MỘT SỐ ĐỀ LUYỆN TẬP
1. Tình huống truyện “Chiếc thuyền ngoài xa” và những phát hiện của nghệ sĩ Phùng
“Chiếc thuyền ngoài xa” được viết năm 1983 là truyện ngắn rất thành công của Nguyễn Minh Châu. Nhà văn đã bày tỏ những suy tư về nghệ thuật cùng cách nhìn nhận đánh giá về hiện thực và con người qua tình huống truyện đầy nghịch lý. Đó là việc nghệ sĩ Phùng bất ngờ phát hiện một cảnh đẹp “trời cho” – cảnh chiếc thuyền ngoài xa giữa biển mù sương, khiến cho tâm hồn anh như được thăng hoa trong cái đẹp, trong niềm hạnh phúc ngọt ngào.
Nhưng rồi chính chiếc thuyền ấy, anh lại bất ngờ chứng kiến cảnh bạo hành trong gia đình hàng chài, khiến cho anh phải sững sờ, kinh ngạc.
Đó là việc nghệ sĩ Phùng và chánh án Đẩu tìm cách giúp người đàn bà thoát khỏi người chồng vũ phu nhưng họ lại bị ngỡ ngàng trước thái độ nhất quyết từ chối bỏ chồng của người đàn bà ở tòa án huyện... Những diễn biến phức tạp, đầy éo le, nghịch lý giúp họ có những khám phá, phát hiện mới mẻ, sâu sắc về đời sống và con người. Có thể nói, đặc sắc của tình huống truyện là giúp con người ta nhận thức sâu sắc nhiều vấn đề của cuộc sống.
Tình huống 1: Sự trái ngược giữa cảnh đẹp thiên nhiên tuyệt mỹ với hiện thực đằng sau nó.
(câu chuyện trên bờ biển) Cái đẹp ngoại cảnh có khi che khuất cái xấu của đời sống.
- Cái đẹp ngoại cảnh: chính là bức tranh thiên nhiên đẹp tuyệt mĩ.
+ Suốt một tuần liền “phục kích”
nay Phùng mới có dịp thu vào ống kính hết một phần tư cuộn phim với cảnh “đắt trời cho” mà có lẽ suốt đời cầm máy Phùng chưa bao giờ thấy:
Đó là hình ảnh chiếc thuyền ngoài xa được ví như “bức tranh mực tầu của một danh họa thời cổ”.
+ Cái đẹp hài hòa đến tuyệt diệu:
“Mũi thuyền in một nét mơ hồ lòe nhòe vào bầu sương mù trắng như sữa có pha đôi chút màu hồng hồng do ánh mặt trời chiếu vào. Vài bóng người lớn lẫn trẻ con ngồi im phăng
Chủ thể của quá trình nhận thức ở đây là người nghệ sĩ Phùng – người kể chuyện xưng “tôi”. Đó là một người nghệ sĩ giàu tâm huyết, có tâm hồn nhạy cảm và say mê cái đẹp. Sau một tuần lễ “phục kích”
dọc bờ biển, người nghệ sĩ ấy đã phát hiện và thu được một cảnh đẹp “đắt” trời cho. Đó là hình ảnh con thuyền ngoài xa đang ẩn hiện trên mặt biển mờ sương, một vẻ đẹp mà có lẽ cả cuộc đời bấm máy anh chỉ có diễm phúc bắt gặp một lần: “Trước mặt tôi là bức tranh mực tàu của một danh họa thời cổ.
Mũi thuyền in một nét mơ hồ lòe nhòe vào bầu sương mù màu trắng như sữa có pha đôi chút hồng hồng do ánh mặt trời chiếu vào. Vài bóng người lớn lẫn trẻ em ngồi im phăng phắc như tượng trên chiếc mui khum khum, đang hướng mặt vào bờ. Tất cả khung cảnh ấy nhìn qua những cái mắt lưới... Toàn bộ khung cảnh từ đường nét, ánh sáng đều hài hòa và đẹp, một vẻ đẹp thật đơn giản và toàn bích”. Đứng trước sản phẩm tuyệt tác của hóa công, người nghệ sĩ trở nên “bối rối”, trái tim như thắt lại vì niềm hạnh phúc của sự khám phá và sáng tạo. Anh thấy tâm hồn mình như được thanh lọc, trở nên tinh khôi
“trong ngần”. Anh tưởng như mình khám phá ra chân lí của nghệ thuật: “Cái đẹp chính là đạo đức”!
