MỘT SỐ ĐỀ LUYỆN TẬP
1. Nhân vật Mị - người con gái có sức sống tiềm tàng mãnh liệt
1. Mị, người con gái tài năng, xinh đẹp, giàu nhân phẩm nhưng lại có cuộc sống đầy bất hạnh.
- Tài năng, xinh đẹp, giàu nhân phẩm:
Mị tài năng, xinh đẹp: “thổi lá cũng hay như thổi sáo, có biết bao người mê ngày đêm thổi sáo đi theo Mị”.
Mị giàu nhân phẩm: khi biết cha con thống lý Pá Tra có ý định bắt cô về làm dâu gạt nợ Mị đã rất gay gắt phản đối:
+ Mị cầu xin bố: “Con nay đã biết cuốc nương làm ngô, con phải làm nương ngô giả nợ thay cho bố. Bố đừng bán con cho nhà giàu”. Câu nói của Mị chứng tỏ Mị là người yêu lao động, yêu tự do.
Nhưng dưới ách thống trị của bọn thực dân phong kiến, Mị vẫn ngang nhiên bị bắt về làm dâu gạt nợ: đau đớn đến tận cùng Mị chỉ muốn chết.
+ Mị không đành lòng chết, vì nếu “Mị chết thì bố Mị còn khổ hơn bao nhiêu lần bây giờ
Cây cối đâm hoa kết trái là quy luật của tự nhiên, con gái lớn lên lấy chồng, tìm cho mình một bến đỗ êm ấm cũng là mơ ước của biết bao cô gái trẻ. Thế nhưng, số phận nhiều khi trêu ngươi, ngay cả hạnh phúc tưởng chừng như đơn giản ấy cũng không mỉm cười với Mị, nó quay lưng với cô và mở ra những trang đời đẫm đầy nước mắt.
Vốn là cô gái tài năng, xinh đẹp và yêu đời, ngày trước Mị “thổi lá cũng hay như thổi sáo, có biết bao người mê ngày đêm thổi sáo đi theo Mị”. Mị đã rất gay gắt phản đối khi nghe tin thống lý Pá Tra đòi bắt cô về làm dâu gạt nợ, món nợ từ cái ngày “bố Mị lấy mẹ Mị không đủ tiền cưới đến vay thống lý – bố của thống lý Pá Tra bây giờ, mỗi năm đem nộp một nương ngô, đến khi người vợ chết vẫn chưa trả hết nợ”. Mị đã tha thiết cầu xin bố: “Con nay đã biết cuốc nương làm ngô, con phải làm nương giả nợ cho bố. Bố đừng bán con cho nhà giàu”. Cô gái yêu tự do, yêu cuộc sống như cánh chim hải âu không sợ biển lớn, dẫu biết rằng món nợ truyền kiếp kia đến chết cô cũng không thể trả hết, nhưng cô sẵn sàng trả nợ bằng mọi giá để được tự do bên bố - người đàn ông suốt đời gánh nợ trên vai nay đã đến tuổi cận tàn. Nhiều người cho rằng, cái suy nghĩ “cuốc nương làm ngô giả nợ” của Mị chỉ là ảo tưởng, bởi cả bố và mẹ Mị làm quần quật cả đời người còn không trả nổi, huống chi một mình Mị. Nhưng cái gọi là “ảo tưởng” ấy lại chứng minh cho bản lĩnh, cho niềm tin vào tuổi trẻ, vào sức sống mãnh liệt của cô gái người dân tộc miền núi: Mị thà sống nghèo khổ, thà phải làm việc cực nhọc mà được tự do, còn hơn làm dâu cho nhà giàu mà phải trở thành nô lệ.
Nhưng dưới ách thống trị của bọn thực dân phong kiến, sự tàn ác của bọn lãnh chúa thì số phận Mị như ván bài đã định. Mặc cho Mị có ý thức hẳn hoi về cuộc sống, về thân phận của mình thì ngang trái vẫn chụp lên cuộc đời cô một màu đen tang tóc: Mị bị bắt về làm dâu gạt nợ nhà thống lý, làm vợ A Sử - hai chữ “gạt nợ” nghe thật xót xa. Số kiếp người phụ nữ đi làm dâu đã khổ, đã phải chịu biết bao cay đắng tủi hờn, đằng này Mị bị bắt về làm dâu đã
đành, lại mang thân phận “dâu gạt nợ” thì còn chua xót
nữa. Mị đành quay trở lại nhà thống lí”.
