Tình huống truyện “Vợ nhặt”

Một phần của tài liệu KIẾN THỨC TRỌNG tâm văn 12 (Trang 178 - 183)

MỘT SỐ ĐỀ LUYỆN TẬP

4. Tình huống truyện “Vợ nhặt”

“Vợ nhặt” – có lẽ cái tên đã nói lên tất cả. Bởi người ta chỉ nói “cưới vợ” hoặc “lấy vợ” chứ chẳng ai nói “nhặt vợ” bao giờ. Nhưng ở đời, mấy ai học được chữ ngờ và cũng chẳng ai có thể lường trước được chuyện gì có thể xảy ra. Nhất là trong lúc cái đói cái khổ đang hoành hành khắp nơi, khắp chốn, khi mà sự sống đang rơi vào tình trạng “ngàn cân treo sợi tóc”, khi mà cái đói có thể vùi dập con người ta bất cứ lúc nào. Thậm chí, cái mùi gây gây của xác chết lúc nào cũng len lỏi khắp đường khắp chợ. Người ta còn chẳng thèm chôn mấy cái xác nằm ươn thối ra đấy vì đói.

4.1. Tình huống truyện đầy sáng tạo và độc đáo, bất ngờ.

Giữa lúc nạn đói đang hoành hành khắp nơi, một anh nông dân nghèo khổ tên Tràng, là dân ngụ cư, nghèo khổ, đói rách, sống cùng với mẹ già, làm nghề đẩy xe bò thuê. Khi kéo xe lên dốc. Anh

Chính vì vậy, với tấm lòng đầy thương xót và ngòi bút nhân đạo của mình, nhà văn Kim Lân tái hiện bức tranh ngày đói một cách hết sức chân thật qua tình huống truyện đầy sáng tạo và độc đáo với cái tên “Vợ nhặt”: Tràng là một anh nông dân nghèo khổ, là dân ngụ cư, làm nghề đẩy xe bò. Hôm ấy, khi kéo xe lên dốc. Anh hò

hò một câu chơi cho đỡ nhọc, ai ngờ có người đàn bà đói chạy ra đẩy xe cùng anh. Sau hai lần gặp, người đàn bà ấy đã đồng ý đi theo không Tràng về làm vợ.

Việc Tràng có vợ giữa ngày đói đã gây ngạc nhiên cho cả xóm ngụ cư, cho bà cụ Tứ và cho cả chính Tràng. Cũng nhờ có vợ mà không khí gia đình Tràng như có sinh khí. Họ lạc quan hơn, tin tưởng hơn vào tương lai tương sáng phía trước.

4.2. Tình huống góp phần bộc lộ sâu sắc tâm trạng, tính cách các nhân vật:

Anh cu Tràng quyết định “nhặt vợ”:

+ Mới đầu: cũng chợn nghĩ: “Thóc gạo này đến cái thân mình cũng chả biết có nuôi nổi không, lại còn đèo bòng”. Sau đó: tặc lưỡi “Chậc! Kệ” – quyết định đưa người đàn bà đói rách về làm vợ.

+ Xử sự một cách đầy ân tình: Đưa vợ vào hàng cơm chén một bữa no nê, mua cho thị một cái thúng con, bỏ ra hai hào mua dầu thắp cho sáng.

 Ở Tràng không hề có một thái độ khinh mà đầy trân trọng. Đó là sự đồng cảm, tương thân, tương ái với người đang đứng trên bờ vực thẳm.

- Tâm trạng trên đường về nhà: Phớn phở khác thường. Tủm tỉm cười một mình và hai mắt thì sáng lên lấp lánh.

 Niềm vui sướng, hạnh phúc khi có một mái ấm riêng cho mình.

một câu chơi cho đỡ nhọc “Muốn ăn cơm trắng mấy giò – Lại đây đẩy xe bò với anh”. Ai ngờ có người đàn bà đói chạy ra đẩy xe cho anh. Sau hai lần gặp, người đàn bà ấy đã đồng ý đi theo không Tràng về làm vợ. Việc Tràng có vợ giữa ngày đói đã gây ngạc nhiên cho cả xóm ngụ cư, cho bà cụ Tứ và cho cả chính Tràng. Cũng nhờ có vợ mà không khí gia đình Tràng như có sinh khí. Họ lạc quan hơn, tin tưởng hơn vào tương lai tương sáng phía trước.

Tình huống truyện độc đáo góp phần bộc lộ sâu sắc tâm trạng, tính cách các nhân vật. Trước tiên là anh cu Tràng. Mới đầu anh cũng chợn nghĩ: “thóc gạo này đến cái thân mình cũng chả biết có nuôi nổi không lại còn đèo bòng”.