Dường như trong hình ảnh chiếc thuyền ngoài xa giữa trời biển mờ sương kia, Phùng đã bắt gặp cái
phắc như tượng trên chiếc mui khum khum, đang hướng vào bờ”.
+ Toàn bộ khung cảnh đều hài hòa, một vẻ đẹp thực đơn giản và toàn bích. Nó khiến Phùng cảm thấy “bối rối” và “tim như có cái gì bóp thắt vào”, Phùng phát hiện ra “bản thân cái đẹp chính là đạo đức”.
- Cái xấu của đời sống: là vợ chồng hàng chài với vẻ mệt mỏi, tái ngắt, mất ngủ sau một đêm dài kéo lưới.
Cái xấu cũng có thể làm cái đẹp bị khuất lấp.
- Cái xấu: là cảnh bạo lực gia đình + Người chồng đánh vợ một cách dã man: hắn “rút trong người ra một chiếc thắt lưng quật tới tấp vào người đàn bà, vừa đánh vừa thở hồng hộc, hai hàm răng nghiến ken két, vừa đánh lão vừa nguyền rủa bằng cái giọng rên rỉ: Chúng mày chết hết đi.
Chết hết đi cho ông nhờ.”
+ Người vợ thì im lặng, nhẫn nhịn chịu đòn, không kêu ca, không chống trả, không tìm cách chạy trốn.
+ Người con vì thương mẹ, muốn bảo vệ khỏi đòn roi nên đã “giằng lấy chiếc thắt lưng quật vào giữa khuôn ngực trần vạm vỡ cháy nắng của bố”.
Từ tình huống 1: Phùng nhận ra rằng để hiểu được sự thật đời sống không thể nhìn một cách đơn giản,
“Chân – Thiện – Mĩ” của cuộc đời. Nhưng bước ngoặt trong nhận thức của người nghệ sĩ được tác giả khắc họa thật sâu sắc qua sự đối lập giữa “cái thấy phút trước” với “cái thấy phút sau”. Chính vào cái khoảnh khắc tâm hồn thánh thiện đang dào dạt thăng hoa, bay bổng như thế, anh phải bất ngờ khi thấy bước ra từ chiếc thuyền đẹp như mơ là đôi vợ chồng hàng chài với vẻ mệt mỏi, tái ngắt, mất ngủ sau một đêm dài thức trắng kéo lưới. Người vợ thì cao lớn với những đường nét thô kệch, xấu xí, mặt chằng chịt những nốt rỗ, tấm lưng áo thì bạc phếch và rách rưới; còn người chồng đi sau với tấm lưng rộng, mái tóc tổ quạ, chân đi chữ bát, hàng lông mày cháy nắng rủ xuống hai con mắt đầy vẻ độc dữ.
Anh còn kinh ngạc hơn nữa và nhận ra cái xấu cũng có thể làm cái đẹp bị khuất lấp khi chứng kiến cảnh người đàn ông vừa dừng lại đã “ngay lập tức trở nên hùng hổ, mặt đỏ gay”, hắn “rút trong người ra một chiếc thắt lưng” và “quật tới tấp vào lưng người đàn bà, vừa đánh vừa thở hồng hộc, hai hàm răng nghiến ken két, vừa đánh lão vừa nguyền rủa bằng cái giọng rên rỉ: Chúng mày chết hết đi. Chúng mày chết hết đi cho ông nhờ”. Còn người vợ thì im lặng chịu đòn, không kêu ca, không chống trả, không chạy trốn. Chưa kịp can thiệp thì Phùng lại phải ngỡ ngàng hơn trước cảnh thằng bé Phác, con trai của vợ chồng hàng chài “nhanh như một viên đạn” nó lao thẳng vào ông bố, “giằng lấy cái thắt lưng quật thẳng vào ngực bố” để bảo vệ người mẹ đáng thương, tội nghiệp. Người đàn bà hàng chài dù bị chồng đánh cũng không cảm thấy đau, nhưng sao lúc này chị mới cảm thấy đau đớn – vừa đau đớn vừa vô cùng xấu hổ nhục nhã. Chị đau đớn vì đã làm con bị tổn thương khi chứng kiến cảnh bạo lực gia đình, cảnh bố đánh mẹ, và càng đau đớn vì phản ứng của con với bố.
