MỘT SỐ ĐỀ LUYỆN TẬP
4. Giá trị nhân đạo
“Giá trị nhân đạo” là một giá trị cơ bản của tác phẩm văn học chân chính. Nó được tạo nên bởi niềm cảm thông sâu sắc đối với nỗi đau khổ của con người, đó là sự nâng niu, trân quý những nét đẹp trong tâm hồn con người và cũng là lòng tin vào khả năng vươn dậy của họ, đồng thời lên án những thế lực tàn bạo, đen tối đã chà đạp lên quyền sống, quyền hạnh phúc và phẩm giá con người.
Biểu hiện của giá trị nhân đạo trong truyện:
Truyện ngắn “Vợ chồng A Phủ” đã để lại tinh thần nhân văn nhân đạo sâu sắc, thấm đượm trên mỗi trang sách của nhà văn Tô Hoài qua cuộc đời hai nhân vật Mị và A Phủ.
4.1. Niềm cảm thông sâu sắc của nhà văn đối với những số phận bất hạnh, bị tước đoạt quyền sống, quyền tự do, bị đày đọa, lăng nhục.
- Mị, cô gái trẻ đẹp, yêu đời yêu cuộc sống nhưng lại bị bắt về làm dâu gạt nợ:
+ Dưới áp bức của cường quyền, thần quyền cùng những hủ tục phong kiến, đã khiến Mị ngày càng “lùi lũi như con rùa nuôi trong xó cửa”.
+ Mị làm nô lệ cho nhà thống lý, phải làm quần quật cả ngày lẫn đêm “mình cũng là con trâu, con ngựa”.
+ Mị bị chôn vùi, tước đoạt tuổi xuân và hạnh phúc cá nhân “căn buồng Mị nằm, chỉ có một ô cửa, lỗ vuông bằng bàn tay”.
- A Phủ, chàng trai của núi rừng, yêu tự do, yêu lao động:
+ Vì tội đánh con quan, cũng thành kẻ trừ nợ suốt đời cho nhà thống lý.
+ Khi để hổ vồ mất một con bò, A Phủ cũng bị trói đứng đến chết nếu không có bàn tay cứu giúp của Mị.
Ở đó là niềm cảm thông sâu sắc của nhà văn đối với những số phận bất hạnh, bị tước đoạt quyền sống, quyền tự do, bị đày đọa lăng nhục cả về thể xác lẫn tinh thần. Mị là cô gái trẻ đẹp, ham sống, vui tươi và yêu đời. Vì món nợ truyền kiếp từ đời bố Mị vay để lấy mẹ Mị mà cô ngang nhiên bị bắt về làm dâu gạt nợ cho nhà thống lý Pá Tra.
Dưới áp chế của cường quyền và thần quyền cùng những hủ tục phong kiến và sự tàn ác của cha con thống lý đã khiến Mị ngày càng không nói “lùi lũi như con rùa nuôi trong xó cửa”. Cuộc sống trong nhà thống lý quanh năm suốt tháng với những công việc lặp đi lặp lại: “Tết xong thì lên núi hái thuốc phiện, giữa năm thì giặt đay, se đay, đến mùa thì đi nương bẻ bắp, lúc nào cũng gài một bó đay trong tay để tước thành sợi...” đã biến Mị trở thành nô lệ không công, là kiếp con trâu con ngựa. Cả tuổi xuân, tuổi trẻ của mình, Mị bị chôn vùi trong chốn địa ngục trần gian là căn buồng với ô cửa sổ lỗ vuông bằng bàn tay, “lúc nào trông ra cũng chỉ thấy trăng trắng, không biết là sương hay là nắng. Mị nghĩ rằng mình cứ chỉ ngồi trong cái lỗ vuông ấy mà trông ra, đến bao giờ chết thì thôi”. Kiếp làm dâu đã khổ, Mị lại còn mang phận “làm dâu gạt nợ”
thì khổ đến mức độ nào! Cuộc sống của Mị trong nhà thống lý không chỉ tủi nhục về thể xác mà còn bất hạnh về tinh thần, Mị làm vợ A Sử nhưng A Sử chưa bao giờ coi Mị là vợ, nó đánh đập Mị hết sức dã man, nó thẳng chân đạp vào mặt Mị. Chưa bao giờ, ta thấy thương xót với nỗi đau của người phụ nữ miền núi dưới ách thống trị thực dân phong kiến, sự tàn ác của bọn chúa đất đến vậy!
