Kết hợp giữa chính luận và trữ tình, suy tưởng và cảm xúc

Một phần của tài liệu KIẾN THỨC TRỌNG tâm văn 12 (Trang 130 - 133)

MỘT SỐ ĐỀ LUYỆN TẬP

2. Kết hợp giữa chính luận và trữ tình, suy tưởng và cảm xúc

- Kết cấu đoạn trích được xây dựng theo cách lập luận, như để trả lời cho hai câu hỏi:

“Đất nước là gì?” (phần đầu của đoạn trích), “Đất nước do ai sáng tạo ra?” (phần hai của đoạn trích).

- Nhiều câu thơ mang tính chất khẳng định như những chân lí: “Đất Nước này là Đất Nước Nhân dân/ Đất Nước của Nhân dân, Đất Nước của ca đạo thần thoại”...

- Những suy tưởng, những phát hiện mới về những điều gần gũi, quen thuộc (những truyền thuyết, truyện cổ tích, câu ca dao, địa danh, thắng cảnh quen thuộc, gần gũi lại chứa đựng những suy tưởng, những phát hiện mới về đất nước trong sự gắn bó với nhân dân).

b) Chất trữ tình, cảm xúc

- Những câu thơ bộc lộ trực tiếp tình cảm, cảm xúc của tác giả.

-Cái nhìn, thái độ trân trọng, yêu quý với mỗi hình ảnh, chi tiết về đất nước gắn liền với nhân dân.

MỘT SỐ ĐỀ LUYỆN TẬP

Đề 1: Trong đoạn trích “Đất Nước” thuộc trường ca “Mặt đường khát vọng”, nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm viết:

Khi ta lớn lên Đất Nước đã có rồi

Đất Nước có trong những cái “ngày xửa ngày xưa” mẹ thường hay kể.

Đất Nước bắt đầu với miếng trầu bây giờ bà ăn

Đất Nước lớn lên khi dân mình biết trồng tre mà đánh giặc Tóc mẹ thì bới sau đầu

Cha mẹ thương nhau bằng gừng cay muối mặn Cái kèo, cái cột thành tên

Hạt gạo phải một nắng hai sương xay, giã, giần, sàng Đất Nước có từ ngày đó...

Cảm nhận của anh chị về đoạn trích trên, từ đó nhận xét cách lý giải về nguồn gốc của Đất Nước trong thơ Nguyễn Khoa Điềm.

Mở bài

- Nêu được yêu cầu của đề:

+ Dẫn dắt vào nội dung đoạn trích .

+ Đưa ra nhận xét khái quát: Đó là cách lý giải nguồn gốc Đất Nước đầy mới mẻ của nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm.

Nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm từng tâm sự rằng: “Ý tưởng xuyên suốt của tôi trong chương V này của bài thơ “Đất Nước” là thể hiện một Đất Nước của Nhân dân. Do đó, từ ngữ, hình ảnh, chất liệu thơ được sử dụng đều nhằm làm rõ ý tưởng này”. Và điều đó được thể hiện ngay từ những câu thơ đầu của đoạn trích, khi nhà thơ lý giải về nguồn gốc của Đất Nước một cách đầy mới mẻ thông qua những câu chuyện cổ tích mẹ thường hay kể, những nét văn hóa giản dị, những thuần phong mỹ tục của người dân nước Việt. Và điều đó được thể hiện qua 9 câu thơ đầu của đoạn trích với cách lý giải nguồn gốc về Đất Nước một cách đầy mới mẻ của nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm.

Thân bài

- Khái quát về tác giả, tác phẩm và đoạn trích cần phân tích: nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm và đoạn trích “Đất Nước”.

+ Nguyễn Khoa Điềm là một trong những gương mặt tiêu biểu của thế hệ thơ trưởng thành trong cuộc kháng chiến chống Mỹ. Thơ ông giàu chất suy tư, cảm xúc lắng đọng, thể hiện tâm tư của người trí thức tham gia tích cực vào cuộc chiến đấu của nhân dân.

+ Đoạn trích “Đất Nước” thuộc phần đầu chương V, trường ca “Mặt đường khát vọng”; là một trong những đoạn thơ đặc sắc, thể hiện những cảm nhận, độc đáo của nhà thơ về đất nước.

1. Phân tích đoạn thơ (Theo dõi phần Nội dung quan trọng) Câu thơ đầu, nhà thơ khẳng định sự tồn tại của Đất Nước:

Khi ta lớn lên Đất Nước đã có rồi

+ Câu thơ như một lời chuyện trò tâm tình, chân thành mộc mạc của nhà thơ.

+ Danh từ “Đất Nước” được viết hoa tạo sự thiêng liêng, thành kính.

+ Cách nói “khi ta lớn lên” là để chỉ sự trưởng thành của mỗi con người, song song với đó là sự trưởng thành về nhận thức.

+ Ba chữ “đã có rồi” vừa như một lời khẳng định chắc nịch về sự tồn tại của Đất Nước, vừa bộc lộ niềm tự hào mãnh liệt về lịch sử hình thành và phát triển của dân tộc ta.

3 câu tiếp: nhà thơ lý giải nguồn gốc của Đất Nước một cách mới lạ nhưng cũng đầy thuyết phục

Đất Nước: + có trong “ngày xửa ngày xưa”...

+ bắt đầu với miếng trầu...

+ lớn lên khi dân biết trồng tre...

- Cụm từ “ngày xửa ngày xưa...”:

+ Thường được dùng mở đầu cho các câu chuyện cổ tích, gợi ý niệm Đất Nước đã có từ rất lâu trước cả sự ra đời của truyện cổ tích nên Đất Nước mới xuất hiện trong “cái ngày xửa ngày xưa mẹ thường hay kể”.

+ Đưa ta về với những câu chuyện cổ dân gian như Thạch Sanh, Thánh Gióng, Con Rồng cháu Tiên, Tấm Cám... Đó là những câu chuyện đã chăm bẵm, nuôi dưỡng tâm hồn ta từ thuở còn nằm nôi, để ta biết yêu quê hương, yêu đất nước.

- Đất Nước còn được thể hiện ở nét sống giản dị nhưng đậm đà của người mẹ, người bà Việt Nam. Đó là tục ăn trầu “Đất Nước bắt đầu với miếng trầu bây giờ bà ăn”.

+ Hình ảnh “miếng trầu” gợi cho ta nhớ “Sự tích trầu cau”, một câu chuyện mang ý nghĩa nhân văn nhân bản sâu sắc.

+ Hình ảnh “miếng trầu” còn gợi mối quan hệ tình nghĩa, truyền thống tốt đẹp của người dân Việt Nam. Trong tục cúng lễ, “miếng trầu”, “quả cau” là biểu tượng cho tấm lòng thành của con cháu gửi đến những bậc tiền bối đã khuất. Nó còn là biểu tượng cho tình yêu và hôn nhân và gia đình, là mối quan hệ vợ chồng thủy chung son sắt.

- Một trong những truyền thống quý báu của dân tộc ta là truyền thống đánh giặc giữ nước:

“Đất Nước lớn lên khi dân mình biết trồng tre mà đánh giặc”. Câu thơ gợi nhắc cho ta nhớ đến truyền thuyết Thánh Gióng, nhổ tre làng đánh giặc – một vẻ đẹp khỏe khoắn của tuổi trẻ Việt Nam kiên cường, bất khuất.

+ Hình ảnh cây tre hiện lên trên mỗi làng quê. Nó như sự đồng hiện những phẩm chất trong cốt cách con người Việt Nam: thật thà chất phác, đôn hậu thủy chung, yêu chuộng hòa bình nhưng cũng rất kiên cường bất khuất trong đấu tranh.

4 câu thơ tiếp, những yếu tố mang vẻ đẹp thuần phong mĩ tục của con người Việt Nam:

+ Đó là vẻ đẹp giản dị của người phụ nữ Việt Nam với phong tục “búi tóc sau đầu”

(tóc cuộn thành búi sau gáy tạo cho người phụ nữ một vẻ đẹp nữ tính, thuần hậu).

+ Đó là đạo lý ân tình ân nghĩa ngàn đời: “cha mẹ thương nhau bằng gừng cay muối mặn”, thành ngữ “gừng cay muối mặn” được nhà thơ vận dụng một cách tài tình: gừng càng già càng cay, muối càng lâu năm càng mặn, con người sống với nhau càng lâu thì càng tình nghĩa. Tình cảm chân thành ấy là nguồn gốc của mọi tình yêu thương như suối nguồn chảy qua muôn thế hệ.

+ Câu thơ: “Cái kèo cái cột thành tên” gợi nhắc một nét văn hóa của người Việt. Đó là truyền thống làm nhà “kèo – cột”, cột đẩy lên cao, kèo giữ các cây cột lại với nhau làm nên sự bền vững. Cũng từ gian nhà ấy, thói quen đặt tên con cái bằng những vật dụng quen thuộc cũng ra đời. Vì vậy mà cái kèo cái cột “cũng thành tên”.

+ Dân tộc ta với nền văn minh “lúa nước” cùng truyền thống cần cù lao động, chịu thương chịu khó “Hạt gạo phải một nắng hai sương xay, giã, giần, sàng”. Ở đây, nhà thơ sử dụng thành ngữ “một nắng hai sương” gợi lên truyền thống lao động cần cù, chịu thương, chịu khó của người dân ta. Để có được hạt gạo ta ăn hằng ngày, người nông dân phải trải qua quá trình gieo, cấy, xay, giã, giần, sàng rất vất vả.

+ Thấm vào trong hạt gạo nhỏ bé ấy là vị mặn mồ hôi nhọc nhằn của người dân “chân lấm tay bùn”. Câu thơ đã khéo léo nhắc nhở chúng ta đạo lý: “uống nước nhớ nguồn”, ăn hạt cơm dẻo thơm hôm nay phải biết nhớ đến công lao người làm ra nó.

Câu thơ cuối, khẳng định sự ra đời của Đất Nước một cách đầy tự hào: “Đất Nước có từ ngày đó...”

+ Nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm khẳng định với một niềm tự hào “Đất Nước có từ ngày đó”,

“ngày đó” là ngày nào ta không biết, cũng không rõ nhưng chắc chắn ngày đó là ngày ta có truyền thống, có phong tục tập quán, có nền văn hóa mà có văn hóa tức là có Đất Nước.

Một phần của tài liệu KIẾN THỨC TRỌNG tâm văn 12 (Trang 130 - 133)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(363 trang)