Cảnh bạo lực trong gia đình hàng chài khiến Phùng nhận ra rằng để hiểu được sự thật đời sống không thể nhìn một cách đơn giản, người nghệ sĩ phải có cái nhìn đa chiều và sâu sắc hơn. Bởi, hóa
người nghệ sĩ phải có cái nhìn đa chiều và sâu sắc hơn.
+ Đằng sau một vẻ đẹp “toàn bích”
của nghệ thuật không phải là “đạo đức” hay “chân lý của sự toàn thiện”
mà là cuộc đời.
+ Nghệ thuật phải bắt nguồn từ cuộc sống và phải nhìn cuộc sống từ nhiều khía cạnh.
Tình huống 2: Nhận thức giữa con người và cuộc đời. Câu chuyện về cuộc đời người đàn bà hàng chài nghèo khổ, lam lũ mở ra nhiều triết lý sâu sắc đáng để ta suy ngẫm.
(câu chuyện ở tòa án huyện)
- Lúc mới đến tòa án: người đàn bà được mời lên để giải quyết việc gia đình, chị rất “lúng túng, lo sợ”.
+ Chị van xin đừng bắt chị bỏ chồng: “Quý tòa bắt tội con cũng được, bỏ tù con cũng được. Nhưng đừng bắt con bỏ nó”.
+ Chị chấp nhận mọi hình phạt của pháp luật, kể cả khung hình phạt cao nhất là đi ở tù nhưng dứt khoát không chịu bỏ chồng. Điều này khiến Phùng và Đẩu ngạc nhiên không hiểu nổi.
ra đằng sau vẻ đẹp “toàn bích” đầy nghệ thuật mà anh vừa chụp được trên mặt biển lại chẳng phải là
“đạo đức” hay “chân lý của sự toàn thiện” mà là sự tồn tại của cái ác, cái xấu, của nỗi đau khổ, tủi nhục. Phùng cay đắng nhận thấy cái ác, nỗi khổ trong gia đình hàng chài kia như thứ thuốc rửa quái đản làm cho những thước phim huyền diệu mà anh dày công chụp được bỗng hiện lên thật ghê sợ. Phải chăng nghệ thuật phải bắt nguồn từ cuộc đời, nhưng lại có một khoảng cách quá xa với cuộc đời. Cuộc đời không đơn giản xuôi chiều mà luôn chứa đựng những nghịch lí, và con người cũng đầy những phức tạp, bí ẩn không dễ để nhận thức, lý giải một cách đơn thuần được.
Không chỉ ngạc nhiên trước thái độ nhẫn nhịn của người đàn bà hàng chài, khi bị chồng hành hạ một cách dã man mà người nghệ sĩ còn không thể hiểu nổi cách ứng xử của chị ở tòa án huyện. Trong suy nghĩ của Phùng và Đẩu, người đàn bà tội nghiệp ấy chắc chắn sẽ chấp thuận giải pháp bỏ chồng mà họ đưa ra để được giải thoát khỏi bạo lực từ người chồng vũ phu. Nhưng thật bất ngờ, vì người đàn bà khốn khổ kia nhất quyết không chịu bỏ chồng. Khi nghe vị chánh án thuyết phục ly hôn chồng, chị
“chắp tay vái lạy lia lịa”, cầu xin “quý tòa bắt tội con cũng được, phạt tù con cũng được, đừng bắt con bỏ nó”. Trước lời cầu xin khẩn thiết ấy, Phùng cảm thấy bức bối đến ngạt thở “gian phòng lòng lộng gió biển của Đẩu tự nhiên bị hút hết không khí, trở nên ngột ngạt quá”. Phùng và Đẩu đều cho rằng họ đúng vì đã bảo vệ người phụ nữ kia bằng cả thiện chí và pháp luật. Họ đinh ninh chồng chị là kẻ xấu và ly hôn hắn là giải pháp tốt nhất. Họ cũng tin chắc người phụ nữ này là người tối tăm, ngu muội đến mức không nhận biết được lòng tốt của họ. Vì thế, Đẩu và Phùng không thể giấu sự bực bội và thất vọng.