+ Mị cam chịu và chấp nhận, bởi người con gái tên Mị vẫn luôn đặt chữ hiếu lên đầu (hiếu thảo với cha).
- Mị có cuộc sống bất hạnh:
được thể hiện qua việc miêu tả cuộc sống của Mị trong nhà thống lý Pá Tra.
+ Chân dung Mị hiện lên một cách đầy thương xót: lúc nào cũng “cúi mặt, cái mặt buồn rười rượi”; rồi câm lặng
“lùi lũi như con rùa nuôi trong xó cửa” và buông xuôi “ở lâu trong cái khổ Mị quen rồi”...
+ Cuộc sống thống khổ: làm việc cả ngày cả đêm “Tết xong lên núi hái thuốc phiện; giữa năm thì giặt đay; đến mùa đi nương bẻ bắp...”, không bằng trâu, ngựa “con trâu, con ngựa làm còn có lúc, đêm còn được đứng gãi chân, nhai cỏ”...
+ Mị với A Sử “không có lòng mà vẫn phải sống với nhau”, A Sử chưa bao giờ coi Mị là vợ, nó đánh đập Mị hết sức dã man.
+ Mị là nạn nhân của chế độ vay nặng lãi, bị cường quyền và thần quyền tước
đến nhường nào! Mị chỉ biết khóc, “đêm nào Mị cũng khóc”, khóc là cách duy nhất để giải tỏa những đau đớn trong lòng. Rồi không chịu được nữa, Mị trốn về tìm bố với “nắm lá ngón trong tay”, Mị “chỉ muốn ăn để chết”, chết để thoát khỏi cuộc sống cùng quẫn này, nhưng Mị lại không đành lòng chết. Người con gái tên Mị, dù sống trong tận cùng của đau khổ, vẫn luôn đặt chữ hiếu lên đầu, Mị hiểu rằng: “nếu Mị chết thì bố Mị còn khổ hơn bao nhiêu lần bây giờ nữa. Mị đành trở lại nhà thống lí”
– cam chịu và chấp nhận số kiếp“làm dâu nhà giàu”.
Làm dâu nhà giàu, nhiều nương, nhiều bạc nhất đất Hồng Ngài, ắt phải sung sướng, phải được sống trong nhung lụa “có bao giờ phải xem cái khổ mà biết khổ, biết buồn”. Nhưng không, Mị lại có cuộc sống đầy bất hạnh trong nhà thống lý, chân dung Mị hiện lên một cách đầy thương xót qua những câu văn nghe thật ai oán: “Ai ở xa về có việc vào nhà thống lí Pá Tra thường trông thấy có một cô gái ngồi quay sợi gai bên tảng đá... Lúc nào cô ấy cũng cúi mặt, cái mặt buồn rười rượi...”, trông cái dáng điệu đã gợi lên một con người chất chứa những bi kịch.
Người ta thường quen với cái sướng, quen ăn ngon mặc đẹp, đằng này Mị lại quen với cái khổ: “ở lâu trong cái khổ, Mị quen rồi. Bây giờ thì Mị tưởng mình cũng là con trâu, mình cũng là con ngựa. ”, rồi Mị trở nên câm nín
“lùi lũi như con rùa nuôi trong xó cửa”. Tại sao một cô gái xinh đẹp, tài năng, lại làm dâu nhà giàu mà gợi cho người đọc cảm giác đầy ám ảnh như vậy? Bởi từ ngày làm dâu nhà thống lý, cô gái xinh đẹp ấy chưa một giờ phút nào được ngơi tay, phải làm việc quần quật cả ngày cả đêm với những công việc lặp đi lặp lại: “Tết xong lên núi hái thuốc phiện; giữa năm thì giặt đay, se đay; đến mùa đi nương bẻ bắp... suốt năm, suốt đời như thế”. Quan trọng hơn, đối với một người phụ nữ đi lấy chồng, chỉ mong sao lấy được người đàn ông yêu thương, che chở cho mình. Dù cuộc sống có nghèo khổ một chút, có khó khăn, thiếu thốn một chút họ cũng cam lòng. Nhưng không “hồng nhan thì bạc phận”, Mị đã quá thống khổ về thể xác lại đau đớn hơn cả về tinh thần, bởi “Mị với A Sử không có lòng mà vẫn phải sống với nhau”, A Sử chưa bao giờ coi Mị là vợ, nó đánh đập Mị hết sức dã man. Tất cả những gì Mị gánh chịu ngày hôm nay, nếu nói một cách
quyền tự do và hạnh phúc cá nhân: mặc dù không đồng ý nhưng cô vẫn ngang nhiên bị bắt (cường quyền) về “cúng trình ma” nhà thống lý (thần quyền) và bị con ma theo ám suốt đời.
