BÀI TẬP CỦNG CỐ
V. PHÂN BIỆT CÁC THỂ THƠ
1. Những cung bậc trạng thái của sóng,
đồng thời cũng là những cung bậc cảm xúc của người phụ nữ khi yêu.
(Khổ 1 + khổ 2 + khổ 3 + khổ 4) Khổ 1: Những cung bậc trạng thái của sóng và cũng là những cung bậc cảm xúc của người phụ nữ khi yêu.
- 2 câu đầu: Những trạng thái đối lập, khác nhau của sóng.
Dữ dội và dịu êm Ồn ào và lặng lẽ
+ Nghệ thuật đối lập: “dữ dội – dịu êm”;
“ồn ào – lặng lẽ” gợi lên những trạng thái khác nhau của sóng.
+ Phép ẩn dụ: “sóng” là hình ảnh ẩn dụ cho những cung bậc cảm xúc người phụ nữ khi yêu.
+ Điệp từ “và” kết nối hai trạng thái đối lập làm cho những cung bậc của sóng, những cung bậc trạng thái của người phụ nữ khi yêu trở nên hài hòa.
- 2 câu sau: Diễn tả hành trình vươn tới biển lớn của sóng.
Sông không hiểu nổi mình Sóng tìm ra tận bể
+ Biện pháp nhân hóa: diễn giải hành trình đi tìm biển lớn của sóng.
+ Phép ẩn dụ: Hành trình vươn tới tình yêu rộng lớn, cao cả của em. Em cũng như sóng không cam chịu một tình yêu nhỏ bé, tầm thường, tù túng, chật hẹp mà sẵn sàng vươn tới tình yêu cao cả, rộng lớn.
Mở đầu bài thơ là những cung bậc trạng thái khác nhau của sóng, đồng thời đó cũng là những trạng thái tâm lý đặc biệt của người phụ nữ khi yêu: “Dữ dội và dịu êm - Ồn ào và lặng lẽ”. Bằng nghệ thuật đối lập, nhà thơ đã gợi lên vẻ đẹp của những con sóng biển với những trạng thái khác nhau: “dữ dội” –
“dịu êm”, “ồn ào” – “lặng lẽ”. Những lúc bão tố phong ba thì biển “dữ dội”, “ồn ào”
còn khi sóng gió qua đi, biển lại quay trở về với vẻ hiền hòa vốn có của mình “dịu êm” –
“lặng lẽ”. Ẩn đằng sau những cung bậc trạng thái đối lập nhau của sóng là cái tôi trữ tình của nhà thơ, đó là những cung bậc cảm xúc của em. Tính khí của người con gái khi yêu cũng như sóng vậy: lúc “dữ dội, ồn ào”, với những ghen tuông hờn dỗi khi lại thu mình trở về với vẻ nữ tính, duyên dáng “dịu êm, lặng lẽ” vốn có của mình. Để kết nối giữa những trạng thái đối lập của sóng cũng như của em nhà thơ đã sử dụng liên từ kết nối
“và” làm cho những cung bậc cảm xúc ấy tuy đối lập nhưng lại rất hài hòa, dễ thương.
Nhà thơ sử dụng biện pháp nghệ thuật nhân hóa để nói đến hành trình đi tìm biển lớn của sóng: “Sông không hiểu nổi mình/
Sóng tìm ra tận bể”. “Sông” là không gian chật hẹp, tù túng; “Bể” là biển, là khoảng không rộng lớn, bao la. Chính vì quá chật hẹp và tù túng nên sông không hiểu nổi những đam mê, những khát vọng lớn lao của sóng, vậy nên sóng đã quyết vươn ra đại dương bao la để thỏa sức vùng vẫy, để tìm thấy sức sống mạnh mẽ của mình với những giá trị đích thực. Tình yêu của em cũng vậy, em không cam chịu sự tầm thường, nhỏ hẹp, em muốn vươn tới cái lớn lao để hiểu sâu hơn về tâm hồn mình, về tình yêu dành cho anh. Đây là một quan niệm mới mẻ, hiện đại trong tình
+ Đây là một quan niệm mới mẻ, hiện đại trong tình yêu: người con gái thời hiện đại, không đứng yên thụ động mà chủ động vươn tới những điều cao cả, rộng lớn.
