MỘT SỐ ĐỀ LUYỆN TẬP
2. Người vợ nhặt – nạn nhân của cái đói, có lòng ham sống mãnh liệt
Ngay từ nhan đề của tác phẩm, Kim Lân đã dẫn người đọc khám phá cuộc sống của những con người nghèo khổ trong xã hội Việt Nam. Là “vợ nhặt”, là chi tiết và là tình huống truyện thắt nút cho diễn biến xoay quanh nhân vật người vợ trong tác phẩm. Từ
“nhặt” mang lại cho độc giả cái cảm giác rẻ rúng, bèo bọt của phận làm nữ nhi, của con người trong nạn đói, gợi lên niềm xót thương cho số phận con người. “ Vợ nhặt” nghe quá đỗi chân thực và vẽ lên hình ảnh người phụ nữ có một cuộc sống khó khăn, chẳng được hưởng hạnh phúc trọn vẹn khi ngay cả một đám cưới nhỏ cũng không có hay chính xác hơn là một mâm cơm ngon cũng chỉ như giấc mộng hão huyền ngày cô về làm dâu nhà người ta.
2.1. Chị là nạn nhân của nạn đói - Hoàn cảnh:
+ Là nạn nhân của cái đói. Chính nạn đói đã biến thị trở thành con người như thế.
+ Sống trôi nổi, bấp bênh: không tên tuổi, không nhà, không quê quán, không quá khứ...
- Ngoại hình và tính cách:
+ Lần đầu xuất hiện: ngồi lẫn trong đám con gái chờ nhặt hạt rơi hạt vãi.
+ Khi nghe chàng hò chơi “Muốn ăn cơm trắng mấy giò – Lại đây mà đẩy xe bò với anh”, thị cười tít mắt “lon ton chạy lại đẩy xe”, với hy vọng được ăn.
Cái đói làm thị trở nên vô duyên.
+ Lần thứ hai xuất hiện: “rách quá, áo quần tả tơi như tổ đỉa, gầy sọp hẳn đi, trên cái khuôn mặt lưỡi cày xám xịt chỉ còn thấy hai con mắt”.
+ Vì đói mà thị trở nên “chao chát, chỏng lỏn, chua ngoa, đanh đá”, thị
“cong cớn, sưng sỉa” chỉ vì miếng ăn.
Cái đói không chỉ tàn hại dung nhan mà còn tàn hại cả nhân phẩm của thị. Nó khiến chị đã nhếch nhác lại càng nhếch nhác hơn.
+ Khi được ăn thì “sà xuống cắm đầu ăn một chặp bốn bát bánh đúc liền”, thị quên mất cả việc phải ý tứ của một người con gái, lòng tự trọng của con người.
“Người vợ nhặt” là nạn nhân của cái đói với hoàn cảnh không thể đáng thương hơn. Chị sống cuộc sống bấp bênh trôi nổi, nay đây mai đó chỉ để kiếm bữa sinh nhai. Trong suốt cả thiên truyện dài, ta nghe đến chị nhiều nhưng chưa một lần được biết tên, của chị. Ở chị là một số không tròn trĩnh, đến cái tên để gọi đáp cũng không có: không tên, không tuổi, không nhà, không quê, không quá khứ.
Người vợ nhặt xuất hiện cũng theo một cách rất đặc biệt. Chị xuất hiện qua những lần hò chơi của Tràng. Lần đầu, “thị ngồi lẫn trong đám con gái ngồi chờ nhặt hạt rơi hạt vãi trước cổng chợ tỉnh, hay ai có công việc gì gọi đến thì làm”. Khi nghe Tràng hò: “Muốn ăn cơm trắng mấy giò - Lại đây mà đẩy xe bò với anh”, thị cong cớn:
“Có khối cơm trắng mấy giò đấy!”, rồi vùng đứng dậy, lon ton chạy lại đẩy xe cho Tràng, xong cười tít mắt với hy vọng được ăn. Lần thứ hai xuất hiện, khi Tràng vừa trả hàng xong thị sầm sập chạy đến với bộ dạng “rách rưới, áo quần tả tơi như tổ đỉa, gầy sọp hẳn đi, trên cái khuôn mặt lưỡi cày xám xịt chỉ còn thấy hai con mắt”. Vì đói mà thị trở nên “chao chát, chỏng lỏn, chua ngoa, đanh đá”. Thị cong cớn, sưng sỉa chỉ vì miếng ăn: “Điêu! Người thế mà điêu!
Hôm ấy leo lẻo cái mồm hẹn lên hẹn xuống, thế mà mất mặt”.
Khi được cho ăn, thị “sà xuống cắm đầu ăn một chặp bốn bát bánh đúc liền”, thị quên mất cả việc phải giữ ý tứ của một người con gái, lòng tự trọng của con người. Có thể nói bây giờ điều duy nhất mà thị nghĩ đến là làm sao cho cái bụng của mình đừng cồn cào, cái đói khiến cho một người phụ nữ lẽ ra cần nhận thức rõ thân phận và con người của mình cũng vào ngồi ăn như chưa từng có chuyện gì xảy ra. Người phụ nữ được đặt trong tình huống này dường như trở nên vô duyên dạn dĩ chẳng thể nghĩ ra điều gì khác ngoài ăn và làm sao cho cái bụng không
Cái đói khiến thị bất chấp tất cả chỉ mong được ăn, ăn để tồn tại, ăn để được sống.
2.2. Chị có lòng ham sống mãnh liệt.
- Khi Tràng đùa “có muốn theo tớ về nhà thì ra khuân đồ lên xe rồi ta cùng về”, thị im lặng “về thật” mà không hề do dự hay phân vân.
- Hành động của thị:
+ Xuất phát từ nhu cầu muốn sống, lòng khao khát được sống, được tồn tại.
+ Cận kề cái chết, thị không hề buông xuôi mà vẫn hướng tới sự sống, vẫn mong muốn xây dựng hạnh phúc.
Đây chính là niềm lạc quan ham sống của chị – một phẩm chất đáng quý, đáng trân trọng của con người. Nói như Kim Lân: “Trong hoàn cảnh khốn cùng, dù cận kề cái chết nhưng những con người ấy không nghĩ đến cái chết mà vẫn hướng tới sự sống, vẫn hi vọng, tin tưởng ở tương lai”.
2.3. Chị là người phụ nữ ý tứ, biết điều, có lòng tự trọng.
- Trên đường về nhà chồng:
+ Rón rén, e thẹn: “cái đầu hơi cúi, cái nón rách nghiêng nghiêng che khuất nửa mặt”.
+ Thị thèn thẹn, ngượng nghịu “chân nọ bước díu cả vào chân kia” trước cái nhìn săm soi của người dân xóm ngụ cư.
đói nữa. Cái đói khiến thị bất chấp tất cả chỉ mong được ăn để tồn tại, ăn để được sống.
Phía sau tình cảnh trôi dạt, sống vất vưởng không nơi nương tựa, người vợ nhặt lại có một lòng ham sống đến mãnh liệt. Và cũng chính vì cái đói cho nên người ta mới cảm nhận được rõ rệt rằng mọi lời nói đều có giá trị. Khi Tràng giả vờ nói bâng quơ rằng: “Có muốn theo tớ về nhà thì ra khuân đồ lên xe rồi ta cùng về”, ai ngờ thị im lặng đồng ý thật mà không hề do dự hay phân vân, cũng không đắn đo suy nghĩ. Và cũng không hề quan tâm xem Tràng là ai, tốt hay xấu thế nào, gốc tích ra sao? Thị phó mặc cuộc đời, nhắm mắt đưa chân theo một người đàn ông xa lạ vì đói. Biết đâu trong cơn nguy khó, Tràng lại có thể cứu rỗi đời thị một lần nữa. Chuyện bây giờ là làm sao để qua cơn đói nghèo, để cứu lấy thân chứ không phải chuyện duyên số hay lập gia đình. Chuyện đó còn dài lắm còn tùy thuộc vào ông trời nữa, chuyện như thế ai mà tính trước được. Đó cũng là niềm lạc quan yêu sự sống của thị – một phẩm chất đáng quý, đáng trân trọng của con người. Nói như Kim Lân:
“Trong hoàn cảnh khốn cùng, dù cận kề cái chết nhưng những con người ấy không nghĩ đến cái chết mà vẫn hướng tới sự sống, vẫn hi vọng, tin tưởng ở tương lai”.
Tưởng chừng thị là một người phụ nữ táo bạo vô duyên nhưng thực chất cũng vô cùng ý tứ, biết điều một người phụ nữ duyên dáng. Trên đường về nhà chồng, thị cắp cái thúng Tràng mua cho: rón rén, e thẹn “đầu hơi cúi, cái nón rách nghiêng nghiêng che khuất nửa mặt”.
Nàng dâu mới khi bị trêu chọc cũng e thẹn như bao nàng dâu mới khác; thị thèn thẹn, ngượng nghịu “chân nọ bước díu cả vào chân kia”
trước cái nhìn săm soi của người dân xóm ngụ cư. Về đến nhà chồng, thị “đảo mắt nhìn xung quanh, thấy ngôi nhà vắng teo đứng rúm ró trên
- Về đến nhà chồng:
+ Lẳng lặng đi theo Tràng vào trong nhà.
+ Đảo mắt nhìn xung quanh, “cái ngực gầy lép nhô lên, nén một tiếng thở dài”.
- Vào trong nhà:
+ Dè dặt, ngượng nghịu “chỉ ngồi mớm ở mép giường”.
+ Cung kính, lễ phép gặp mẹ Tràng, chào đến hai lần vì sợ bà không nghe rõ.
+ Khi chàng thưa chuyện thì “cúi mặt xuống, tay vân vê tà áo đã rách bợt”.
+ Lúc cụ Tứ bảo ngồi xuống thị “khẽ nhúc nhích, vẫn khép nép đứng nguyên chỗ cũ”.
Những hành động của thị cho thấy, chị là người rất ý tứ, rất mực thước.
Khi đã quyết định theo về làm vợ Tràng thì cuộc sống sau đó có thế nào, thị vẫn bằng lòng chấp nhận.
2.4. Thị là người phụ nữ hiền hậu, đúng mực, biết lo toan, vun vén cho hạnh phúc gia đình.
- Sáng hôm sau:
+ Thị dậy rất sớm cùng mẹ chồng “dọn dẹp, quét tước, thu dọn nhà cửa”.
+ Không còn vẻ chao chát, chỏng lỏn:
“rõ ràng là người đàn bà rất hiền hậu”.
mảnh vườn mọc lổn nhổn những búi cỏ dại”, thị nén một tiếng thở dài vì sợ Tràng buồn. Nhà văn kim Lân đã rất tinh tế khi miêu tả biểu hiện thất vọng của người vợ nhặt trước gia cảnh nhà chồng. Tiếng thở dài ngao ngán, thất vọng nhưng cũng là sự chấp nhận. Ai ngờ cái phao mà thị vừa bám vào lại là một chiếc phao cũng rách không kém. Trong tiếng thở dài ấy vừa có sự lo lắng cho tương lai ngày mai, vừa có cả những lo toan và trách nhiệm của thị khi mới về nhà chồng. Đó phải chăng là thị đã ý thức được trách nhiệm của mình đối với việc cùng chồng chung tay xây dựng gia đình. Tấm lòng của thị thật đáng quý biết bao.
Vào trong nhà, thị dè dặt, ngượng nghịu “chỉ ngồi mớm ở mép giường”. Khi gặp mẹ Tràng, thị cung kính, lễ phép, chào đến hai lần vì sợ bà cụ không nghe rõ. Lúc Tràng thưa chuyện thì
“thị cúi mặt, tay vân vê tà áo đã rách bợt” và bộ mặt lộ rõ vẻ đầy lo lắng. Chắc có lẽ thị nghĩ về cuộc sống mới của hai vợ chồng, rồi cuộc đời của thị sẽ đi đến đâu, người mẹ ấy có đồng ý sự xuất hiện của thị không... Mãi đến khi bà cụ Tứ bảo ngồi xuống, thị mới “khẽ nhúc nhích, vẫn khép nép đứng nguyên chỗ cũ”. Tất cả những hành động của thị cho thấy, chị là người rất ý tứ, rất mực thước, rất biết nhẫn nhục. Khi đã quyết định theo về làm vợ Tràng thì cuộc sống sau đó có thế nào, thị vẫn bằng lòng chấp nhận.
Thị cũng là một người vô cùng đảm đang tháo vát, hiền hậu và biết lo toan vun vén cho hạnh phúc gia đình. Ngay buổi sáng hôm sau, thị đã dậy sớm cùng mẹ chồng “dọn dẹp, quét tước, thu dọn nhà cửa cho gọn gàng, sạch sẽ”. Dường như thị muốn vun vén cuộc sống của gia đình và bắt đầu một cuộc sống mới. Thị hôm nay không còn vẻ chua ngoa đanh đá, chao chát chỏng lỏn. Đến chính Tràng cũng còn phải ngạc nhiên trước sự thay đổi của vợ mình: “Tràng nom thị hôm nay khác lắm, rõ ràng là người đàn bà hiền hậu đúng mực”.
- Bữa cơm đầu ở nhà chồng:
+ Ăn một cách ngon lành, vui vẻ, dù bữa cơm ngày đói thật ảm đạm, có “một lùm rau chuối thái rối và một đĩa muối”
ăn với “niêu cháo lõng bõng, mỗi người được lưng hai bát đã hết nhẵn”.
+ Khi bà cụ Tứ đưa thị bát “chè khoán” thì “mắt thị tối sầm lại” nhưng sau đó vẫn “điềm nhiên và vào miệng”.
Sự tương phản rõ nét ở hành động và cách ứng xử cho thấy sự cam chịu, chấp nhận của thị và tấm lòng trân trọng trước tình cảm của mẹ chồng.
- Thị đã đem đến một luồng sinh khí mới, một niềm tin mãnh liệt vào tương lai, khi cung cấp thông tin mới về thời cuộc cho mẹ con Tràng:
+ Nghe tiếng trống thúc thuế, thị nói với mẹ chồng: “Trên mạn Thái Nguyên, Bắc Giang người ta không chịu đóng thuế nữa. Người ta còn phá cả kho thóc của Nhật chia cho người đói nữa đấy”.
+ Sự hiểu biết của thị đã giúp Tràng giác ngộ về con đường phía trước:“trong óc Tràng vẫn thấy đám người đói ầm ầm đi trên đê Sộp, phía trước có lá cờ đỏ”.
Thị - “người vợ nhặt”, vợ của Tràng chính là người truyền tin cách mạng. Là nhân vật làm nổi bật nội dung tư tưởng cũng như tấm lòng nhân đạo sâu sắc của nhà văn Kim Lân.
Thị cũng rất vui tính và hòa nhập nhanh với cuộc sống mới. Trong bữa cơm đầu ở nhà chồng, thị vui vẻ ăn một cách ngon lành. Dù bữa cơm ngày đói thật ảm đạm, có “một lùm rau chuối thái rối và một đĩa muối” ăn cùng với
“niêu cháo lõng bõng nước, mỗi người được lưng hai bát đã hết nhẵn”. Thậm chí lúc cầm bát “cháo cám” mẹ chồng đưa, “mắt thị tối sầm lại” nhưng sau đó thị “điềm nhiên và vào miệng”. Sự tương phản rõ nét ở hành động cho thấy được sự cam chịu và tấm lòng trân trọng trước tình cảm của mẹ chồng. Người ta hay đùa vui: “ông trời rất công bằng” kể ra cũng đúng, có thể thị không tránh được cảnh đói rách, nghèo khổ khi làm vợ Tràng nhưng chị đã có được một người chồng hết mực yêu thương và người mẹ chồng hết lòng thương con. Ở đây ta lại càng thấy tấm lòng của nhà văn Kim Lân sáng tỏ hơn khi chứng minh rằng: “dù trong túng đói tột cùng thì vẫn cứ quý hơn bát cơm manh áo, vì chỉ có tình thương, chứ không phải miếng ăn, mới có thể làm cho cái sinh vật khốn khổ ấy được sống như một con người”.
Khi nghe tiếng trống thúc thuế, thị ngạc nhiên hỏi: “Ở đây vẫn phải đóng thuế cơ à?, rồi tiếp:
“Trên mạn Thái Nguyên, Bắc Giang người ta không chịu đóng thuế nữa đâu. Người ta còn phá cả kho thóc của Nhật chia cho người đói nữa đấy”. Sự hiểu biết của thị như đem đến một luồng sinh khí lạ giúp Tràng dấy lên bao niềm khát khao, hi vọng về con đường cách mạng phía trước với hình ảnh: “trong óc Tràng vẫn thấy đám người đói ầm ầm đi trên đê Sộp, phía trước có lá cờ đỏ to lắm!”.
Qua đó, ta thấy nhân vật người vợ nhặt, “nàng dâu mới” chính là người truyền tin cách mạng.
Viết về sự thay đổi trong tâm lí của thị, nhà văn Kim Lân bày tỏ tình cảm trân trọng, ngợi ca những phẩm chất tốt đẹp của người nông dân lao động nghèo.