+ Hình ảnh căn buồng Mị nằm kín mít – chốn địa ngục trần gian: chỉ có một “lỗ vuông bằng bàn tay lúc nào trông ra cũng chỉ thấy trăng trắng, không biết là sương hay là nắng”.
2. Trong Mị ẩn chứa một sức sống tiềm tàng, sức sống ấy đã trỗi dậy vào đêm tình mùa xuân đến trên đất Hồng Ngài.
- Những tác nhân đánh thức tâm hồn đã chết của Mị:
+ Cảnh sắc mùa xuân:
“những chiếc váy hoa đã đem ra phơi trên mỏm đá xòe như con bướm sặc sỡ”; “tiếng trẻ con nô đùa” cùng với đó là những cơn “gió rét thổi vào cỏ gianh vàng ửng”.
+ Tiếng sáo rủ bạn khiến Mị
“thiết tha bồi hồi”, tiếng sáo chính là sự hiện thân của một phần tuổi trẻ và những ký ức tươi đẹp.
chính xác thì không phải do số phận hay do định mệnh mà do sự tàn ác của hủ tục, của chế độ thực dân phong kiến miền núi, của chính sách vay nặng lãi cùng sự đầy đọa của cha con thống lí đã biến Mị thành nô lệ, bị tước đoạt tuổi trẻ, quyền tự do và hạnh phúc cá nhân. Dần dần đối với Mị thời gian là vô nghĩa, cô cũng quên hẳn việc tự tử của những năm về trước. Còn muốn chết nghĩa là Mị còn ý thức được nỗi đau của mình, nhưng đến bây giờ cô gái xinh đẹp ấy cũng chẳng buồn chết nữa. Căn buồng kín mít Mị nằm, cũng để lại cho chúng ta những cảm xúc khó quên, nó chỉ có một ô cửa nhỏ “lỗ vuông bằng bàn tay lúc nào trông ra cũng chỉ thấy trăng trắng, không biết là sương hay nắng”, đúng là một cách diễn tả tuyệt hay về chốn địa ngục trần gian, nó không chỉ là nơi giam hãm thân xác Mị mà nó cách li tâm hồn cô với cuộc đời, nó vùi dập tuổi xuân và vắt kiệt nhựa sống của cô, nó biến Mị từ cô gái trẻ trung, phơi phới, tràn đầy nhựa sống thành một con người vô cảm, câm lặng, lùi lũi.
Người ta cho rằng cuộc sống tủi cực, tăm tối đã chôn vùi Mị khiến cô không còn nhớ đến con người tự do của mình trước kia nữa. Nhưng không, không phải là Mị không bao giờ nhớ đến “con người tự do” của mình nữa, mà là không có một tác nhân nào gợi cho Mị nhớ đến điều đó.
Và mùa xuân năm ấy, núi đồi Tây Bắc ngập tràn sắc xuân: “những chiếc váy hoa đã đem ra phơi trên các mỏm đá xòa như con bướm sặc sỡ”; “tiếng trẻ con nô đùa, cười ầm trên sân chơi” cùng với đó là những cơn “gió rét thổi vào cỏ gianh vàng ửng” như báo hiệu một điều gì đó sắp xảy đến trên đất Hồng Ngài. Ngày xuân, thanh niên đôi lứa thi nhau thổi sáo gọi bạn đi chơi, nghe tiếng sáo “Mị thấy phơi phới trở lại, trong lòng đột nhiên vui sướng như những đêm tết ngày trước”. Lần đầu tiên tiếng sáo xuất hiện trong tác phẩm cũng là lần đầu tiên sau bao năm dài câm nín trong nhà thống lí: “Mị thấy thiết tha bổi hổi.
Mị ngồi lẩm thẩm theo lời bài hát”. Ngày Tết, Mị cũng uống rượu, “Mị lén lấy hũ rượu, cứ uống ừng ực từng bát”, cách uống ấy như nuốt cay, nuốt đắng, nuốt mọi ấm ức vào lòng. Rượu làm Mị say, ai đó đã từng nói: “một khi rượu đã không còn đủ sức làm người ta quên thì nó lại đánh thức cả con tim lẫn lý trí”. Quả đúng là như vậy,
+ Chất men của rượu: “Mị lén lấy hũ rượu, cứ uống ừng ực từng bát”, rượu làm Mị say.