Khổ 2: Tình yêu mãi là khát vọng, là những rung động, bồi hồi trong nhịp đập trái tim tuổi trẻ.
- 2 câu đầu: quy luật tự nhiên của sóng:
Ôi con sóng ngày xưa Và ngày sau vẫn thế
+ Thán từ: “Ôi” thể hiện nỗi thổn thức của trái tim đang yêu khi nhận ra quy luật muôn đời của sóng biển với những cung bậc trạng thái khác nhau.
+ Nghệ thuật đối lập: giữa con sóng
“ngày xưa – ngày sau”. Sóng là thế, muôn đời vẫn thế, vẫn luôn mang trong mình những cung bậc khác nhau như tình yêu tuổi trẻ, không bao giờ đứng yên.
- 2 câu sau: nhà thơ khẳng định tình yêu luôn song hành cùng tuổi trẻ:
Nỗi khát vọng tình yêu Bồi hồi trong ngực trẻ
+ Tính từ chỉ trạng thái: “khát vọng – bồi hồi” diễn tả nhịp sống trong lồng ngực tuổi trẻ. Nếu đại dương bao la vô tận mang nhịp đập sóng biển thì trong lồng ngực tuổi trẻ lại thổn thức với muôn điệu yêu thương.
+ Tuổi trẻ sinh ra là để yêu, tình yêu làm cho tuổi trẻ phải bồi hồi, xao xuyến.
yêu: tình yêu của người con gái hiện đại không thụ động khi yêu mà chủ động vươn tới những điều cao cả, vĩ đại. Thật mạnh bạo mà cũng thật quyết liệt!
Nỗi khát vọng tình yêu, luôn rạo rực trong trái tim con người và trong quan niệm của Xuân Quỳnh là khát vọng muôn đời của nhân loại mà quyết liệt nhất là tuổi trẻ. Nó cũng như sóng, mãi mãi trường tồn, vĩnh hằng với thời gian và không gian. Từ ngàn đời xưa, con người đã đến với tình yêu và mãi mãi vẫn cứ đến với tình yêu như một chân lý không thể thay đổi, như nhà thơ Xuân Diệu từng viết: “Làm sao sống được mà không yêu – Không nhớ, không thương một kẻ nào”. Ngay đầu đoạn thơ thứ 2, tác giả sử dụng thán từ “Ôi” như một tiếng nấc thổn thức khi nhận ra sự nhiệm màu của đất trời.
Cùng với đó, là nghệ thuật đối lập giữa “ngày xưa” – “ngày sau” lại càng làm tôn thêm vẻ đẹp của sóng. Sóng là thế, muôn đời vẫn thế không bao giờ thay đổi, vẫn “dữ dội” - “dịu êm”, vẫn “ồn ào” - “lặng lẽ” như tình yêu tuổi trẻ, không bao giờ đứng yên.
Đúng vậy, tình yêu luôn luôn song hành cùng tuổi trẻ, tuổi trẻ mãnh liệt nhất là khi yêu, vì tình yêu mà sẵn sàng dâng hiến, sẵn sàng bất chấp tất cả. Bởi đó là giai đoạn đẹp nhất của đời người, giai đoạn mà người ta ví
“thanh xuân như một cơn mưa rào, dù cho bạn từng bị cảm lạnh vì tắm mưa thì bạn vẫn muốn được đắm mình trong cơn mưa ấy lần nữa”. Nếu đại dương bao la vô tận mang nhịp đập của những con sóng biển thì trong lồng ngực của tuổi trẻ lại thổn thức với muôn nhịp điệu của yêu thương, ở đó là: “Nỗi khát vọng tình yêu/ Bồi hồi trong ngực trẻ”. Tình yêu là khát vọng, là ước mơ của biết bao người và tình yêu làm cho tuổi trẻ phải “bồi hồi”, “xao xuyến”, phải nhớ nhung điên
+ Những cảm xúc “xao xuyến”, “bồi hồi”
chính là gia vị ngọt ngào trong tình yêu, nó đã tạo nên cái “bồi hồi trong ngực trẻ”.
Khổ 3: Những băn khoăn, suy nghĩ về sự khởi nguồn của tình yêu khi đứng trước biển lớn.
Trước muôn trùng sóng bể Em nghĩ về anh, em
Em nghĩ về biển lớn Từ nơi nào sóng lên?
+ Điệp ngữ “Em nghĩ”: 2 lần, thể hiện nỗi niềm băn khoăn của nữ thi sĩ.
+ Nỗi niềm băn khoăn, trăn trở của nhà thơ hoàn toàn có căn cứ khi đứng trước
“muôn trùng sóng bể” và nghĩ về tình yêu của mình.
+ Câu hỏi tu từ: “Từ nơi nào sóng lên?”
là tiền đề cho những suy tư, trăn trở ở khổ thơ thứ tư.
Khổ 4: Lý giải nguồn gốc của sóng, qua đó nhà thơ tự bâng khuâng về khởi nguồn của tình yêu:
Sóng bắt đầu từ gió Gió bắt đầu từ đâu Em cũng không biết nữa Khi nào ta yêu nhau
cuồng, mà chính xác hơn phải nói là “cuộc sống này sẽ thật vô vị nếu không có dư vị ngọt ngào của tình yêu”. Phải yêu, phải say đắm trong tình yêu, trong ánh mắt của kẻ si tình thì người ta mới hiểu được cái cảm giác “bồi hồi” trong lồng ngực là như thế nào!
Đứng giữa biển rộng mênh mông, con người ta thường cảm thấy choáng ngợp, lo sợ trước sự hùng vĩ của nó. Và chính điều đó, làm cho nữ thi sĩ cảm thấy băn khoăn, trăn trở về tình yêu của mình. Sự trăn trở, âu lo đó hoàn toàn có căn cứ được thể hiện qua khổ thơ thứ 3, với hai lần điệp ngữ “Em nghĩ...
Em nghĩ...”. “Em nghĩ về anh, em/ Em nghĩ về biển lớn”, nghĩ về “biển lớn” là nghĩ về những điều lớn lao, về nguồn gốc bí ẩn của tự nhiên là sóng; nghĩ về “anh và em” là nghĩ về khởi nguồn tình yêu đôi lứa, nghĩ về tình yêu của chúng ta. Sóng vì nhớ bờ mà vượt qua muôn trùng hải lý để hướng về bờ. Liệu rằng, tình yêu của anh có đủ lớn để vượt qua sóng gió, vượt qua khó khăn thử thách để luôn hướng về em như sóng biển được không? Những suy nghĩ ấy, những trăn trở ấy cuối cùng được dồn trong một câu hỏi tu từ cuối khổ thơ “Từ nơi nào sóng lên?”. Đây cũng là câu hỏi làm tiền đề cho những suy tư, trăn trở của nhà thơ Xuân Quỳnh trong tình yêu ở khổ thơ thứ tư.
Mọi quy luật tự nhiên đều có sự minh chứng, lý giải từ các nghiên cứu khoa học:
Sóng bắt đầu từ gió, gió bắt đầu từ sự di chuyển của không khí, từ nơi có áp suất cao xuống nơi có áp suất thấp, cũng như nước chảy từ chỗ cao xuống chỗ thấp. Vậy mà, Xuân Quỳnh lại không thể lý giải được nguồn gốc của gió và đành lắc đầu bất lực:
“Em cũng không biết nữa”. “Không biết” ở đây không có nghĩa là Xuân Quỳnh không hiểu gió bắt đầu từ đâu mà khi đứng trước sự
+ Câu thơ đầu: Lý giải nguồn gốc của sóng là từ gió, nghĩa là sóng biển là do gió, nhờ có gió mà sóng lên.
+ Câu thơ thứ 2, 3: nhà thơ lại không lý giải được nguồn gốc của gió và đành lắc đầu bất lực “Em cũng không biết nữa”.
+ Câu thơ cuối “Khi nào ta yêu nhau?”, nữ thi sĩ băn khoăn tự hỏi về khởi điểm tình yêu của mình.
Liên hệ: Như ông hoàng của thơ tình, Xuân Diệu cũng từng băn khoăn định nghĩa về tình yêu:
“Đố ai định nghĩa được tình yêu”
Hay: “Làm sao cắt nghĩa được tình yêu?”
+ Đối với tình yêu chân thành không toan tính, không vụ lời thì càng yêu say đắm, càng say đắm thì càng khó lý giải mà không thể lý giải thì càng lại thiêng liêng và cao quý.