Còn A Phủ, chàng trai của núi rừng, yêu thiên nhiên, yêu tự do, yêu chính nghĩa. Không duyên nợ gì với thống lý cũng bị xoáy vào vòng xoay oan nghiệt. Vì tội đánh con quan mà A Phủ bị đánh đập hết sức dã man, bị đánh từ sáng đến tối rồi lại từ tối đến sáng, và cuối cùng cũng trở thành kẻ trừ nợ suốt đời cho nhà Pá Tra, quanh năm với việc chăn trâu, chăn bò ngoài đồng nương, gò bãi. Việc đánh đập và trói đứng người đến chết, đã quen thuộc như bữa ăn hàng ngày. Vậy nên, khi chăn bò, A Phủ vô tình để hổ vồ mất một con, cũng bị thống lý trói đứng đến chết nếu không có sự thức tỉnh của Mị.
3.2. Nhà văn tố cáo gay gắt thế lực phong kiến miền núi tàn bạo.
+ Chúng đã lợi dụng chính sách vay nặng lãi, hủ tục thần quyền để nộ lệ hóa con người.
+ Dùng cường quyền và những thủ đoạn để bóc lột người dân lao động “quanh năm suốt tháng chỉ biết vùi đầu vào công việc”.
+ Mạng người đối với chúng không bằng mạng một con vật:
A Phủ bị trói thay bò khi bị mất, Mị và người đàn bà đời trước cũng bị trói đứng.
3.3. Nhà văn phát hiện và nâng niu trân trọng trước những vẻ đẹp tâm hồn, nhân phẩm cao đẹp của nhân vật.
- Mị, là cô gái xinh đẹp tài năng, yêu đời “thổi lá cũng hay như thổi sáo” và rất hiếu thảo với cha.
+ Khi bị bắt về làm dâu gạt nợ cho nhà thống lý, dù cuộc sống có thống khổ nhưng Mị vẫn luôn ẩn chứa sức sống tiềm tàng mãnh liệt.
+ Trong đêm tình mùa xuân, sức sống ấy đã trỗi dậy khi Mị nghe thấy tiếng sáo cùng chất men của rượu.
Không chỉ dừng lại ở đó, ngòi bút nhân đạo của nhà văn Tô Hoài còn tố cáo gay gắt thế lực thực dân phong kiến miền núi tàn bạo đã chà đạp lên quyền sống của nhân dân lao động vùng núi Tây Bắc. Chúng đã lợi dụng chính sách cho vay nặng lãi để nô lệ hóa con người mà Mị và A phủ chính là nạn nhân. Mị và A Phủ từ những người yêu tự do, chuộng lao động và giàu tài năng nhưng vì món nợ không tên mà họ đã trở thành những kẻ nô lệ suốt đời bị đối xử không khác gì kiếp con trâu, con ngựa “quanh năm suốt tháng chỉ biết vùi đầu vào công việc”. Họ đã bị thần quyền và cường quyền làm cho tê liệt về ý thức phản kháng, bị bóc lột sức lao động một cách tàn nhẫn. Chúng còn ác man đến độ trói đứng người đến chết, hình ảnh người bị trói đứng trong nhà thống lý đã trở thành hình phạt bắt buộc đối với bất kỳ ai. Qua những số phận ấy, ngòi bút của Tô Hoài đã vạch trần bộ mặt tàn bạo của cha con thống lý – đại diện cho tầng lớp thống trị, mang đến cho người đọc “tập hồ sơ tội ác” của bọn giai cấp chủ nô phong kiến miền núi ở Tây Bắc lúc bây giờ.
Tuy vậy, nhà văn cũng không quên phát hiện, nâng niu và trân trọng những vẻ đẹp tâm hồn, nhân phẩm cao đẹp của các nhân vật, tiêu biểu là Mị và A Phủ. Mị không đơn thuần chỉ là cô gái xinh đẹp, tài năng “thổi lá cũng hay như thổi sao”, mà cô còn rất hiếu thảo với cha. Cô ý thức được món nợ của cha mẹ từ rất sớm, cô chăm chỉ làm nương trồng ngô trả nợ cùng cha. Khi bị bắt về làm dâu gạt nợ cho nhà thống lý, dù cuộc sống có thống khổ, có cơ cực nhưng Mị cũng không đành lòng chết, vì cô hiểu rằng:
“nếu Mị chết thì bố Mị còn khổ hơn bao nhiêu lần bây giờ nữa. Mị đành trở lại nhà thống lý”, chấp nhận và cam chịu sống kiếp đời làm trâu làm ngựa. Cuộc sống khổ về thể xác: phải làm việc quần quật cả ngày lẫn đêm, luôn tay luôn chân với những công việc lặp đi lặp lại; rồi đau đớn về tinh thần: Mị với A Sử không có lòng mà vẫn phải sống với nhau, A Sử chưa bao giờ coi Mị là vợ. Thế nhưng ngọn lửa sống trong cô vẫn chưa bao giờ bị dập tắt, nó vẫn luôn âm ỉ chờ ngày bùng cháy. Trong đêm tình mùa xuân, sức sống ấy đã trỗi dậy khi Mị nghe tiếng sáo rủ bạn đi chơi:
“Mị ngồi nhẩm thầm theo lời người đang thổi sáo” hòa cùng chất men của rượu, Mị thấy “tha thiết bồi hồi, thấy lòng phơi phới trở lại”. Khát vọng sống, khát vọng tự do
+ Khát vọng tự do đã thôi thúc Mị “muốn đi chơi ngày Tết”, và Mị “cuốn lại tóc, lấy chiếc váy hoa trong vách, bỏ thêm mỡ vào đèn”...
+ Khi bị A Sử trói “không cựa quậy được”, tâm hồn Mị vẫn hòa theo tiếng sáo, vẫn sống trọn trong thế giới của riêng mình.
+ Sức sống ấy còn trỗi một lẫn nữa trong đêm cắt dây cởi trói cứu A Phủ. Lúc đầu Mị dửng dưng, những khi thấy
“giọt nước mắt” của A phủ Mị đã thức tỉnh.
+ Mị nhận ra: “Chúng nó thật độc ác!” và quyết cắt dây cởi trói cứu A Phủ, cùng A Phủ trốn khỏi đất Hồng Ngài.
- A Phủ, dù nghèo, mồ côi cha mẹ nhưng rất yêu đời, yêu tự do và ham sống.
+ Trong cảnh xử kiện, dù bị đánh đập rất dã man nhưng chỉ quỳ và “im lặng”.
+ Lúc được Mị cứu, dù đã kiệt sức nhưng A Phủ “quật sức vùng lên chạy”.
3.4. Chỉ ra con đường giải phóng thực sự của người lao động miền núi lúc bấy giờ.
đã thôi thúc Mị “muốn đi chơi ngày Tết”, và Mị hành động một cách đầy dứt khoát, “Mị cuốn lại tóc, lấy chiếc váy hoa trong vách, bỏ thêm mỡ vào đèn cho sáng...”. Mị nhận ra “Mị trẻ lắm. Mị vẫn còn trẻ”. Tất cả những hành động của Mị trong đêm tình mùa xuân đã cho thấy sự bứt phá của Mị với bản năng ham sống mãnh liệt, cô bất chấp cả cường quyền và thần quyền để sống trọn cảm xúc của mình. Ngay cả khi bị A Sử trói đứng, “quấn luôn tóc lên cột, không cúi, không nghiêng đầu được nữa” tâm hồn Mị vẫn hòa theo tiếng sáo, vẫn sống trọn trong thế giới của riêng mình. Sự trỗi dậy lần thứ nhất của Mị không thành công, nhưng cũng không vì thế mà sức sống ấy mất đi, nó lại một lần nữa được hồi sinh trong đêm cắt dây cởi trói cứu A Phủ. Lúc đầu Mị vẫn “thản nhiên thổi lửa hơ tay”, dửng dưng một cách tàn nhẫn. Nhưng khi Mị nhìn thấy
“dòng nước mắt lấp lánh bò xuống hai hõm má đã xám đen lại” của A Phủ thì con người Mị như được hồi sinh.
Mị nhớ tới mình, nhớ tới người đàn bà từng bị trói đến chết và thương cho A Phủ. Mị giật mình nhận ra “Chúng nó thật độc ác” và quyết định cắt dây cởi trói cứu A Phủ, hai người cùng nhau trốn khỏi Hồng Ngài, trốn khỏi chốn địa ngục trần gian, trốn khỏi nhà thống lý Pá Tra để giải thoát cho mình.
Bên cạnh đó, nhà văn cũng không quên những bản chất tốt đẹp của A Phủ, một chàng trai của núi rừng tự do. Anh yêu lao động, chăm chỉ, chịu thương chịu khó và giỏi giang. Dù mồ côi cha mẹ từ sớm, nghèo nhưng A Phủ vẫn là niềm khao khát của biết bao cô gái. Trong anh là một bản tính gan góc, rất đáng quý trọng bởi trong cảnh xử kiện, dù bị đánh đập rất dã man nhưng A Phủ không hề kêu than mà chỉ quỳ rồi “im lặng”. Dù cuộc sống trong nhà thống lý với những công việc hết sức nguy hiểm, rong ruổi khắp các nương đồi, nhưng A Phủ không hề kêu than.
Rồi khi bị trói đứng đến gần chết, dù đã kiệt sức nhưng chỉ cần thấy được sự sống phía trước, A Phủ liền “quật sức vùng lên chạy”.
Biểu hiện sau cùng của tư tưởng nhân đạo trong truyện ngắn “Vợ chồng A Phủ” là nhà văn đã chỉ ra con đường giải phóng thực sự của người lao động miền núi lúc bấy giờ là đi từ đấu tranh tự phát đến đấu tranh tự giác. Mị
+ Là đi từ đấu tranh tự phát đến đấu tranh tự giác, đi theo lý tưởng cách mạng dưới sự dẫn dắt của Đảng.
+ Nhà văn bênh vực quyền sống, quyền tự do, những phẩm chất tốt đẹp của người dân lao động và đặt niềm tin vào sự trỗi dậy của họ.
và A Phủ từ tăm tối đau thương đã tự mình vươn đến ánh sáng của tự do. Họ cùng nhau đạp qua đêm tối, cùng nhau trốn khỏi nhà thống lý Pá Tra để đi theo cách mạng và thay đổi số phận. Cũng qua đó, tác giả bày tỏ thái độ bênh vực quyền sống, quyền tự do của con người, ca ngợi những phẩm chất tốt đẹp của họ. Đồng thời nhà văn cũng đặt niềm tin vào khát vọng sống, khát vọng vươn lên của nhân vật dù cuộc sống có bị đày đọa, có khổ đau hay bất hạnh. Số phận của A Phủ và Mị chính là những nhân vật đại diện cho tầng lớp người lao động dưới ách thống trị của bọn thực dân miền núi, rồi họ sẽ tự mình vùng lên đấu tranh giải phóng và đi theo Cách mạng để đến với tự do.
ĐẶC SẮC NGHỆ THUẬT
1. Nghệ thuật xây dựng nhân vật
a. Nhân vật được khắc hoạ sinh động, có tính cách rõ nét
Nhân vật Mị và A Phủ có số phận đau khổ giống nhau nhưng mỗi nhân vật là một tính cách khác nhau.
– Nhân vật Mị: được miêu tả bằng rất ít hành động, chủ yếu được miêu tả bằng đời sống nội tâm. Nếu miêu tả hành động thì hành động của Mị thường lặp đi lặp lại, gây ấn tượng: cúi mặt, mặt buồn rười rượi, lùi lũi... Cách miêu tả này rất phù hợp với người phụ nữ miền núi bị áp bức đau khổ nhưng tiềm tàng bên trong một sức sống mãnh liệt.
– Nhân vật A Phủ: được miêu tả chủ yếu qua hành động, công việc, lời đối thoại ngắn gọn, giản đơn. Cách miêu tả này phù hợp với tính cách bộc trực, mạnh mẽ của chàng trai miền núi.
b. Tính cách nhân vật được khắc hoạ qua đời sống nội tâm Nghệ thuật miêu tả nội tâm nhân vật Mị:
– Dùng hình tượng thiên nhiên để miêu tả tâm trạng: khung cảnh thiên nhiên mùa xuân tươi đẹp, rộn ràng gợi lên sức sống tuổi trẻ trong lòng Mị.
– Trực tiếp miêu tả tâm trạng nhân vật: diễn biến tâm trạng Mị trong cảnh đêm mùa xuân nghe tiếng sáo gọi bạn và đêm mùa đông cắt dây trói cứu A Phủ (như đã phân tích ở trên).