- Diễn biến tâm lý và hành động phức tạp của Mị trong đêm tình mùa xuân:
+ Lòng Mị sống về quá khứ:
cái thời “Mị uốn chiếc lá trên môi, thổi lá cũng hay như thổi sáo. Có biết bao người mê, ngày đêm thổi sáo đi theo”.
+ Chua xót với hiện tại: Mị sống trong nhà thống lý không bằng con trâu, con ngựa; “A Sử chưa bao giờ cho Mị đi chơi tết”; “Mị với A Sử không có lòng mà vẫn phải chung sống với nhau”.
Mị muốn chết: “nếu có nắm lá ngón trong tay lúc này Mị sẽ ăn cho chết ngay chứ không buồn nhớ lại nữa”.
+ Trong suy nghĩ: Mị nhận ra “Mị trẻ lắm, Mị vẫn còn trẻ, Mị muốn đi chơi”.
+ Hành động: “Mị đến góc nhà, lấy ống mỡ, xắn một miếng bỏ thêm vào dĩa đèn cho sáng”; “Mị cuốn lại tóc, Mị với tay lấy cái váy hoa vắt ở phía trong vách...”.
chất men của rượu hòa quyện cùng tiếng sáo chính là tác nhân đánh thức phần đời đã mất của Mị. Tiếng sáo là sự hiện thân của một phần tuổi trẻ và những ký ức tươi đẹp của Mị, đó là những tháng ngày vô tư hồn nhiên bên bố, được tự do, được thỏa thích ném pao ngày Tết.
Quá khứ khiến lòng Mị thật chua xót khi nghĩ đến cuộc sống hiện tại: Mị sống trong nhà thống lí không bằng kiếp con trâu con ngựa; “A Sử chẳng bao giờ cho Mị đi chơi tết”, quan trọng là “A Sử với Mị, không có lòng với nhau mà vẫn phải ở với nhau”, có cay đắng nào bằng cuộc sống hôn nhân mà không xuất phát từ tình yêu, tình nghĩa vợ chồng mà không có sự gắn kết, điều đó làm cho Mị ước: “nếu có nắm lá ngón trong tay lúc này, Mị sẽ ăn cho chết ngay chứ không buồn nhớ lại nữa. Nhớ lại, chỉ thấy nước mắt ứa ra”. Lại một lần nữa Mị muốn chết, muốn chết để cuộc sống bớt đau thương hơn, bớt tủi nhục hơn. Như vậy, tiếng sáo gọi bạn kia chính là tấm gương để Mị nhìn rõ hơn về cuộc sống hiện tại của mình. Mị đã muốn “chết ngay”, nghĩa là Mị đã không chấp nhận thực tại, Mị muốn phản kháng lại hoàn cảnh, phản kháng nghịch cảnh. Đây là hành động hoàn toàn trái ngược với cô Mị lầm lũi suốt bao năm trong nhà thống lí.
Sau khi nghe tiếng sáo:“Mị thấy phơi phới trở lại, trong lòng đột nhiên vui sướng như những đêm tết ngày trước”. Tuổi xuân, tuổi trẻ, ký ức ngày xưa của Mị cứ thế lớn dần lên, cho tới khi chiếm trọn tâm hồn cô, Mị chợt nhận ra: “Mị trẻ lắm, Mị vẫn còn trẻ, Mị muốn đi chơi”, Mị không còn là cô gái cam chịu, chấp nhận, “lùi lũi như con rùa nuôi trong xó cửa” như trước đây nữa. Thay vào đó, là suy nghĩ của một người ham sống, muốn sống và khao khát sống. Điều đó không chỉ dừng lại ở trong suy nghĩ mà còn Mị hành động để thực hiện suy nghĩ đó của mình: “Mị đến góc nhà, lấy ống mỡ, xắn một miếng bỏ thêm vào đĩa đèn cho sáng”. Mị sửa soạn để đi chơi: “Mị quấn lại tóc, Mị với tay lấy cái váy hoa vắt ở phía trong vách” – Nhà văn Tô Hoài thật tinh tế, thật thành công trong việc miêu tả diễn biến tâm trạng của Mị trong đêm tình mùa xuân, qua những câu văn ngắn mang nhịp điệu gấp gáp như thể Mị đang nhanh chóng, dứt khoát thực hiện hành động giải phóng cho mình, rũ bỏ khỏi con ma
- Đỉnh điểm của bi kịch: là sự xuất hiện của A Sử - nó trói đứng, không cho Mị đi chơi.
