Dòng tiền của doanh nghiệp

Một phần của tài liệu QUẢN TRỊ DÒNG TIỀN TẠI TỔNG CÔNG TY ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN NHÀ HÀ NỘI (Trang 31 - 39)

Chương 1: LÝ LUẬN VỀ DÒNG TIỀN VÀ QUẢN TRỊ DÒNG TIỀN

1.1. DOANH NGHIỆP VÀ DÒNG TIỀN CỦA DOANH NGHIỆP

1.1.2. Dòng tiền của doanh nghiệp

1.1.2.1. Khái nim và ni dung dòng tin ca doanh nghip

Dòng tiền có một vai trò rất quan trọng, ảnh hưởng đến các quyết định kinh tế của doanh nghiệp. Chẳng hạn, để đưa ra quyết định đầu tư hay để ước lượng giá trị của khoản đầu tư, doanh nghiệp cần phải ước lượng dòng tiền trong tương lai do các khoản đầu tư mang lại.

Dòng tiền còn được đề cập đến như là liều thuốc cho khả năng thanh toán của doanh nghiệp. Doanh nghiệp cần tiền để thanh toán cho những hóa đơn và thanh toán các khoản nợ tới hạn.

Khi đề cập đến khái niệm của dòng tiền, trước hết ta cần hiểu khái niệm thông qua dòng tiền vào, dòng tiền ra và dòng tiền thuần.

Tiền mặt có thể đến từ các nguồn: Bán tài sản, đi vay, chuyển đổi tài sản thành tiền, tái đầu tư từ lợi nhuận. Dòng tiền ra bao gồm các khoản doanh nghiệp chi ra trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Dòng tiền thuần được xác định bằng tổng số tiền vào trong kỳ trừ đi số tiền bỏ ra trong kỳ tương ứng.

Qui trình vận động của tiền bắt đầu từ việc chuyển tiền vào, sản xuất sản phẩm dịch vụ cho khách hàng, bán và phân phối các sản phẩm hoặc dịch vụ xuất hiện các hóa đơn thu tiền... Nếu một doanh nghiệp thành công, tiền mặt ở thời điểm cuối sẽ vượt quá tiền mặt lúc ban đầu với một lượng nhiều hơn số cần thiết để bù đắp giá trị thời gian của tiền rút ra. Doanh nghiệp không thể tồn tại với việc bán hàng cho những khách hàng không trả tiền hoặc bán sản phẩm với số tiền thấp hơn chi phí tạo ra nó. Mục tiêu của doanh nghiệp là nhanh chóng đẩy mạnh quá trình chuyển đổi thành tiền nhiều nhất có thể.

Trên góc độ tài chính doanh nghiệp, dòng tiền khác với chỉ tiêu lợi nhuận kế toán trong kỳ. Lợi nhuận phản ánh kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp trong kỳ và được phản ánh dựa theo phương pháp kế toán dồn tích. Lợi nhuận là chênh lệch của doanh thu trừ chi phí. Doanh thu của doanh nghiệp được ghi nhận khi doanh nghiệp chuyển giao quyền sở hữu hàng hoá, dịch vụ cho khách hàng và được khách hàng chấp nhận thanh toán bất kể là đã thu được tiền hay không. Chi phí của doanh nghiệp cũng được ghi nhận khi phát sinh bất kể chi phí có bằng tiền hay không. Do vậy doanh nghiệp có lợi nhuận nhưng chưa chắc đã có tiền.

Lợi nhuận phản ánh khoản chênh lệch giữa doanh thu và chi phí thực tế phát sinh từ các hoạt động của một doanh nghiệp. Lợi nhuận chịu ảnh hưởng bởi phương

pháp hạch toán kế toán, phương pháp hạch toán hàng tồn kho, phương pháp khấu hao...