Chỉ đến khi người đàn bà lam lũ quyết định bày tỏ những nỗi niềm thì họ mới thấy những sai lầm của mình trong nhận thức và giải quyết vấn đề.
- Sau đó, câu chuyện về cuộc đời người đàn bà dần dần được hé mở.
+ Chị đột ngột thay đổi cách xưng hô, xưng “chị” và gọi Phùng, Đẩu là
“các chú”.
+ Chị cảm ơn “lòng tốt” của Phùng và Đẩu nhưng cũng thẳng thắn phê bình cách nhìn nhận một chiều của
“các chú”.
Chị giải thích lý do nhất quyết không ly hôn người chồng vũ phu:
Thứ nhất: là vì thiên chức của người làm mẹ không cho phép.
+ Vì “ông trời sinh ra người đàn bà đẻ con và nuôi con khôn lớn”.
+ Đàn bà phải sống vì con: “đàn bà ở thuyền chúng tôi phải sống cho con chứ không phải sống cho mình như ở trên đất được”.
+ Nếu bỏ chồng: đàn con của chị sẽ chịu cảnh bơ vơ, đói khát vì không có bố cùng làm ăn để nuôi con khôn lớn.
Thứ hai: chị muốn thấy đàn con của mình khôn lớn và vợ chồng không phải lúc nào cũng chỉ có đòn roi.
+ Hạnh phúc nhất là khi được nhìn thấy đàn con được ăn no.
Người đàn bà hàng chài đột nhiên “mất hết cái vẻ bề ngoài khúm núm, sợ sệt khi mới được gọi lên ở tòa án huyện với điệu bộ khác, ngôn ngữ khác”. Chị tâm sự với họ như với những người cận, với những lời lẽ chân tình được chiêm nghiệm trong cả cuộc đời đầy lo toan, vất vả của chị: “Các chú đâu có phải là người làm ăn.. cho nên các chú đâu có hiểu được cái việc của các người làm ăn lam lũ, khó nhọc...”. Chị nhấn mạnh: “Là bởi vì các chú không phải là đàn bà, chưa bao giờ các chú biết như thế nào là nỗi vất vả của người đàn bà trên một chiếc thuyền không có đàn ông...”
Người đàn bà đã kể câu chuyện cuộc đời mình, qua đó gián tiếp đưa ra các lý do vì sao chị nhất quyết không bỏ người chồng vũ phu. Vì theo chị thì
“ông trời sinh ra người đàn bà đẻ con và nuôi con khôn lớn”. Chị quan niệm: “đàn bà ở thuyền chúng tôi phải sống cho con chứ đâu phải sống cho mình như ở trên đất được”. Và cuộc sống chài lưới đầy những bất trắc, khó khăn, nơi biển cả hay phải đối mặt với phong ba bão táp. Họ cần có cánh tay người đàn ông để chèo chống mỗi khi biển động, làm chỗ dựa cho mình và cho cả đàn con. Vậy nên, nếu bỏ người đàn ông ấy, chị phải đối mặt với bi kịch khác khủng khiếp hơn nhiều lần: là bi kịch của những đứa con phải chịu cảnh đói khát. Hơn nữa, nếu bỏ chồng chị sẽ được giải thoát khỏi những trận đòn vô lý nhưng bất kỳ một cuộc hôn nhân tan vỡ nào thì người buồn đau nhất chính là những đứa con. Đứa có bố thì mất mẹ, đứa có mẹ thì mất bố, chia đàn xẻ nghé. Một gia đình hạnh phúc trước tiên phải là gia đình đầy đủ các thành viên dù đâu đó trong gia đình vẫn còn nhiều khiếm khuyết.
