MỘT SỐ ĐỀ LUYỆN TẬP
6. Giá trị nhân đạo
“Giá trị nhân đạo” là một giá trị cơ bản của tác phẩm văn học chân chính. Nó được tạo nên bởi niềm cảm thông sâu sắc đối với nỗi đau khổ của con người, đó là sự nâng niu, trân quý những nét đẹp trong tâm hồn con người và cũng là lòng tin vào khả năng vươn dậy của họ, đồng thời lên án những thế lực tàn bạo, đen tối đã chà đạp lên quyền sống, quyền hạnh phúc và phẩm giá con người.
Biểu hiện của giá trị nhân đạo:
6.1. Niềm cảm thông, thương xót của nhà văn với cuộc sống bi thảm của người nông dân nghèo trong nạn đói.
- Khung cảnh đói được nhà văn miêu tả lại như một chốn địa ngục trần gian:
+ Người sống thì “xanh xám như những bóng ma và nằm ngổn ngang khắp lều chợ”.
+ Người chết thì “như ngả rạ”, sáng nào cũng gặp ba bốn cái xác nằm còng queo bên đường.
+ Không khí “vẩn mùi ẩm thối của rác rưởi và mùi gây của xác người”.
- Nạn đói hoành hành khắp nơi, khiến con người ta sẵn sàng bán rẻ cả nhân
Truyện ngắn “Vợ nhặt” đã phản ánh nỗi đau khổ và niềm khao khát sống, khao khát hạnh phúc mãnh liệt của con người ngay cả trong cái nghèo, cái đói. Qua đó nói lên số phận con người trong xã hội cái đêm trước khi cách mạng bùng nổ. Giá trị lớn nhất của thiên truyện là giá trị nhân đạo.
Cho đến nay trong nền văn học hiện đại Việt Nam chưa có tác phẩm nào viết về trận đói Ất Dậu – năm 1945 thật hay, thật xúc động như truyện ngắn “Vợ nhặt” của nhà văn Kim Lân.
Nạn đói hoành hành được nhà văn miêu tả lại như một chốn địa ngục trần gian: “Những gia đình từ những vùng Nam Định, Thái Bình, đội chiếu lũ lượt bồng bế, dắt díu nhau lên xanh xám như những bóng ma, và nằm ngổn ngang khắp lều chợ”. Người chết như ngả rạ, “không buổi sáng nào người trong làng đi chợ, đi làm đồng không gặp ba bốn cái thây nằm còng queo bên đường”. Không khí “vẩn mùi ẩm thối của rác rưởi và mùi gây của xác người”.
Nạn đói năm 1945 và cái chết thỏa sức tung hoành khắp nơi, chẳng thuộc về riêng ai! Mẹ
cách, phẩm giá của mình để được ăn, được sống:
+ Đám trẻ con tinh nghịch, vì đói mà
“ngồi ủ rũ không buồn nhúc nhích”.
+ Mấy chị con gái thì “ngồi vêu ra”
trước nhà khi tỉnh vì không có miếng ăn.
+ Thị vì đói mà bất chấp tất cả để được ăn, cắm đầu vào ăn. Cũng vì đói quá mà chị đồng ý theo không Tràng về làm vợ chỉ để được sống.
+ Anh cu Tràng nhờ nạn đói mà
“nhặt” được vợ, nhờ đói mới có vợ.
- Bữa cơm ngày đói cũng thật thê thảm:
+ “Một lùm rau chuối thái rối, và một đĩa muối ăn với niêu cháo lõng bõng”, mỗi người được có lưng lưng hai bát đã hết nhẵn.
+ Nồi “chè khoán” đắng chát, nghẹn bứ trong cổ không nuốt nổi.
6.2. Nhà văn tố cáo tội ác tày trời của bọn thực dân phát xít đối với người dân lao động.
+ Đây chính là nạn đói năm Ất Dậu với
“hơn hai triệu đồng bào ta chết đói”.
+ Người dân lao động vì đói mà chết một cách thảm thương, “lũ lượt bồng bế, dắt díu nhau” sống trôi nổi vạ vật như những bóng ma.
con Tràng, “nhà cửa là một tấm phên rách, nằm rúm ró trên mảnh vườn đầy cỏ dại”. Đám trẻ con xóm chợ, trước đây tinh nghịch thế, giờ đây vì đói mà "ngồi ủ rũ dưới những xó đường không buồn nhúc nhích”. Trước nhà kho trên tỉnh mấy chị con gái “ngồi vêu ra”. Đặc biệt nhân vật “người vợ nhặt”, vì đói mà thị bất chấp tất cả để được ăn, mới nghe thoáng Tràng nói:
“muốn ăn gì thì ăn”, thị đã ngay lập tức “cắm đầu ăn một chặp bốn bát bánh đúc”... Cái đói, khiến cho con người ta sẵn sàng bán rẻ cả nhân cách, phẩm giá của mình chỉ mong được ăn để sống. Vì đói mà thị quên cả phẩm giá, theo không Tràng về làm vợ. Họa chăng cái giá cũng bằng bốn cái bánh đúc và hai hào dầu. Thế đấy, giá trị con người từ đây trở nên rẻ rúng đến lạ kì, anh cu Tràng nhờ nạn đói mà “nhặt được vợ”, nhờ đói mới có được vợ.
Niềm xót thương, đồng cảm của nhà văn một lần nữa khiến người đọc không khỏi ngậm ngùi qua bữa cơm thảm thê ngày đói. Dù cố quên đi thì ta cũng không thể nào quên được hình ảnh:
“giữa cái mẹt rách có độc một lùm rau chuối thái rối, và một đĩa muối ăn với niêu cháo lõng bõng nước, mỗi người hai lưng đã hết nhẵn”.
Rồi cái cảnh bà cụ Tứ “đon đả” múc cho mỗi người một bát “chè khoán” chát xít không nuốt nổi, nghẹn bứ trong cổ.
Khung cảnh nạn đói là lời tố cáo đanh thép tội ác tày trời của bọn thực dân phát xít đã gây ra cho người dân ta những ngày trước Cách mạng tháng Tám năm 1945. Đó là nạn đói kinh hoàng năm Ất Dậu lấy đi tính mạng của “hơn hai triệu đồng bào ta chết đói”. Người dân lao động vì đói mà chết một cách thảm thương
“nằm còng queo bên đường, nằm ngổn ngang khắp các lều chợ”, sống trôi nổi vật vờ “lũ lượt bống bế, dắt díu nhau xanh ngắt như những bóng ma”.
6.3. Nhà văn phát hiện và nâng niu, trân trọng và ngợi ca những phẩm chất tốt đẹp của người nông dân lương thiện
- Anh cu Tràng: Tuy xấu xí, nghèo khổ nhưng có tấm lòng nhân hậu, tốt bụng và rất thương người:
+ Khi gặp người đàn bà đói khát, anh mời ăn những “bốn bát bánh đúc”.
+ Sẵn lòng cưu mang người đàn bà tội nghiệp đang cận kề cái chết.
+ Dù đói khát nhưng anh luôn khao khát một mái ấm gia đình.
- Người vợ nhặt: nạn nhân của cái đói, cái đói đã bóp méo nhân hình lẫn nhân cách của thị.
+ Bất chấp để được ăn, được sống.
+ Bỏ mặc phẩm giá đi theo Tràng bởi niềm khao khát sống, khao khát hạnh phúc gia đình.
- Bà cụ Tứ: dù nghèo khổ, già yếu nhưng vẫn luôn động viên các con:
+ Bà “vừa ai oán vừa xót thương” cho số kiếp đứa con mình.
+ Bà động viên các con: “bảo nhau làm ăn, rồi ông giời cho khá, ai giàu ba họ, ai khó ba đời”
+ Bà định hướng tương lai cho các con
“nói toàn chuyện vui sau này, rồi mua đôi gà về nuôi...”
Ngòi bút nhân đạo của nhà văn Kim Lân không đơn thuần chỉ vẽ ra khung cảnh ngày đói để tố cáo tội ác mà nhà văn không quên phát hiện nâng niu, trân trọng và ngợi ca những phẩm chất tốt đẹp ẩn sâu bên trong mỗi người nông dân lương thiện.
Đầu tiên là nhân vật Tràng. Tuy xấu xí, nghèo khổ, thô kệch nhưng ở anh là cả một tấm lòng đáng quý: nhân hậu, tốt bụng và rất thương người, “thương người như thể thương thân”.
Khi gặp người đàn bà đói khát, anh sẵn sàng mời thị ăn rồi không ngại cưu mang người đàn bà tội nghiệp đang cần kề cái chết, dù bản thân anh cũng chẳng khá khẩm hơn là bao. Sống trong cái đói, cái khát nhưng sâu thẳm trong người đàn ông thô kệch ấy niềm khao khát hạnh phúc, khao khát mãnh liệt về một mái ấm gia đình trọn vẹn.
Tiếp theo, chúng ta không thể không nhắc đến chân dung “người vợ nhặt” – nạn nhân của cái đói. Chính cái đói đã bóp méo cả nhân hình lẫn nhân tính của chị. Chị đói rách đến mức
“quần áo tả tơi như tổ đỉa, trên khuôn mặt lưỡi cày xám xịt chỉ còn thấy hai con mắt”. Thị bất chấp tất cả để được ăn, ăn để được sống. Thị bỏ mặc phẩm giá đi theo không Tràng về làm vợ chỉ mong được sống.
Và ta cũng không thể quên được hình ảnh bà cụ Tứ - người mẹ nghèo khổ nhưng hết lòng yêu thương con, thương người trong tình cảnh khốn khó, “lá lành đùm lá rách”. Dù đã già yếu,
“tuổi già như hạt sương mai” nhưng bà không ngừng tin tưởng vào tương lai. Bà động viên các con bằng những triết lý sống, bà dặn các con
“Bảo nhau làm ăn, rồi ông giời cho khá, ai giàu ba họ, ai khó ba đời”. Chưa một giây nào, bà thôi không hy vọng vào ngày mai tươi sáng, bởi vậy, bà luôn định hướng các con, khuyên các con bằng cách: “nói toàn chuyện vui sau này, rồi tính mua đôi gà về nuôi...”
6.4. Chỉ ra con đường tươi sáng để đến với tương lai cho người dân khốn cùng.
+ Hình ảnh “đoàn người ầm ầm kéo nhau đi trên đê Sộp, phía trước có lá cờ đỏ” là Việt Minh đi phá kho thóc của Nhật chia cho dân nghèo.
+ Nhà văn tin tưởng: những người dân nghèo đi theo ngọn cờ của Đảng, đó là con đường duy nhất để họ đổi đời.
Dụng ý nghệ thuật của nhà văn Kim Lân khi viết thiên truyện này: “Trong sự túng đói quay quắt,..., để mà vui, mà hy vọng”. Đó là vẻ đẹp của tinh thần lạc quan. Chính vì vậy, nhà văn đã hé mở con đường đổi đời tươi sáng, tích cực cho người dân khốn cùng là: Hình ảnh đoàn người Việt Minh đi phá kho thóc của Nhật để chia cho người nghèo. Nhà văn tin tưởng rằng: những người dân nghèo khổ như Tràng sẽ đấu tranh dưới ngọn cờ của Đảng, đó chính là con đường duy nhất giúp họ đổi đời.