Có nhiều trường hợp ghi nhận doanh thu nhưng khách hàng chưa thanh toán, có những khoản được ghi nhận là chi phí để tính lợi nhuận nhưng không phải bằng tiền; ngược lại có nhiều trường hợp có sự thanh toán tiền nhưng không có khoản doanh thu hay chi phí nào được ghi nhận. Chẳng hạn doanh thu được ghi nhận ngay cả khi bán chịu, còn khấu hao tài sản cố định được ghi nhận là chi phí mặc dù không có khoản tiền nào phát sinh đi ra khỏi doanh nghiệp. Ngược lại có nhiều trường hợp có sự thanh toán tiền nhưng không có khoản doanh thu hoặc chi phí nào được ghi nhận, chẳng hạn như khi mua tài sản cố định, thanh toán các khoản nợ. Tiền mặt phụ thuộc vào thời điểm doanh nghiệp thanh toán và được thanh toán. Sự bất cân đối giữa hai khoảng thời gian này sẽ dẫn đến sự thiếu hụt tiền và doanh nghiệp phải bù đắp bằng những nguồn bên ngoài và như vậy sẽ phát sinh chi phí vốn tác động giảm lợi nhuận, hoặc sự dư thừa tiền mặt dẫn đến lãng phí và mất đi chi phí cơ hội của việc lưu giữ tiền mặt và như vậy cũng tác động giảm lợi nhuận...

Do khác nhau về thời gian ghi nhận nên dòng tiền và lợi nhuận sẽ khác nhau.

Nếu doanh nghiệp có tiền mặt cao nhưng lợi nhuận không cao thì doanh nghiệp chỉ chú trọng đến vấn đề trước mắt, và như vậy sẽ gặp những trở ngại về lâu dài. Ngược lại nếu doanh nghiệp có lợi nhuận cao nhưng tiền mặt không có thì trước mắt doanh nghiệp lập tức sẽ gặp những khó khăn.

Dòng tiền vào được ghi nhận khi nó chắc chắn được doanh nghiệp nhận nhưng chưa chắc dòng tiền đó là một khoản thu nhập của công ty. Doanh nghiệp ghi nhận dòng tiền ra khi khoản tiền đó được chi ra, nhưng khoản chi đó có thể không phải là chi phí của doanh nghiệp.

Dòng tiền và lợi nhuận đều là những chỉ tiêu để đánh giá tình hình tài chính của doanh nghiệp. Tuy nhiên mỗi một chỉ tiêu lại cho phép nhà quản trị sử dụng với một mục đích khác nhau trong công tác quản trị tài chính doanh nghiệp. Dòng tiền dùng để đánh giá khả năng tạo tiền và xem xét khả năng thanh toán các khoản nợ đến hạn; trong khi lợi nhuận kế toán lại được sử dụng để đánh giá khả năng sinh lời.

Trong thực tế, có rất nhiều các trường hợp doanh nghiệp có lợi nhuận kế toán cao nhưng lại không đảm bảo được khả năng thanh toán do thiếu tiền mặt và ngược lại có những doanh nghiệp có khả năng chi trả các khoản nợ rất tốt nhưng kết quả lợi nhuận kế toán lại không cao hoặc thậm chí có thể âm.

Như vậy có thể hiểu dòng tiền của doanh nghiệp phản ánh sự vận động của tiền đi vào và đi ra phát sinh từ các hoạt động trong một thời kỳ nhất định. (Bùi Văn Vần, Vũ Văn Ninh, 2013).

Hình 1.1: Dòng tin ca doanh nghip

Sự vận động của dòng tiền rất đa dạng, tiền có thể được hình thành từ nhiều nguồn, tiền có thể được sử dụng vào nhiều hoạt động khác nhau. Tuy nhiên, Hình 1.1 (Allman-Ward M., Sagner J., 2003) cho thấy tiền được hình thành từ một số nguồn và tiền được sử dụng cho giới hạn một số hoạt động. Điều này có hàm ý, các nhà quản trị chỉ cần nhìn vào một số khu vực để tìm kiếm cơ hội tạo nhiều dòng tiền vào và giảm dòng tiền ra cho doanh nghiệp. Điều này không có nghĩa là làm đơn giản đi quy trình quản trị dòng tiền mà đứng trên góc độ quản trị, quy trình quản trị không cần phải làm phức tạp hơn mức cần thiết.

Nội dung dòng tiền của doanh nghiệp bao gồm: Dòng tiền vào, dòng tiền ra và dòng tiền thuần.

Dòng tiền vào: Là dòng tiền phát sinh đi vào doanh nghiệp trong quá trình hoạt động. Đó là các khoản tiền thu được từ vốn bổ sung bằng tiền mặt, đi vay vốn, phát hành chứng khoán, nhận vốn góp, bán sản phẩm, hàng hóa, cung cấp dịch vụ, thanh lý tài sản, rút vốn đầu tư,...

Dòng tiền ra: Là dòng tiền phát sinh đi ra khỏi doanh nghiệp trong quá trình hoạt động. Đó là các khoản chi tiêu tiền của doanh nghiệp để đầu tư mua sắm tài sản, để thanh toán các hóa đơn mua nguyên vật liệu, mua công cụ, dụng cụ, chi sửa chữa,

bảo dưỡng, bảo hiểm, tiền đi lại, tiền hội họp, tiếp khách, trả lương, nộp thuế, nộp bảo hiểm, mua dịch vụ bên ngoài, các khoản phí trả chuyên gia, chi đào tạo và phát triển, trả tiền thuê tài sản, trả nợ vay, chi trả lãi vay, chi trả cổ tức...

Dòng tiền thuần: Là dòng tiền chênh lệch giữa dòng tiền vào và dòng tiền ra của doanh nghiệp phát sinh trong một kỳ hoạt động.

Hoạt động của doanh nghiệp trong kỳ rất đa dạng. Đối với doanh nghiệp được tổ chức theo mô hình công ty mẹ con, dòng tiền khác dòng tiền của một doanh nghiệp thông thường ở chỗ: do có sự đầu tư giữa công ty mẹ với công ty con; do có sự điều hòa vốn giữa mẹ và con; có sự phân phối lợi nhuận giữa các công ty trong tập đoàn cho nên nội dung dòng tiền từ các hoạt động của công ty sẽ có những dấu hiệu khác hơn.

1.1.2.2. Quy trình dòng tin ca doanh nghip

Bất cứ doanh nghiệp nào, dù là sản xuất hay thương mại, dịch vụ, tài chính, phi lợi nhuận đều bắt đầu với dòng tiền vào. Doanh nghiệp bắt đầu khởi hành hoạt động của mình bằng những đồng tiền đầu tư của chủ sở hữu và đi vay, sau đó tiến hành mua hàng hóa hoặc dịch vụ, cùng với các hoạt động sản xuất và tạo dịch vụ được cung cấp cho khách hàng, và chúng sẽ được chuyển đổi thành khoản phải trả, khoản phải thu hay tiền mặt. Quy trình dòng tiền vận hành cơ bản trong một doanh nghiệp vận hành theo một chu trình khép kín liên tục của việc chuyển đổi các tài sản ngắn hạn. Tuy nhiên điểm khác biệt duy nhất về quy trình dòng tiền giữa các lĩnh vực kinh doanh khác nhau đó là những diễn giải khác nhau. Chẳng hạn một doanh nghiệp thương mại sẽ mua hàng tồn kho là chủ yếu và phát sinh nhiều chi phí bán hàng, một doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ lại phát sinh nhiều khoản chi cho việc cung cấp dịch vụ cho khách hàng...

Hình 1.2 (Coyle B. (2000)) sau đây phản ánh qui trình dòng tiền một cách sơ lược trong doanh nghiệp sản xuất. Doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ, bán lẻ hay thậm chí doanh nghiệp phi lợi nhuận cũng có quy trình dòng tiền tương tự, chỉ khác nhau từ ngữ mô tả. Một doanh nghiệp bán lẻ sẽ chỉ phải mua hàng hoá và do vậy sẽ phát sinh chi phí mua hàng để phục vụ cho việc bán hàng. Doanh nghiệp dịch vụ có thể không phải mua hàng hoá, không phát sinh chi phí mua hàng nhưng sẽ phát sinh chi phí cung ứng dịch vụ. Ở bất kỳ doanh nghiệp nào, tiền cũng đều được chi ra trước khi nhận được tiền từ khách hàng. Có đủ tiền cho hoạt động là điều quan trọng giúp cho doanh nghiệp tồn tại được trong ngắn hạn và phát triển trong dài hạn.

Hình 1.2: Chu k to tin

Doanh nghiệp bắt đầu hoạt động với tiền do chủ sở hữu bỏ ra và từ vay nợ.

Doanh nghiệp mua hàng hoá, nguyên vật liệu, bắt đầu hoạt động sản xuất kinh doanh, chuyển tiền sang hình thái hàng tồn kho hoặc dịch vụ sẵn sàng cung ứng cho khách hàng. Khi hàng hoá được bán cho khách hàng, chúng được chuyển sang hình thái các khoản phải thu. Quá trình thu tiền chuyển các khoản phải thu thành tiền mặt. Nếu doanh nghiệp hoạt động hiệu quả, tiền thu về phải lớn hơn tiền chi ra và sự dư thừa tiền này sẽ được dùng để tái đầu tư giúp doanh nghiệp tăng trưởng. Quá trình này được lặp đi lặp lại. Hình 1.2 chỉ là minh hoạ chu kỳ tiền mặt một cách đơn giản. Các nhân tố như các khoản phải trả người bán, các khoản tài trợ từ bên ngoài, chuyển đổi tài sản, và lợi nhuận từ các hoạt động sẽ làm tăng tính sẵn có của nguồn tiền. Tuy nhiên, các khoản phải thu tăng, tăng hàng tồn kho, hoàn trả nợ, chi trả cổ tức và hoạt động kinh doanh thua lỗ sẽ làm giảm tiền. Hơn nữa, các doanh nghiệp còn cần phải đầu tư vào các tài sản cố định như nhà xưởng, máy móc thiết bị để duy trì hoặc mở rộng hoạt động kinh doanh. Những hoạt động này không chỉ là một phần trong chu kỳ tạo tiền mà còn đòi hỏi một lượng tiền chi ra khá lớn.

Trong thực tế, quy trình dòng tiền không vận hành một cách đơn giản như vậy, mà còn bị nhiều gián đoạn như sự thay đổi về lượng hàng tồn kho, các khoản phải thu và các khoản phải trả người bán. Hàng tồn kho và các khoản phải thu là những tài sản làm giảm đi tính sẵn có của nguồn tiền cho đến khi chúng được bán và thu được tiền về. Duy trì nhiều lượng hàng tồn kho và các khoản phải thu sẽ làm ảnh hưởng đến khả năng thanh toán của doanh nghiệp. Tuy nhiên duy trì nhiều lượng tiền mặt lại ảnh

hưởng đến khả năng sinh lời của doanh nghiệp. Lượng tiền mặt cần duy trì không quá nhiều, không quá ít, chỉ vừa đủ. Một lượng bao nhiêu là vừa đủ? Không có công thức để xác định nhưng doanh nghiệp cần lưu ý: Cần đủ tiền để thanh toán các hoá đơn, thanh toán lãi vay, thanh toán phí dịch vụ; Cần đủ tiền để chớp được cơ hội đầu tư; Cần đủ tiền để phòng ngừa những rủi ro có thể xảy ra.

1.1.2.3. Phân loi dòng tin ca doanh nghip

Tuỳ theo tiêu thức phân loại khác nhau, dòng tiền của doanh nghiệp được chia ra thành các loại khác nhau.

Nếu theo tiêu thức hoạt động, dòng tiền của doanh nghiệp gồm:

+ Dòng tiền từ hoạt động kinh doanh: là dòng tiền phát sinh từ hoạt động kinh doanh của DN. Hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp gồm hoạt động sản xuất và kinh doanh hàng hoá, dịch vụ. Dòng tiền này chịu sự tác động rất lớn của các chính sách như bán hàng, mua hàng, chiết khấu thanh toán,... Dòng tiền hoạt động kinh doanh (bao gồm dòng tiền vào và dòng tiền ra) được phát sinh từ việc mở rộng điều kiện cho nợ, đầu tư vào hàng tồn kho, chiếm dụng vốn từ nhà cung cấp. Dòng tiền chủ yếu từ hoạt động kinh doanh bao gồm: thu từ việc bán hàng hoá, cung cấp dịch vụ, thu từ các khoản thu khác (tiền bản quyền, phí…). Đối với doanh nghiệp, họat động sản xuất kinh doanh là hoạt động chính thì đây là dòng tiền quan trọng nhất của doanh nghiệp. Thông qua phân tích dòng tiền từ hoạt động kinh doanh cho thấy được năng lực hoạt động của doanh nghiệp. Sự khác biệt về lợi nhuận và dòng tiền thuần từ hoạt động kinh doanh giúp doanh nghiệp đánh giá được chất lượng lợi nhuận. Thông tin về dòng tiền từ hoạt động kinh doanh khi được sử dụng kết hợp với các thông tin khác sẽ giúp người sử dụng dự đoán được dòng tiền từ hoạt động kinh doanh trong tương lai.

+ Dòng tiền từ hoạt động đầu tư: Đó là dòng tiền phát sinh từ hoạt động đầu tư mua sắm, hình thành nên tài sản dài hạn của doanh nghiệp và các khoản đầu tư tài chính. Các dòng tiền chủ yếu từ hoạt động đầu tư gồm: tiền để mua sắm, xây dựng TSCĐ và các tài sản dài hạn khác, tiền từ việc thanh lý, nhượng bán TSCĐ và các tài sản dài hạn khác. Dòng tiền này chịu sự tác động rất lớn của các yếu tố về ngành nghề kinh doanh, vòng đời doanh nghiệp, sự phát triển khoa học công nghệ, tình hình kinh tế vĩ mô. Đây là dòng tiền có tác động rất lớn đến khả năng tạo tiền lâu dài của doanh nghiệp.

+ Dòng tiền từ hoạt động tài chính: Đây là dòng tiền đến từ hoạt động huy động vốn như vay vốn, trả nợ phát hành chứng khoán, kêu gọi vốn góp, phân phối lợi nhuận,

mua lại cổ phần, phân phối lợi nhuận. Đây là dòng tiền có liên quan đến việc thay đổi quy mô và kết cấu của vốn chủ sở hữu và vốn vay của doanh nghiệp.

Bảng 1.1: Nội dung dòng tiền theo hoạt động trong doanh nghiệp

Hoạt động Dòng tiền vào Dòng tiền ra

Dòng tiền từ hoạt động kinh

doanh

Tiền thu từ bán hàng và cung cấp dịch vụ

- Tiền trả cho người cung cấp nguyên vật liệu, dịch vụ

- Tiền chi trả lãi vay

- Tiền trả cho người lao động - Tiền nộp thuế, phí

Dòng tiền từ hoạt động đầu tư

- Tiền thu từ thanh lý, nhượng bán TSCĐ và các khoản tài sản dài hạn khác.

- Tiền thu hồi đầu tư góp vốn vào các đơn vị khác (trừ trường hợp tiền thu từ bán lại cổ phiếu đã mua vì mục đích thương mại)

- Tiền thu hồi cho vay (trừ trường hợp tiền thu hồi cho vay của ngân hàng, tổ chức tín dụng và các tổ chức tài chính)

- Tiền chi mua sắm, xây dựng tài sản cố định và tài sản dài hạn khác.

- Tiền chi đầu tư góp vốn vào các đơn vị khác (trừ trường hợp tiền chi mua cổ phiếu vì mục đích thương mại)

Dòng tiền từ hoạt động tài

chính

- Tiền thu từ phát hành cổ phiếu, nhận vốn góp của chủ sở hữu.

- Tiền thu từ các khoản vay ngắn hạn, dài hạn

- Tiền chi trả vốn góp của chủ sở hữu, mua lại cổ phiếu của chính doanh nghiệp đã phát hành.

- Tiền chi trả khoản nợ gốc đã vay…

Nguồn: Bùi Văn Vần, Vũ Văn Ninh (2013), Giáo trình tài chính doanh nghiệp, Học viện Tài chính.

Việc phân loại và báo cáo dòng tiền theo các hoạt động sẽ cung cấp thông tin cho người sử dụng đánh giá ảnh hưởng của các hoạt động đó đối với tình hình tài chính và đối với lượng tiền và các khoản tương đương tiền tạo ra trong kỳ của doanh nghiệp.

Thông tin này cũng được dùng để đánh giá các mối quan hệ dòng tiền giữa các hoạt động nêu trên.

Qua phân tích ở trên có thể cho thấy dòng tiền của doanh nghiệp có đặc điểm:

- Dòng tiền được xác định tại thời điểm nhập quỹ và xuất quỹ.

- Là dòng tiền thực thu và thực chi.

- Nội dung thu chi được xác lập.

- Dòng tiền có thể dự báo và kiểm soát.

Một phần của tài liệu QUẢN TRỊ DÒNG TIỀN TẠI TỔNG CÔNG TY ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN NHÀ HÀ NỘI (Trang 31 - 39)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(320 trang)