+ Trong bóng tối, tiếng sáo vẫn dìu dắt tâm hồn Mị theo cũng cuộc chơi:
"Anh ném pao Em không bắt Em không yêu Quả pao rơi rồi Em yêu người nào Em bắt pao nào...”
+ Hiện thực cuộc sống, thân phận Mị không bằng con ngựa: “Mị thổn thức nghĩ mình không bằng con ngựa”.
+ Câu chuyện ám ảnh về người đàn bà đời trước, cũng bị chồng trói đến chết khiến Mị sợ chết.
Mị là nhân vật điển hình bị tước đoạt hết quyền làm người, bị dìm xuống kiếp ngựa trâu ở miền núi Tây Bắc dưới ách thống trị của bọn thực dân.
Qua đêm tình mùa xuân, Mị vẫn trở về với ô cửa lỗ vuông bằng bàn tay, vẫn tảng đá cạnh cái tàu ngựa, vẫn những công việc đầu năm, giữa năm, cuối mùa. Nhưng tâm trạng và hành động của Mị trong đêm tình
nhà thống lí, thoát khỏi căn buồng kín mít, thoát khỏi chốn địa ngục trần gian chôn vùi tuổi xuân của cô.
Ngọn lửa sống vừa mới được nhen nhóm, ngay lập tức đã bị dập tắt một cách tàn nhẫn bởi sự xuất hiện của A Sử.
Nó không cho Mị đi chơi, nó “xách cả một thúng sợi đay ra trói đứng Mị vào cột nhà. Tóc Mị xõa xuống, A Sử quấn luôn tóc lên cột, làm cho Mị không cúi, không nghiêng được đầu nữa”. A Sử đâu biết rằng, nó chỉ có thể trói được thân xác Mị, còn tâm hồn Mị vẫn sống trọn vẹn trong thế giới của riêng mình: “Mị đứng lặng im, như không biết mình đang bị trói. Hơi rượu còn nồng nàn. Mị vẫn nghe tiếng sáo đưa Mị đi theo những cuộc chơi”. Tiếng sáo kia quá tha thiết, quá mạnh mẽ, nó dìu hồn Mị bay lên trên hoàn cảnh, nó là biểu tượng của niềm khao khát sống, khát khao yêu, khao khát tự do. Trong phút chốc Mị quên mất mình đang bị trói, “Mị vùng bước đi” theo tiếng gọi của tự do và “vùng đi” như muốn bắt quả pao của người Mị thương. Nhưng cái đau đớn thể xác liền kéo Mị về đúng thân phận của mình, Mị “chỉ còn nghe tiếng chân ngựa đạp vào vách” - khô khan, lạc lõng đến mức tàn nhẫn.
Thân xác Mị đã nằm trọn trong vòng dây trói, “Mị thổn thức nghĩ mình không bằng con ngựa”.
Tâm trạng Mị lúc này vừa mơ vừa tỉnh “khắp người dây trói thít lại, đau nhức. Lúc lại nồng nàn tha thiết nhớ”, Mị nhớ về quá khứ, nhớ tự do, nhớ những ký ức tươi đẹp và nhớ luôn cả việc không cần nhớ. Đó là câu chuyện kể về người đàn bà bị trói đến chết trong nhà thống lý: người đàn bà ấy, rồi tiếp theo sẽ là Mị, số kiếp đàn bà làm dâu nhà giàu đều sẽ chết. Nghĩ thế Mị sợ quá, và “cựa quậy xem mình còn sống hay chết”. Ý nghĩ về cái chết lúc này khiến Mị sợ, nó khác hẳn cái chết lúc Mị cầm nắm lá ngón trên tay chạy về quỳ xin bố. Cho nên khi người chị dâu đến cởi trói, Mị không đổ xuống hay ngã xuống mà
“sụp xuống”, bởi Mị hiểu ra rằng, kết cục của những người đàn bà sống cái nhà này, trong chế độ này, trong xã hội đều phải như vậy.
Cuộc trỗi dậy lần thứ nhất của Mị không thành, Mị không thoát ra được cảnh tù ngục ở nhà thống lý nhưng ít nhất Mị cũng được sống lại những thời khắc tươi đẹp của tuổi trẻ. Sức sống của Mị được đặt trong một thử thách khắc nghiệt, qua đó nhà văn đã khẳng định một chân lý: