Chương 2: THỰC TRẠNG QUẢN TRỊ DÒNG TIỀN TẠI TỔNG CÔNG
2.5. ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG QUẢN TRỊ DÒNG TIỀN CỦA HANDICO
2.5.2. Những hạn chế và nguyên nhân
2.5.2.1. Những hạn chế trong quản trị dòng tiền của Tổng công ty
Thứ nhất, các chỉ tiêu quản trị dòng tiền đều biến động giảm đi trong giai đoạn vừa qua, điều này cho thấy tình hình quản trị dòng tiền thời gian này chưa thực sự hiệu quả, cả hệ số tạo tiền từ HĐKD, hệ số đảm bảo thanh toán lãi vay và hệ số đảm bảo thanh toán nợ đều giảm, thời gian chuyển hóa tiền dài. Nợ ngắn hạn biến động tăng, trong khi nguồn tiền từ hoạt động kinh doanh lại giảm, dòng tiền thuần hoạt động bị âm và thấp ở một số năm, từ đó ảnh hưởng rất lớn tới việc trả nợ gốc và lãi tiền vay.
Bên cạnh đó dòng tiền thuần của doanh nghiệp và dòng tiền thuần vốn chủ sở hữu không đủ để thực hiện các hoạt động.
Năm 2015 và năm 2020 FCFF < 0 cho thấy dòng tiền hoạt động tạo ra không đủ để tài trợ cho nhu cầu đầu tư mới vào tài sản cố định và vốn lưu động thuần tăng thêm.
Khi đó phần thâm hụt này sẽ cần được tài trợ bằng việc huy động thêm nguồn vốn mới hoặc sẽ phải điều chỉnh lại chính sách đầu tư vốn của Tổng công ty theo hướng giảm bớt nhu cầu đầu tư. FCFF mặc dù dương trong giai đoạn 2016 - 2019 nhưng năm 2018 lại biến động giảm so với năm 2017.
FCFE < 0 trong các năm, điều này có nghĩa là dòng tiền không có dành cho chủ sở hữu, do đó phần thiếu hụt tiền, một mặt sẽ không chi trả cổ tức, mặt khác sẽ phải huy động thêm vốn từ nguồn khác hoặc Tổng công ty sẽ phải điều chỉnh chính sách vay nợ, chính sách đầu tư.
Thứ hai, các công ty thuộc HANDICO vẫn chưa chú trọng đến lập kế hoạch dòng tiền. Những biến động kinh tế càng khẳng định tầm quan trọng của dòng tiền. Từ chỗ quan tâm đến doanh thu và lợi nhuận, giờ đây các doanh nghiệp bắt đầu ý thức về tình trạng khá phổ biến là “kinh doanh có lời nhưng lại mất khả năng thanh toán”. Thực tế, việc quản lý dòng tiền không phải là chuyện đơn giản. Nhiều công ty cố gắng liệt kê tất cả khoản thu chi và tìm biện pháp dự báo, tăng thu, giảm chi đối với từng khoản mục. Điều này tốn nhiều nguồn lực, cả về con người lẫn thời gian, trong khi kết quả chưa chắc đã thật tốt. Trong công tác lập kế hoạch dòng tiền của HANDICO, việc lập kế hoạch dòng tiền vẫn còn mang tính chất hoàn thành cho xong việc, chứ chưa coi trọng ý nghĩa của kế hoạch dòng tiền. Chính vì tâm lý chỉ để hoàn thành xong việc, nên công việc dự báo dòng tiền vào, dòng tiền ra được lập xong để đấy, chưa chú trọng vào việc chạy dòng tiền hàng tuần, hàng tháng. Bên cạnh đó, HANDICO cũng chưa xây
dựng được các quy trình lập dòng tiền: gồm quy trình lập dòng tiền hàng tuần, hàng tháng. Trong việc lập kế hoạch dòng tiền, TCT cũng chưa có quy trình lập các dòng tiền vào như theo dõi thanh toán từ chủ đầu tư, quy trình vay vốn; quy trình lập dòng tiền ra như: quy trình theo dõi trả nợ, kiểm soát chi phí, quy trình thanh toán.
Thứ ba, HANDICO chưa áp dụng một mô hình nào trong việc xác định dự trữ tiền mặt phù hợp. Trong thực tế, việc duy trì mức dự trữ tiền mặt vẫn đang được thực hiện theo kinh nghiệm, do vậy chưa được phù hợp.
Thứ tư, về công tác quản trị nợ phải thu Tổng công ty mới chỉ áp dụng được một số biện pháp cơ bản, điều này gây ảnh hưởng đến hiệu suất sử dụng vốn kinh doanh và tình hình dòng tiền của Tổng công ty. Tổng công ty chỉ thu thập thông tin về khách hàng mua chịu chứ không có hoạt động phân tích tài chính để làm căn cứ ra quyết định về chính sách tín dụng thương mại, đồng thời cũng chưa xây dựng được chính sách tín dụng thương mại phù hợp. Bên cạnh đó, trong hoạt động quản lý nợ phải thu, HANDICO chưa xây dựng được quy chế quản lý cũng như chưa áp dụng các phương tiện kỹ thuật hỗ trợ trong quản lý nợ phải thu.
Thứ năm, về quản trị hàng tồn kho: hàng tồn kho chiếm tỷ trọng lớn trong tài sản ngắn hạn nhưng HANDICO đã chưa xây dựng được mô hình quản trị hàng tồn kho phù hợp với đặc điểm hoạt động kinh doanh của mình. Đặc biệt có những thời điểm giá trị hàng tồn kho rất cao và giá cả nguyên vật liệu trên thị trường có nhiều biến động việc chưa có mô hình quản lý hàng tồn kho phù hợp đã làm cho hiệu quả sử dụng vốn của HANDICO giảm sút, đồng thời cũng gây tác động lớn đến quản trị dòng tiền của TCT.
Thứ sáu, về quản trị nợ phải trả, HANDICO vẫn chưa xây dựng được quy trình quản lý các khoản phải trả để tận dụng được nguồn vốn chiếm dụng trong những thời điểm TCT gặp khó khăn về dòng tiền.
2.5.2.2. Nguyên nhân của hạn chế Nguyên nhân khách quan
Thứ nhất, sự biến động của thị trường bất động sản. Thị trường bất động sản tăng trưởng chậm gây ảnh hưởng không nhỏ tới ngành xây dựng. Theo Hiệp hội nhà thầu xây dựng Việt Nam, do thị trường bất động sản khó khăn, nhiều dự án ngưng trệ dẫn tới tăng trưởng của ngành xây dựng không lớn. Nếu mọi năm ngành tăng trưởng trên 10% thì năm 2019 chỉ ở mức 1 con số. Việc tăng trưởng thấp khiến mức độ cạnh
tranh trên thị trường cũng khốc liệt hơn và tính cạnh tranh về giá cao hơn dẫn tới lợi nhuận của các công ty xây dựng vì thế cũng giảm đi.
Thứ hai, sự biến động của lãi suất. Trong giai đoạn 2015 - 2020 cũng như các giai đoạn khác thì sự cạnh tranh quyết liệt trong ngành xây dựng, thị trường bất động sản chững lại, sự mất cân đối tổng nợ trên vốn khả dụng đặc biệt là khoản phải thu trên tổng tài sản gia tăng, chi phí vốn vay tăng mạnh bào mòn lợi nhuận dẫn đến hiệu quả kinh doanh của Tổng công ty giảm sút.
Thứ ba, sự biến động của nền kinh tế. Những biến động của nền kinh tế ảnh hưởng không nhỏ đến tình hình tài chính của Tổng công ty có thể kể đến tốc độ giải ngân Nhà nước chậm, tiến độ của các dự án sử dụng vốn đầu tư công bị hoãn hoặc bị đội chi phí… Để ứng phó với tình trạng khó khăn, nhiều doanh nghiệp trong ngành đã áp dụng chiến lược phát triển khác nhau như duy trì các mảng hoạt động kinh doanh cốt lõi (xây dựng, xây lắp hay xây dựng công trình ngầm...), đồng thời các đơn vị cũng mở rộng hoạt động kinh doanh sang lĩnh vực bất động sản, kinh doanh vật liệu xây dựng, tư vấn thiết kế,… Bên cạnh đó, dịch bệnh phát sinh trong năm 2020 đã và sẽ ảnh hưởng đáng kể đến hoạt động của TCT.
Thứ tư, các sản phẩm dịch vụ từ thị trường tài chính và các định chế tài chính còn hạn chế. Trong thời gian qua, các NHTM chủ yếu chỉ tập trung vào mảng hoạt động chính để tạo ra lợi nhuận, mà chưa quan tâm nhiều đến việc phát triển các sản phẩm dịch vụ như sản phẩm tài chính phái sinh, quản lý dòng tiền, cho vay tài trợ vốn lưu động…
Thứ năm, dịch vụ hỗ trợ quản trị công nợ chưa phát triển. Hoạt động mua bán nợ ở Việt Nam chưa được phổ biến rộng. Hoạt động của VAMC hiện nay gồm mua bán nợ xấu của các TCTD, thu hồi nợ, đòi nợ và xử lý, bán nợ, tài sản đảm bảo, cơ cấu lại khoản nợ… Với mục đích này VAMC không phải là giải pháp cho hoạt động mua bán nợ tồn đọng của doanh nghiệp, không góp phần khơi thông dòng tiền ứ đọng trong công nợ của doanh nghiệp. Về hoạt động của trọng tài thương mại chưa thực sự được các doanh nghiệp sử dụng trong việc xảy ra tình trạng không thu hồi được nợ. Khi khách hàng cố ý không trả nợ thì doanh nghiệp thường lựa chọn toà án để khởi kiện, chứ chưa sử dụng trọng tài thương mại.
Nguyên nhân chủ quan
Thứ nhất, lựa chọn kỹ thuật quản trị dòng tiền chưa đồng bộ. HANDICO chưa quan tâm thực hiện áp dụng một mô hình quản trị dòng tiền nhất quán từ kỹ thuật phân
tích cơ cấu tiền, xác định chu kỳ tiền, quản trị nợ phải thu, phải trả, hàng tồn kho đến xác định lượng tiền mặt dự trữ tối ưu.
Thứ hai, khả năng dự báo dòng tiền hạn chế. Để dự báo dòng tiền phù hợp, HANDICO cần phải tập hợp đầy đủ thông tin tài chính cần thiết cho quá trình dự báo.
Thông tin dự báo gồm thông tin bên trong và bên ngoài doanh nghiệp. Tuy nhiên HANDICO chưa có bộ phận thu thập và xử lý thông tin. Mọi thông tin được lưu ở các bộ phận thuộc HANDICO và chưa có tính hệ thống. Thông tin kế toán được lưu ở phòng kế toán cho mục đích lập báo cáo tài chính. Thông tin thị trường lại do phòng kinh doanh theo dõi. Các thông tin này lại không đầy đủ, thiếu đồng bộ và không đánh giá tác động của thông tin đến kết quả dự báo. Bên cạnh đó, phương pháp dự báo dòng tiền vẫn chỉ áp dụng những phương pháp đơn giản và chỉ dự báo được dòng tiền ngắn hạn. Việc dự báo dòng tiền dài hạn sẽ gặp khó khăn vì công việc dự báo sẽ nhiều và phức tạp hơn trong việc tính toán và cân đối dòng tiền vào và ra. Kết quả dự báo phụ thuộc vào kinh nghiệm của nhà quản trị tài chính hoặc kế toán trưởng. Trên thực tế, HANDICO chưa có giám đốc tài chính tách biệt.
Thứ ba, năng lực thực hiện các dự án vẫn còn hạn chế.
- Quá trình triển khai thực hiện các dự án có một số khâu, một số yếu tố làm cho chi phí của dự án tăng lên, giảm hiệu quả đầu tư như: Tiến độ thực hiện của các dự án đều không đảm bảo theo quyết định phê duyệt, thời gian thi công kéo dài, dự án không hoàn thành đúng kế hoạch làm tăng chi phí đầu tư, tăng tổng mức đầu tư, nguồn tài nguyên đất chậm phát huy hiệu quả. Có những dự án đã huy động vốn đầu tư nhưng chưa triển khai thi công làm giảm hiệu quả sử dụng vốn đầu tư.
Hạn chế trong công tác lập, thẩm định, phê duyệt thiết kế - dự toán, xác nhận giá trị khối lượng nghiệm thu, thanh toán,… dẫn tới giảm hiệu quả thực hiện các dự án đầu tư. Quá trình triển khai còn chưa lường trước hết các khó khăn trong công tác giải phóng mặt bằng, nguồn vốn dẫn tới dự án kéo dài thời gian thực hiện qua nhiều năm.
Thời gian thực hiện dự án không đúng theo quyết định phê duyệt dự án, các gói thầu xây lắp đều chậm tiến độ; quá trình thực hiện dự án phải điều chỉnh, bổ sung khối lượng, công việc; phê duyệt dự toán các gói thầu, hạng mục vượt tổng mức đầu tư. Dự án thực hiện qua thời gian dài, chế độ chính sách thay đổi nhiều nhưng chủ đầu tư chưa thực hiện việc lập, trình thẩm định, phê duyệt dự án.
Một số hợp đồng không được thương thảo trước khi ký kết, hợp đồng còn trình bày chưa cụ thể về số lần thanh toán, giai đoạn thanh toán; cam kết theo hợp đồng
không được thực hiện nghiêm túc. Công tác quản lý tiến độ theo hợp đồng thì tại nhiều dự án chưa được thực hiện nghiêm túc theo quy định trong hợp đồng.
Thứ tư, trình độ quản trị dòng tiền
HANDICO chưa có bộ phận riêng phụ trách về quản trị dòng tiền cũng như chưa tách bạch được vai trò của kế toán trưởng và giám đốc tài chính. Chính vì vậy HANDICO chưa có giám đốc tài chính mà chỉ có kế toán trưởng. Quản trị dòng tiền của HANDICO là do kế toán trưởng và bộ phận kế toán thực hiện. Có thể thấy người phụ trách tài chính có vai trò quan trọng trong quản trị dòng tiền của doanh nghiệp.
Bên cạnh quản trị ngân quỹ, nhà quản trị tài chính còn thiết lập và quản trị mối quan hệ với các định chế tài chính, thực hiện quản trị rủi ro tài chính. Để có thể thực hiện quản trị dòng tiền một cách hiệu quả, nhà quản trị tài chính phải thường xuyên đánh giá và dự báo những biến động của môi trường kinh tế vĩ mô tới hoạt động của doanh nghiệp và tới dòng tiền của doanh nghiệp. Do vậy khi không có sự chuyên môn hoá cao về dòng tiền và tài chính thì kết quả của việc quản trị dòng tiền sẽ không tốt. Sự không tách bạch và không có bộ phận quản lý trực tiếp về dòng tiền sẽ làm ảnh hưởng tới tạo tiền trong các hoạt động kinh doanh, xử lý các tình huống khi thừa thiếu tiền và việc thiết lập mối quan hệ với các định chế tài chính.
Bên cạnh đó, nhân viên phụ trách về dòng tiền cũng có vai trò quan trọng như nhân viên quản trị công nợ của doanh nghiệp. Tuy nhiên HANDICO chưa có vị trí cho quản trị dòng tiền. Các nhân viên phụ trách về công nợ sẽ không thể thực hiện quản trị dòng tiền do chưa có kiến thức hoặc chưa hiểu đầy đủ về điều khoản tín dụng, chính sách tín dụng và tạo ra dòng tiền khi thực hiện các kỹ thuật quản trị phải thu, phải trả.