Nhưng ngay sau đó, Tràng lại tặc lưỡi: “Chậc!

Kệ!”. Và nghiễm nhiên, họ trở thành vợ chồng, không một cuộc hẹn hò, không cỗ bàn, không cau trầu, chỉ qua một vài lời bông đùa hiếm họa thì cũng đôi lần ánh mắt thẹn thùng, ngượng ngùng. Rồi Tràng đưa vợ vào hàng cơm chén một bữa no nê; dẫn thị vào chợ tỉnh mua cho một cái thúng con; chi hẳn hai hào mua dầu về thắp cho sáng. Nhà văn không nhắc nhiều đến chi tiết Tràng mua những gì cho vợ, nhưng nhìn vào thực tế cảnh đói lúc ấy, Tràng đã quá rộng lượng, quá phóng khoáng và ga lăng. Ở Tràng không hề có một thái độ khinh bỉ hay miệt thị mà đầy trân trọng với người vợ của mình. Đó là sự đồng cảm, tương thân tương ái với người đang đứng trên bờ của vực thẳm.

Trên đường về nhà, tâm trạng Tràng khác hẳn: niềm khao khát hạnh phúc biến đổi Tràng từ một người thô kệch, vụng về trở thành người đàn ông thực sự với những cảm xúc lâng lâng.

Khác hẳn với vẻ mệt mỏi hàng ngày, hôm nay trên nét mặt Tràng có “vẻ gì phớn phở khác thường, hắn tủm tỉm cười một mình và hai con mắt thì sáng lên lấp lánh”.

- Tâm trạng sau đêm tân hôn: Tràng thấy người “êm ái, lửng lơ như từ giấc mơ đi ra”. Tràng thấy thấm thía và cảm động “bỗng nhiên hắn thấy yêu thương, gắn bó với cái nhà của hắn lạ lùng”.

Tràng thấy “nên người và có trách nhiệm với vợ con”.

 Cuộc sống có vợ, có gia đình khiến Tràng trở thành người khác hẳn:

trưởng thành hơn, chín chắn hơn và trách nhiệm hơn.

- Tràng ý thức và tìm được con đường đi mới cho lương lai: Hình ảnh đoàn người kéo nhau đi trên đê Sộp phía trước là“hình ảnh lá cờ đỏ bay phấp phới”.

Bà cụ Tứ

- Ngạc nhiên, lo lắng: Ngạc nhiên với thái độ khác thường của con trai “lật đật, đon đả”. Lo lắng, phấp phỏng khi có người lạ trong nhà, lại đứng ở đầu giường con mình.

- Vừa thương xót con vừa oán giận bản thân: Bà thương xót cho đứa con, nhờ cảnh đói khát mới có được vợ. Bà buồn tủi vì tự trách bản thân không làm tròn trách nhiệm người mẹ. Bà cũng cảm thông cho người cùng cảnh đói khổ, vì khốn cùng “mới lấy đến con” bà.

- Tâm trạng của người mẹ già luôn khao khát hạnh phúc: Bà bằng lòng cho đôi con trẻ “phải duyên phải kiếp với nhau, u cũng mừng lòng”. Động viên, an ủi các con bằng triết lý, bằng niềm tin

“Ai giàu ba họ, ai khó ba đời”.

Sau đêm tân hôn, Tràng thấy trong người

“êm ái, lửng lơ như từ giấc mơ đi ra”. Bởi việc Tràng có vợ diễn ra quá nhanh chóng, khiến Tràng là người trong cuộc còn không tin nổi đây là sự thật, mà chính Tràng cũng chẳng ngờ được mình có thể lấy được vợ trong hoàn cảnh bình thường, huống hồ chi lại lấy được vợ trong cái tình cảnh khốn khó này. Sau khi định hình lại, Tràng thấy thấm thía và cảm động “bỗng nhiên hắn thấy yêu thương, gắn bó với cái nhà của hắn lạ lùng”. Tràng thấy “nên người và có trách nhiệm chăm lo cho gia đình, mẹ già và vợ con”. Cuộc sống có gia đình khiến Tràng trở thành người khác hẳn, trưởng thành, chín chắn và trách nhiệm hơn. Đặc biệt, thông tin mà người vợ cung cấp, anh ý thức và tìm được con đường đi mới cho tương lai, với hình ảnh đoàn người ầm ầm kéo nhau đi trên đê Sộp, phía trước là “hình ảnh lá cờ đỏ bay phấp phới”.

Người ngạc nhiên tiếp theo đó là bà cụ Tứ - mẹ của Tràng, ở người mẹ này sự ngạc nhiên còn đi cùng sự xót thương đầy tủi hờn. Chính bà cũng ngỡ ngàng đến mức không thể tin vào mắt mình, bởi lúc đầu bà còn đang rất lo lắng với thái độ khác thường của con trai “hôm nay bỗng nhiên lại lật đật đon đả”. Rồi khi thấy có người lạ đứng ở đầu giường con, bà đã phấp phỏng lo sợ. Bà cũng không thể ngờ rằng: trong tình cảnh đói khổ thế này mà con mình cũng lấy được vợ.

Rồi cái đói, cái khổ cứ quẩn quanh thế này thì đến bao giờ vợ chồng chúng nó mới khấm khá lên được. Vừa thương xót con bà vừa oán giận bản thân đã không làm tròn trách nhiệm của người mẹ. Lòng người mẹ đã trải qua bao giông tố của cuộc đời cũng đủ hiểu và thông cảm cho nàng dâu mới, cũng vì khốn cùng “mới lấy đến con bà”. Người mẹ già gần đất xa trời này vẫn luôn khao khát đến hạnh phúc. Bà bằng lòng cho đôi con trẻ “phải duyên phải kiếp với nhau”. Rồi động viên các con bằng triết lý, bằng niềm tin mãnh liệt: “Ai giàu ba họ, ai khó ba

- Tâm trạng của người luôn hướng tới ánh sáng tương lai: Bà dậy sớm cùng con dâu dọn dẹp nhà cửa cho quang quẻ.

Cái mặt bủng beo u ám hàng ngày nay bỗng “rạng rỡ hẳn lên”.

+ Bữa cơm ngày đói “thật ảm đạm”

nhưng bà nói toàn chuyện vui, toàn chuyện sung sướng sau này.

 Trong hoàn cảnh khốn cùng vì nghèo đói nhưng người mẹ nghèo không nghĩ tới cái chết mà luôn hướng về sự sống, về tương lai.

Người vợ nhặt: sau đồng ý theo Tràng về làm vợ, thị có sự thay đổi hẳn:

+ Trên đường về nhà: thị rón rén, e thẹn, cúi đầu ngượng ngùng.

+ Sau đêm tân hôn: không còn vẻ chao chát, chỏng lỏn. Dậy sớm quét tước, dọn dẹp, thu vén cho gia đình.

4.3. Tình huống truyện gây ngạc nhiên cho tất cả mọi người.

- Cả xóm ngụ cư:

+ Họ nhìn theo bóng Tràng và người đàn bà, mỗi người một suy nghĩ khác nhau, ai cũng ngạc nhiên, phân vân; rồi người than vãn: “Ôi chao! Giời đất này còn rước cái của nợ đời về. Biết có nuôi nổi nhau qua được cái thì này không?”.

đời”, “vợ chồng chúng mày liệu mà bảo nhau làm ăn. May ra ông giời cho khá...”. Ta càng cảm động hơn nữa khi người mẹ già chính là người chan chứa nhiều nhất những hi vọng, nói nhiều nhất về tương lai tươi sáng: bà dậy sớm cùng con dâu dọn dẹp nhà cửa cho quang quẻ;

cái mặt bủng beo u ám hàng ngày nay bỗng rạng rỡ hẳn lên... Bữa cơm ngày đói chỉ có “lùm rau chuối thái rối, và một đĩa muối ăn với niêu cháo lõng bõng nước” nhưng bà nói toàn chuyện vui.

Quả thực, ta cảm phục tấm lòng người mẹ biết bao, khi trong hoàn cảnh khốn cùng vì nghèo đói, lòng người mẹ nghèo vẫn không hề nghĩ tới cái chết mà luôn hướng về sự sống, về tương lai.

Bà chính là nguồn động lực, là ngọn lửa thắp sáng niềm tin cho đôi vợ chồng trẻ.

Ta cũng dành thêm một đôi dòng để nói về sự đổi thay đến ngạc nhiên của “người vợ nhặt”

sau khi đồng ý theo Tràng về làm vợ. Thực ra, thị đến với Tràng cũng vì đói mà ra. Vì đói mà thị trở nên đanh đá, chao chát, chỏng lỏn. Còn khi đã bấu víu được vào cái phao sinh tồn ta thấy thị hoàn toàn khác: Trên đường về nhà, thị rón rén, e thẹn, cúi đầu ngượng ngùng trước những câu đùa tếu. Sau đêm tân hôn, thị không còn vẻ chao chát, chỏng lỏn nữa mà thay vào đó “rõ ràng là một người đàn bà hiền hậu đúng mực”.

