Văn hoá quản lý

Một phần của tài liệu Giáo trình văn hóa và đạo đức quản lý (Trang 36 - 40)

34 GIÁO TRÌNH VĂN HÓA VÀ ĐẠO ĐỨC QUẢN LÝ

Hộp 1.2. Hộp 1.2. MƯỜI TIÊU CHUẨN ĐẠO ĐỨC CỦA DOANH NGHIỆP XÃ HỘI

1.1.5. Văn hoá quản lý

Quản lý và văn hoá là hai lĩnh vực hoạt động rất đặc biệt, đặc trưng nhất của loài người, thể hiện trình độ phát triển vượt bậc của nhân loại. Cả hai đều xuất hiện ngay từ khi con người có nhu cầu liên kết và phối hợp để cùng tồn tại và phát triển. Ra đời vì nhu cầu sinh tổn, và các nhu cầu khác của cuộc sống, quản lý và văn hoá đều phát triển “vị con người”; thích nghi, biến đổi và phát triển cũng theo cùng sự vận động phát triển của loài người. Nắc thang phát triển của nhận thức con người đã khám phá ra vai trò của hai yếu tố này trong nhau, hình thành dần dần những khía cạnh về một chỉnh thể: Văn hoá quản lý.

Không phải ngay từ đầu vấn đề văn hoá đã trở thành mối quan tâm của quản lý, và cũng không phải ngay từ đầu vấn đề văn hoá quản lý đã trở thành một bộ phận quan trọng trong hệ thống văn hoá. Sự kết hợp diễn ra như là một quá trình phát triển tất yêu của xã hội loài người nói chung, cũng như của từng lĩnh vực nói riêng. Lúc đầu, văn hoá được các nhà quản lý sử dụng như một động lực nâng cao hiệu quả hoạt động. Dan dan, trong hoạt động thực tiễn của các tô chức, đã từng bước hình thành những đặc trưng văn hoá trong quản lý. Bên cạnh đó, quản lý là hoạt động lao động chủ yêu của loài người, đặc biệt là ngày càng phát triển trong cuộc sống hiện đại, do đó, văn hoá cũng không thể không bao trùm lên hoạt động này. Văn hoá quản lý là một biểu hiện sinh động trong hệ thống đa dạng của đời sống văn hoá.

Văn hoá quản lý là một hiện tượng xã hội, gắn liền với mọi quan hệ, hoạt động, quá trình quản lý, với hệ thống những ý nghĩa, giá tri, niềm tin, chuẩn mực đặc trưng của một tổ chức, với những biểu trưng vật chất và tỉnh thân khác nhau, được các nhà quản lý sử dụng trong quả trình thực hiện các mục tiêu quản lý đã đặt ra.

Cần phân biệt khái niệm “văn hóa quản lý” với các khái niệm có liên quan như văn hoá tổ chức, văn hoá doanh nghiệp, văn hoá kinh doanh,... Theo Edgar H.Schein (2004), văn hóa tổ chức là “khuôn

Chương 1. NHẬP MÔN VĂN HOÁ VÀ ĐẠO ĐỨC QUẦN LÝ 39

mẫu của những quan niệm chung của nhóm trong giải quyết những vấn đề về sự thích ứng bên ngoài và hội tụ bên trong của mình, cái có thể hoạt động đủ tốt để được xem là có hiệu lực và do vậy, được

truyền cho những thành viên mới như là con đường đúng đắn để nhận

thức, tư duy và cảm nhận trong sự liên quan tới những vấn đề đó”.

Một học giả Nga, E.A.Zamedlina, cho rằng, “Văn hóa tổ chức là tổng thể các mối liên hệ, các tương tác, các quan hệ được thực hiện trong một hoạt động cụ thê ở một tổ chức cụ thể; đó là hệ thống các biểu tượng và khuôn mẫu hành vi, các quan điểm, giá trị được đa số thành viên của tổ chức chia sẻ; đó là tổng thê các quan niệm của tổ chức đối với các hoạt động và biện pháp, thế giới quan và tỉnh thần của tổ chức””. Văn hoá tổ chức được hiểu theo nghĩa rộng hơn và bao trùm

văn hoá quản lý, bởi quản lý là một thuộc tính của tô chức, một chức năng nhằm duy trì và phát triển của tổ chức; ngoải chức năng quản lý, tổ chức còn nhiều chức năng khác. Còn văn hoá doanh nghiệp hay văn hoá công ty là biểu hiện cụ thể của văn hoá tổ chức trong một loại

hình tổ chức cụ thể. Theo TS. Đỗ Thị Phi Hoài, tác giả của cuốn giáo trình Văn hóa đoanh nghiệp xuất bản năm 2009, “Văn hóa doanh nghiệp là hệ thống các ý nghĩa, giá trị, niềm tin chủ đạo, cách nhận

thức và phương pháp tư duy được mọi thành viên trong doanh nghiệp cùng đồng thuận và có ảnh hưởng ở phạm vi rộng đến cách thức hành động của từng thành viên trong hoạt động kinh doanh, tạo nên bản sắc kinh doanh của doanh nghiệp đó”. Khi đề cập đến văn hóa kinh doanh, lại tập trung chủ yếu bàn về chức năng kinh doanh của doanh nghiệp, trong mối liên hệ nhất định với các chức năng khác. Giáo trình Văn hóa kinh doanh xuất bản năm 2012, do PGS.TS. Dương Thị Liễu

làm chủ biên, khẳng định “Văn hóa kinh doanh là một hệ thống các

giá trị, các chuẩn mực, các quan niệm và hành vi do chủ thể kinh

1 Edgar H.Schein, Organizational culture and leadership (3th ed), San Francisco, Jossey-Bass,

2004, p.17. .

? E.A.3aMennHa, OpraHi3aHoHHan KynbTypa, Mocksa, 2009, POP, cTp.3.

3 Đỗ Thị Phi Hoài, Văn hóa doanh nghiệp, NXB Tài chính, Hà Nội, 2009, trang 19.

40 GIÁO TRÌNH VĂN HÓA VÀ ĐẠO ĐỨC QUẢN LÝ

doanh tạo ra trong quá trình kinh doanh, được thể hiện trong cách ứng xử của họ với xã hội, tự nhiên ở một cộng đồng hay một khu vực”, Khi ta đề cập đến văn hoá tô chức, văn hoá doanh nghiệp, là đang nói đến các giá trị bao trùm các khía cạnh của tổ chức, đến tất cả các hoạt động chức năng của tô chức. Khi ta đề cập đến văn hoá kinh doanh, ta nhân mạnh ở hoạt động kinh doanh. Khi nói đến văn hoá quản lý, là

phải nhắn mạnh trước hết đến những giá trị vật chất va tinh than hình

thành trong quá trình quản lý, trong quan hệ quản lý giữa chủ thể quản

lý và đối tượng quản lý, thực hiện các chức năng quản lý nhằm thực

hiện mục tiêu quản lý của tổ chức, đến vai trò của chủ thể quản lý, phong cách quản lý. Văn hóa quản lý góp phần tạo nên bản sắc cho tô chức, nhưng một mình nó không thể tạo nên bản sắc cho tổ chức, vì các vấn đề của tổ chức rất đa dạng, rất rộng lớn, bao gồm nhiều hoạt động khác nhau.

Văn hóa quản lý có những đặc trưng chủ yêu như sau:

Một là, tính cộng động. Văn hóa là khuôn mẫu điều chỉnh hành vi

của một cộng đồng người, vượt qua khuôn khổ hành vi của một vài cá nhân; du tốt hay dù xấu, thúc đây hay kìm hãm với. sự phát triển của xã hội hiện tại, văn hóa là cái được cộng đồng chấp. nhận và ứng xử

theo một cách ## nhiên. Nó gồm các thói quen, tập tục, lễ nghi, tôn giáo...tác động tới tâm lý, hành vi của một khối đông người theo cách

mặc nhiên, có tính đồng hóa rất rộng. Sự mạnh hay yếu của một nền văn hóa của một tổ chức nói chung và văn hóa quản lý nói riêng là phụ thuộc vào mức độ, cường độ của sự tác động này. Nếu một người nào đó làm khác đi sẽ bị cộng đồng lên án hoặc xa lánh, và người quản lý cũng không ngoại lệ.

Hai là, tính đặc thù, bản sắc. Người ta có lý khi ví văn hóa như một “ tắm thẻ căn cước” của một tổ chức hay một tộc người, dân tộc.

Văn hóa tạo ra sự đa dạng, khác biệt giữa các chủ thé van hoa khac

! Dương Thị Liễu, Văn hóa kinh doanh, NXB Đại học Kinh tế Quốc dân, Hà Nội, 2012, trang 43.

Chương 1. NHẬP MÔN VĂN HOÁ VÀ ĐẠO ĐỨC QUẦN LÝ 41

nhau đồng thời cũng tạo ra sự đồng thuận, thống nhất trong lối ứng

xử, lối sống nội bộ cộng đồng làm chủ thể mỗi nền văn hóa. Văn hóa quản lý là sự thể hiện quan điểm, triết lý, phương hướng và phong cách của chủ thé quản lý cụ thể, tạo nên sự khác biệt giữa các chủ thể quan ly. Chu thé quan lý có những suy nghĩ và đánh giá khác nhau về cùng một sự vật, hiện tượng trong quá trình lập kế hoạch, tổ chức,

lãnh đạo và kiểm tra.

Ba là, tính ổn định và bảo thủ. Văn hóa cũng được ví như “bộ gien” bảo tồn lối sống và cách ứng xử của cộng đồng trong quá trình ton tại và phát triển của nó. Văn hóa tạo sự truyền nối, “di truyền xã hội” giữa các thế hệ người, nhưng mặt khác, nó có thể tạo ra những

lực cản mạnh và bền vững đối với sự đổi mới, mặc dù nó không thé không biến đổi khi cuộc sống đã thay đổi. Những cái cũ, lạc hậu có

thé bị loại trừ, nhưng sự sàng lọc và tích tụ theo hướng khiến các giá

trị trở lên thiết thực hơn, phong phú hơn và nhân văn hơn, đáp ứng với

sự biến đổi không ngừng của môi trường quản lý.

Bốn là, tính giá trị, tỉnh hoa. Văn hóa chỉ chứa cái hữu ích, cái

tốt, cái đẹp. Nó là thước đo mức độ nhân bản của con người, là một hệ

thống các giá trị chân - thiện - mỹ có tác dụng điều chỉnh hành vi của các cá nhân và tổ chức đời sống cộng đồng. Đúng là một nền văn hóa nào cũng có tính hai mặt, nhưng tính ưu trội, vai trò chủ đạo của nó vẫn thuộc về yếu tố tinh hoa, hiện thân của các giá trị mà một cộng đồng, dân tộc sáng tạo ra.

__ Năm là, tỉnh có thể học hỏi được. Văn hoá không chỉ được truyền

lại từ đời này qua đời khác, mà nó còn phải do học mới có. Đa số những kiến thức, mà một người có được, là do học được thông qua nhiều phương thức khác nhau. Do đó, con người ngoài vốn văn hoá có

được từ nơi sinh ra và lớn lên, có thê học được từ những nơi khác,

những nền văn hoá khác. Và từ đó, văn hoá luôn luôn phát triển, tự điều chỉnh cho phù hợp với trình độ và tình hình mới. Văn hóa quản lý

được chủ thể quản lý tiếp thu từ truyền thống, từ các chương trình đào

Một phần của tài liệu Giáo trình văn hóa và đạo đức quản lý (Trang 36 - 40)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(291 trang)