Thứ năm, quyết định tài chính của doanh nghiệp. HANDICO cũng chưa thực sự quan tâm đến các chính sách tài chính nói chung quản trị dòng tiền nói riêng.
HANDICO trực thuộc thành phố Hà Nội. Hàng năm Thành phố giao kế hoạch chỉ tiêu cần thực hiện cho TCT. TCT căn cứ vào đó để triển khai thực hiện nhằm đạt được các kế hoạch mà thành phố giao. Tuy nhiên kế hoạch mà thành phố giao hàng năm mới chỉ dừng lại ở chỉ tiêu doanh thu, lợi nhuận, tỷ suất lợi nhuận vốn chủ sở hữu. Trong quá trình thực hiện, HANDICO chỉ đánh giá xem có hoàn thành kế hoạch hay không chứ chưa thực sự chú trọng đến việc xây dựng các chính sách tài chính gồm chính sách đầu tư, chính sách tài trợ, chính sách quản trị vốn lưu động, trong đó có quản trị dòng tiền.
Và vì chưa có các chiến lược và chính sách tài chính, do đó hoạt động quản trị dòng
tiền của HANDICO vẫn chưa được theo quy chuẩn, hiệu quả chưa được đánh giá thực chất. Khi đưa ra các quyết định kinh doanh, HANDICO vẫn chủ yếu tập trung vào mục tiêu lợi nhuận, mà chưa thực sự quan tâm đến vai trò của tính thanh khoản và chưa quan tâm đến dòng tiền.
Thứ sáu, mô hình tổ chức doanh nghiệp theo mô hình công ty mẹ-công ty con:
Mô hình công ty mẹ - công ty con ảnh hưởng đến quản trị dòng tiền của cả tổ hợp. Các công ty con của HANDICO được hình thành bằng quyết định hành chính, Nhà nước điều chuyển các công ty này công ty mẹ HANDICO và giao quyền nắm giữ phần vốn của nhà nước cho công ty mẹ. Chính vì thế việc chi phối điều chuyển dòng tiền giữa công ty mẹ con sẽ khó có thể thực hiện do vướng vấn đề về quy định.
Thứ bảy, HANDICO chưa sử dụng các sản phẩm dịch vụ ngân hàng và các công cụ kỹ thuật hỗ trợ trong quản lý dòng tiền. Việc thực hiện quản trị dòng tiền hiện tại tại HANDICO vẫn chỉ được thực hiện thông qua sử dụng công cụ excel của máy tính. Với một TCT có nhiều dự án quy mô lớn như vậy, nếu không sử dụng các sản phẩm dịch vụ hoặc các công cụ kỹ thuật hỗ trợ thì sẽ gặp rất nhiều khó khăn trong việc kiểm soát dòng tiền, gây mất nhiều thời gian trong việc lập kế hoạch cũng như quản lý kiểm soát dòng tiền.
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2
Chương 2 đã phân tích khái quát về Tổng công ty đầu tư và kinh doanh nhà Hà Nội trong giai đoạn nghiên cứu. Trên cơ sở khảo sát và phỏng vấn, chương 2 đã phân tích thực trạng dòng tiền và quản trị dòng tiền của HANDICO trong thời gian qua. Hạn chế lớn nhất của HANDICO trong quản trị dòng tiền là chưa thực sự quan tâm đến dự báo và lập kế hoạch dòng tiền, chưa có quy trình trong việc lập kế hoạch dòng tiền, chưa thực sự chú trọng và áp dụng mô hình nào trong việc xác định lượng tiền mặt tối ưu. Nhu cầu tiền chưa được xác định phù hợp cho hoạt động kinh doanh của HANDICO. Đây sẽ là cơ sở thực tiễn để luận án đề xuất các giải pháp ở chương 3.