Mặt khác, trong đau khổ triền miên, người đàn bà ấy vẫn chắt lọc được những niềm vui nhỏ nhoi, hiếm hoi như châu ngọc, lần đầu tiên trên khuôn mặt xấu xí của chị chợt ửng sáng lên như một nụ cười, chị nói: “Vả lại, ở trên thuyền cũng có lúc vợ chồng con cái chúng tôi sống hòa thuận vui vẻ, vui nhất là lúc ngồi nhìn đàn con tôi chúng nó được ăn no”. Niềm
+ Và “vợ chồng cũng có lúc hòa thuận, vui vẻ”.
Thứ ba: đối với người chồng chị có một cái nhìn của một người mang hàm ơn và đầy cảm thông, thấu hiểu.
Mang hàm ơn:
+ Anh đã cho chị một mái ấm gia đình, có đầy đủ chồng và những đứa con. Mặc dù chị là người đàn bà xấu xí, lầm lỡ.
Cảm thông và thấu hiểu:
+ Vì gia đình nghèo đói, thuyền chật con đông “trên dưới chục đứa, chen chúc nhau trên một chiếc thuyền nhỏ”
quanh năm lênh đênh trên biển.
+ Vì gánh nặng mưu sinh và không tìm được cách giải tỏa nào khác:
“cũng như đàn ông thuyền khác uống rượu... Giá mà lão uống rượu... thì tôi còn đỡ khổ”.
Như vậy, chị nhất quyết không ly hôn người chồng vũ phu vì chị hiểu nguyên nhân vì sao: Từ một gã con trai “hiền lành”, chồng chị trở thành một người vũ phu. Tất cả cũng chỉ vì gánh nặng cơm áo gạo tiền, gánh nặng của cuộc sống mưu sinh.
hạnh phúc thật nhỏ nhoi, tội nghiệp nhưng với chị, nó thật thiêng liêng, lớn lao và vì nó mà chị sẵn sàng đánh đổi mọi thứ để nâng niu, gìn giữ.
Còn đối với người chồng vũ phu, chị có một cái nhìn đầy cảm thông, chia sẻ và đôi chút hàm ơn.
Trong quá khứ, chị vốn là một cô gái xấu xí, thô kệch, đã một lần dang dở, nhỡ nhàng, không ai lấy.
Và anh đã đến như một cơn gió cứu rỗi đời chị, anh cho chị một mái ấm gia đình và những đứa con. Còn gì hạnh phúc hơn đối với một người đàn bà là có một mái ấm để về và có những đứa con để yêu thương.
Chỉ vì thời chiến, việc phải trốn lính triền miên khiến cho gia đình ngày càng trở nên nghèo khổ, túng quẫn. Những khi biển động, cả tháng trời, cả nhà phải ăn cây xương rồng luộc chấm muối cho qua bữa. Đến khi cách mạng về, gia đình của họ đã trở thành một gánh nặng mưu sinh dồn hết lên vai người chồng. Chị kể: “Bất cứ lúc nào thấy khổ quá là lão xách tôi ra đánh cũng như đàn ông khác trên thuyền uống rượu. Giá mà lão uống rượu... thì tôi còn đỡ khổ”. Thì ra, đánh vợ là cách duy nhất hoặc không còn cách nào khác để người chồng khốn khổ giải tỏa những áp lực, khó khăn, nhọc nhằn, bế tắc trong cuộc sống đầy cay cực, vất vả này chứ không phải vì thù ghét vợ mà đánh.
Qua những lời lẽ của người đàn bà, người chồng vũ phu của chị hiện lên một cách toàn diện và chân thực hơn. Ông ta vừa đáng giận lại vừa đáng thương, vừa đáng trách cũng vừa đáng cảm thông, vừa đáng bị trừng phạt nhưng cũng vừa đáng được tha thứ bởi ông vừa có tội lại vừa có công với gia đình này... Và đó cũng chính là lý do, vì sao người đàn bà hàng chài dù bị đánh triền miên, bị đánh vô tội vạ nhưng nhất quyết không chấp nhận giải pháp ly hôn chồng.
vì chị hiểu nguyên nhân vì sao: Từ một gã con trai
“hiền lành”, chồng chị trở thành một người vũ phu.
Tất cả cũng chỉ vì gánh nặng cơm áo gạo tiền, gánh nặng của cuộc sống mưu sinh.