Tình huống truyện đã gây ngạc nhiên cho tất cả mọi người. Trước hết là sự ngạc nhiên của cả xóm ngụ cư: họ nhìn theo bóng Tràng và người đàn bà với ánh mắt ngạc nhiên, mỗi người một suy nghĩ khác nhau. Người thì thắc mắc: “Ai đấy nhỉ?”, người thì phân vân: “Hay là người nhà bà cụ Tứ dưới quê lên?”, người thì tò mò:

“Hay là vợ anh cu Tràng?”. Người than vãn:

“Ôi chao! Giời đất này còn rước cái của nợ đời về. Biết có nuôi nổi nhau sống qua được cái thì này không?”. Người ta oán trách, người ta thì thèo, than vãn nhưng lạ kì thay, sự xuất hiện của người vợ nhặt như luồng gió “có cái gì lạ lùng

+ Sự xuất hiện của người vợ nhặt “như luồng gió mát thổi vào cuộc sống đói khát, tăm tối của họ”.

- Sự ngạc nhiên cho bà cụ Tứ: Làm sao kể xiết sự sững sờ của bà, khi bà không thể nghĩ rằng con mình lại có vợ ngay trong cái thời buổi đói kém này.

- Sự ngạc nhiên cho Tràng:

+ Tình huống bất ngờ đến hài hước khi chính Tràng cũng vẫn còn “ngỡ ngàng”.

+ Cả lúc: “Ngồi giữa nhà, đến bây giờ hắn vẫn còn ngờ ngợ như không phải”.

4.4. Ý nghĩa tình huống truyện.

+ Nhà văn gián tiếp lên án tội ác của phát xít Nhật, thực dân Pháp và bọn thực dân phong kiến tay sai đã gây ra nạn đói khủng khiếp năm 1945.

+ Chúng đã đẩy dân ta vào cảnh túng đói kinh hoàng “người chết như ngả rạ”, “hơn hai triệu đồng bào ta chết đói” từ Quảng Trị đến Bắc Kỳ.

+ Nhà văn thương xót, ái ngại khi thấy tình cảnh con người phải đối diện với đói rét, giá trị con người rẻ rúng như cỏ rác.

+ Nhà văn trân trọng những phẩm chất tốt đẹp của người dân nghèo: dù hoàn cảnh sống khắc nghiệt nhưng họ vẫn yêu thương, đùm bọc, cưu mang lẫn nhau và mơ về một tương lai tươi sáng.

+ Và chỉ ra cho họ con đường giải phóng là đi theo cách mạng.

và tươi mát thổi vào cuộc sống đói khát, tăm tối ấy của họ”...

Ta quên sao được khoảnh khắc ngạc nhiên của bà cụ Tứ: Làm sao kể xiết sự sững sờ của bà khi trông thấy người đàn bà lạ đứng ở đầu giường của con mình, lại còn chào mình bằng u nữa. Bà không thể nghĩ rằng con mình lại có vợ, ngay trong cái thời buổi đói kém này.

Tình huống càng bất ngờ đến hài hước khi chính Tràng cũng vẫn còn “ngỡ ngàng” khi biết mình đã có vợ. Cả đến lúc “ngồi ngay giữa nhà, đến bây giờ hắn vẫn còn ngờ ngợ như không phải. Ra hắn đã có vợ đấy ư?”.

Bằng ngôn từ giản dị và tình huống truyện độc đáo, đầy bất ngờ. Nhà văn Kim Lân đã rất thành công khi dựng lên một thước phim quay chậm về cuộc sống của người dân xóm ngụ cư trong tình cảnh đói khát, thiếu thốn đến cùng cực những năm trước Cách mạng tháng Tám năm 1945. Càng khó khăn, càng đói khổ bao nhiêu thì tình người lại càng sáng chói bấy nhiêu. Bởi ở đó, họ dù có khổ sở, có cùng quẫn cũng không chà đạp lên nhau. Đi hết bất ngờ này đến bất ngờ khác, người đọc càng xót xa cho thân phận người nông dân bao nhiêu, lại càng oán hận tội ác của phát xít Nhật, thực dân Pháp và bọn thực dân phong kiến bấy nhiêu.

Chính chúng đã đẩy dân ta vào cảnh túng đói kinh hoàng “người chết như ngả rạ”, “hơn hai triệu đồng bào ta chết đói” từ Quảng Trị đến Bắc Kỳ. Bởi vậy, nhà văn cũng không quên gieo vào lòng người đọc sự hoan hỉ khi xây dựng hình ảnh “lá cờ đỏ bay phấp phới” ở cuối truyện. Lá cờ ấy như một lời khẳng định: Nhân dân ta nhất định sẽ chiến thắng. Kẻ gian ác tàn bạo nhất định sẽ bị lụi bại dưới ánh sáng của Cách mạng Việt Nam.

Một phần của tài liệu KIẾN THỨC TRỌNG tâm văn 12 (Trang 178 - 183)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(363 trang)