BƯỚC ĐỘT PHÁ CỦA ĐẢNG TA
VỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ TƯ NHÂN
TS Nguyễn Văn Hiếu
Học viện Ngân hàng - Phân viện Bắc Ninh
Tóm tắt: Trong suốt quá trình đổi mới, Đảng ta luôn nhất quán chính sách phát triển nền
kinh tế nhiều thành phần định hướng xã hội chủ nghĩa Trong đó, kinh tế tư nhân luôn được coi là thành phần kinh tế quan trọng có đóng góp ngày càng lớn cho nền kinh tế và đời sống
xã hội Những chủ trương, chính sách của Đảng về phát triển kinh tế tư nhân luôn được bổ sung và ngày càng hoàn thiện Đặc biệt, ngày 03/6/2017, tại Hội nghị Trung ương 5 khóa XII, Đảng ta đã ban hành Nghị quyết số 10-NQ/TW “về phát triển kinh tế tư nhân trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” Nội dung Nghị quyết thể hiện nhiều quan điểm đột phá của Đảng về phát triển kinh tế tư nhân, là sự kết tinh trí tuệ của toàn Đảng, toàn dân ta, là tổng hợp những bài học kinh nghiệm quý báu của hơn 30 năm đổi mới Qua 2 năm thực hiện nghị quyết, kinh tế tư nhân đã có những bước phát triển tích cực và thành tựu bước đầu quan trọng Sự ra đời của Nghị quyết là sự tiếp tục khẳng định quan điểm của Đảng về phát triển kinh tế tư nhân với nhiều điểm đột phá để kinh tế tư nhân thực sự là một động lực quan trọng thúc đẩy nền kinh tế phát triển
Từ khóa: động lực quan trọng, kinh tế tư nhân, kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
RESOLUTION NO.10-NQ / TW- BREAKDOWN OF THE PARTY ON PRIVATE
ECONOMIC DEVELOPMENT
Astract:During the renovation process, our Party has consistently consistent policies to
develop a socialist-oriented market economy In particular, the private economy is always regarded as an important economic component that contributes more and more to the economy and social life The guidelines and policies of the Party on private economic development are always supplemented and improved Especially, on June 3, 2017, at the Conference of the 12th, our Party issued Resolution No 10-NQ / TW "on the development of private economy to become an important driving force of the economy socialist-oriented market economy” The content of the Resolution shows many breakthrough views of the Party
on private economic development, which is the crystallization of the Party and the entire people, is the sum of valuable lessons learned from over 30 years of Renovation After 2 years
of implementing the resolution, the private economy has made positive developments and important initial achievements The birth of the Resolution is the continuation of the Party's view on private economic development with many breakthroughs for the private economy to really be an important driving force for the development of the economy
Keywords: important driving force, private economy, socialist-oriented market economy
Trang 39ĐẶT VẤN ĐỀ
N hững thành tựu trong phát triển kinh tế - xã hội to lớn qua hơn 30 năm đổi mới của đất nước ta có phần đóng góp quan trọng của thành phần kinh tế tư nhân N hững quan điểm, chủ trương của Đảng về phát triển kinh tế tư nhân ngày càng đầy đủ và hoàn thiện Một trong những đột phá trong chủ trương của Đảng về phát triển kinh tế tư nhân chính là
việc ban hành nghị quyết số 10-N Q/TW ngày 03/6/2017 “về phát triển kinh tế tư nhân trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”
tại Hội nghị lần thứ 5 khóa XII của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt N am Việc làm rõ những quan điểm đột phá trong N ghị quyết này có ý nghĩa quan trọng trong định hướng triển khai và hiện thực hóa N ghị quyết để kinh tế tư nhân thực sự trở thành động lực quan trọng trong sự phát triển kinh tế - xã hội
NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
1 Quan điểm của Đảng về phát triển kinh tế tư nhân từ khi đổi mới đến trước Hội nghị Trung ương 5 khóa XII
Kể từ khi thực hiện công cuộc đổi mới đất nước, Đảng ta luôn có chủ trương nhất quán về việc phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, trong đó kinh tế tư nhân là một bộ phận cấu thành quan trọng Quan điểm của Đảng về phát triển kinh tế tư nhân có một quá trình hình thành và phát triển lâu dài, được bổ sung, hoàn thiện dần qua mỗi giai đoạn phát triển đất nước, được thể hiện tập trung trong các cương lĩnh xây dựng đất nước, văn kiện đại hội Đảng, nghị quyết chuyên đề của Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương và trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội
Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Đảng ta đã khẳng định “Cần sửa đổi, bổ sung và công bố rộng rãi chính sách nhất quán đối với các thành phần kinh tế… Xóa bỏ những thành kiến thiên lệch…” [5, tr.58], trong đó cần thiết “Bằng những biện pháp thích hợp, sử dụng mọi khả năng của các thành phần kinh tế khác trong sự liên kết chặt chẽ và dưới sự chỉ đạo của thành phần kinh tế xã hội chủ nghĩa” [5, tr.53] Ở đây, kinh tế tư nhân
đã được chú ý khai thác, tuy nhiên phải bằng những hình thức và bước đi thích hợp, tránh chủ quan nóng vội, “cần có chính sách sử dụng và cải tạo đúng đắn” [5, tr.333]
Tiếp tục tinh thần của Đại hội VI, tại Đại hội VII, Đảng ta khẳng định: “Kinh tế tư nhân được phát triển, đặc biệt trong lĩnh vực sản xuất, theo sự quản lý, hướng dẫn của N hà nước” [1, tr.69], “Kinh tế tư bản tư nhân được kinh doanh trong những ngành có lợi cho quốc kế dân sinh được pháp luật quy định” [1, tr.117-118] N hư vậy, tại Đại hội VII, kinh
tế tư nhân đã thực sự được coi là một thành phần kinh tế có tiềm năng phát triển và đóng góp thực sự cho nền kinh tế nói chung
Trên cơ sở đánh giá những thành tựu kinh tế - xã hội quan trọng do chính sách kinh
tế nhiều thành phần mang lại, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII khẳng định tiếp tục thực hiện nhất quán, lâu dài chính sách này, khuyến khích mọi doanh nghiệp, cá nhân trong và ngoài nước khai thác các tiềm năng, ra sức đầu tư phát triển, yên tâm làm ăn lâu dài, hợp pháp, có lợi cho quốc kế dân sinh, đối xử bình đẳng với mọi thành phần kinh tế
Trang 40trước pháp luật, không phân biệt sở hữu và hình thức tổ chức kinh doanh; trong đó nêu rõ
“Khuyến khích tư bản tư nhân đầu tư vào sản xuất, yên tâm làm ăn lâu dài; bảo hộ quyền
sở hữu và lợi ích hợp pháp, tạo điều kiện thuận lợi đi đôi với tăng cường quản lý, hướng dẫn làm ăn đúng pháp luật, có lợi cho quốc kế dân sinh” [2, tr.96]
Đại hội IX tiếp tục khẳng định: “Khuyến khích phát triển kinh tế tư bản tư nhân rộng
rãi trong những ngành nghề sản xuất, kinh doanh mà pháp luật không cấm Tạo môi trường kinh doanh thuận lợi về chính sách, pháp lí để kinh tế tư bản tư nhân phát triển trên những định hướng ưu tiên của N hà nước, kể cả đầu tư ra nước ngoài; khuyến khích chuyển thành doanh nghiệp cổ phần, bán cổ phần cho người lao động, liên doanh, liên kết với nhau, với kinh tế tập thể và kinh tế nhà nước” [3, tr.98-99]
Một trong những đột phá trong quan điểm về phát triển kinh tế tư nhân là việc ban
hành N ghị quyết “Về tiếp tục đổi mới cơ chế, chính sách, khuyến khích, tạo điều kiện phát triển kinh tế tư nhân” tại Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung ương khóa IX (2002)
Đây là lần đầu tiên Đảng ta có một nghị quyết chuyên đề về kinh tế tư nhân, trong đó khẳng định kinh tế tư nhân là một bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế quốc dân, phát triển kinh tế tư nhân là vấn đề chiến lược lâu dài trong phát triển nền kinh tế nhiều thành phần định hướng xã hội chủ nghĩa N ghị quyết Hội nghị Trung ương 5 khóa IX đã đưa ra những đánh giá xác đáng về những đóng góp của kinh tế tư nhân cũng như có chủ trương và giải pháp cụ thể nhằm tạo môi trường kinh doanh thuận lợi về chính sách, pháp
lí và tâm lý xã hội để các doanh nghiệp tư nhân phát triển rộng rãi trong những ngành, nghề sản xuất, kinh doanh mà pháp luật không cấm
Đến Đại hội X, Đảng ta đã có những khẳng định mới về vai trò của kinh tế tư nhân khi coi đây là thành phần không thể thiếu và có vị trí quan trọng đặc biệt và ý nghĩa chiến lược trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, cần “Xóa bỏ mọi rào cản, tạo tâm
lý xã hội và môi trường kinh doanh thuận lợi cho các loại hình doanh nghiệp của tư nhân phát triển không hạn chế quy mô trong mọi ngành nghề, lĩnh vực, kể cả lĩnh vực sản xuất kinh doanh quan trọng của nền kinh tế mà pháp luật không cấm” [4, tr.86-87], “Khuyến khích các doanh nghiệp lớn của tư nhân, các tập đoàn kinh tế tư nhân có nhiều chủ sở hữu với hình thức công ty cổ phần… Khuyến khích tư nhân mua cổ phần của các doanh nghiệp nhà nước, tham gia đầu tư vào các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh quan trọng của nền kinh tế” [4, tr.237] Đặc biệt, tại Hội nghị Trung ương 3 khóa X đã thảo luận và thông qua “Quy định đảng viên làm kinh tế tư nhân” Đây là một bước chuyển biến lớn trong nhận thực về kinh tế
tư nhân và đảng viên làm kinh tế tư nhân, tạo điều kiện cho những quan điểm, chủ trương của Đảng về phát triển kinh tế tư nhân thực sự đi vào thực tiễn
Đại hội XI và XII của Đảng tiếp tục xác định vị trí, vai trò và chủ trương phát triển kinh tế tư nhân Văn kiện Đại hội XII nhấn mạnh: “Hoàn thiện cơ chế, chính sách khuyến
khích, tạo thuận lợi phát triển mạnh kinh tế tư nhân ở hầu hết các ngành và lĩnh vực kinh
tế, trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế Hoàn thiện chính sách hỗ trợ phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp khởi nghiệp Khuyến khích hình thành các tập đoàn kinh tế tư nhân đa sở hữu và tư nhân góp vốn vào các tập đoàn kinh tế nhà nước” [6, tr.107-108]