Sự hình thành văn hóa quản lý trong các tổ chức

Một phần của tài liệu Giáo trình văn hóa và đạo đức quản lý (Trang 56 - 63)

58 GIÁO TRÌNH VĂN HÓA VÀ ĐẠO ĐỨC QUẢN LÝ

2.1. Sự hình thành văn hóa quản lý trong các tổ chức

Văn hoá quản lý hình thành trong quá trình hình thành và phát triển tổ chức. Đối với nhiều nhóm chính thức, một cá nhân đóng vai trò người sáng lập, sẽ hình thành nhóm và trở thành thủ lĩnh. Ví dụ:

' Edgar H.Schein, Organizational culture and leadership (3th ed), San Francisco, Jossey-Bass,

2004, p.26.

Chương 2. NỘI DUNG XÂY DỰNG VĂN HOA QUAN LÝ 59

khi một đoanh nhân mở công ty, một người tu hành thu nạp các tín đồ, một nhà chính trị tạo dựng đảng phái, một thầy giáo mở lớp học, hoặc một nhà quản lý tiếp quản một phòng ban mới trong tô chức. Những cá nhân tạo lập cho dủ là một doanh nhân hay chỉ là người tập hợp nhóm - đều có những tầm nhìn, mục tiêu, niềm tin, giá trị và các giả định về các vấn đề sẽ xảy ra. Cá nhân ấy ban đầu áp đặt lên các nhóm và/ hoặc chọn lựa thành viên dựa trên sự tương đồng trong quan điểm

và giá trị.

Chúng ta có thê đánh giá sự áp đặt này là hành động cơ bản của người quản lý, nhưng nó không tạo ra văn hoá một cách tự động. Tat cả thanh quả của nó là sự ưng thuận của những người đi theo, làm

theo những gì người quản lý yêu cầu. Chỉ khi những hành vi ấy đem

lại “sự thành công” — nghĩa là tổ chức hoàn thành nhiệm vụ và các thành viên hài lòng với mối quan hệ của mình với người khác — niềm tin và giá trị của người tạo dựng mới được xác nhận và củng cố, và quan trọng nhất, sẽ trở thành những niém tin va gid tri được chia sẻ.

Quan điểm cá nhân của người tạo dựng sẽ dẫn tới những hành động chung, và khi thành công, sẽ đem lại sự thừa nhận về sự đúng đắn của người tạo dựng. Sau đó, tổ chức sẽ lặp lại những niềm tin và gia tri này. Và nếu như nó tiếp tục thành công, cách suy nghĩ, cảm nhận và hành động này được thừa nhận là đúng đắn.

Mặt khác, nêu niềm tin và giá trị của người tạo dựng không đem

lại thành công, tổ chức sẽ thất bại và mất đi hoặc sẽ tìm kiếm một quản lý khác cho tới khi tìm thấy ai đó có niềm tin và giá trị đem lại thành công. Quá trình hình thành văn hoá quản lý sẽ luôn vận động phát triển đối với người quản lý mới. Khi tiếp tục gia cố, tô chức sẽ

nhận thức về những niềm tin và giá trị này nhạt dần đi, những niềm tỉn

và giá trị này sẽ trở thành những giả định không thể vượt qua được.

Khi quá trình này tiếp diễn, các giả định sẽ vượt khỏi tầm hiểu biết và

trở thành đúng đắn. Khi các giá định trở thành đúng đắn, chúng sẽ trở thành một phần xác định nên tô chức; và những người mới sẽ phải học cách suy nghĩ, cảm nhận và hành động theo tổ chức; nếu vi phạm quy

60 GIÁO TRÌNH VĂN HÓA VÀ ĐẠO ĐỨC QUẢN LÝ

định, họ sẽ cảm thây không thoải mái, lo lắng, bị khai trừ khỏi nhóm và tổ chức. Quan điểm về các giá định này ngược lại với niềm tin và

các giá trị - không thể bàn luận xem có hay không thực hiện, mặc nhiên phải thực hiện.

Tóm lại, chúng ta có thể coi văn hoá quản lý là những học hỏi chung được tích luỹ của một tổ chức cụ thể, bao gồm các thành tố hành vi, cảm xúc và nhận thức của các thành viên tô chức về mặt chức năng tâm lý khi hoạt động quản lý diễn ra. Vì có những học hỏi chung này, nên phải có lịch sử trải nghiệm chung thể hiện sự bền vững của mối quan hệ thành viên tổ chức. Lịch sử chung và sự bền vững này, cùng với nhu cầu của con người hướng tới sự bền vững, ổn định, sẽ

khiến các thành tố khác nhau hình thành nên các khuôn mẫu mà được

gọi là văn hoá.

Có những phương thức khác nhau hình thành các khuôn mẫu

hành vi trong quản lý. Thông thường các nhà quản lý là người khởi xướng quá trình này, họ áp đặt các giá trị mà họ cho là đúng và buộc các thành viên phải thực hiện. Điều đó chưa tạo nên các khuôn mẫu.

Nhưng qua một thời gian nhất định, các thành viên đồng thuận và coi

đó là giá trị đúng đắn của tổ chức, mọi người đều làm theo, hình thành

văn hóa quản lý của tổ chức. Trong một số trường hợp, nó được du nhập vào tổ chức qua con đường học tập kinh nghiệm của các tổ chức khác hoặc do chính các thành viên mang theo nhiều đặc tính của nhiều nền văn hóa khác nhau, tạo nên tổ chức đa văn hóa và các khuôn mẫu

thích ứng với quá trình biến đổi. Có những tổ chức không xác định được văn hóa quán lý ngay từ đầu, nhưng qua hoạt động của tô chức, dần đần các thành viên mới nhận ra những giá trị chung được chia sẻ, họ thừa nhận và coi la ding đắn, sau đó được thê hiện rõ trong các văn bản hoặc các tuyên bố do các nhả quản lý soạn thảo, thống nhất với toàn bộ thành viên của tô chức. Quá trình hình thành văn hóa quản lý bắt nguồn từ những nguồn gốc khác nhau, chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố khác nhau. Tùy theo các tiếp cận nghiên cứu văn hóa của các

Chương 2. NỘI DUNG XÂY DỰNG VĂN HÓA QUẦN LÝ 61

loại hình, quy mô, các lĩnh vực khác nhau, các tổ chức khác nhau, các yêu fô có tác động khác nhau. Dưới đây chúng ta sẽ xem xét một sô yếu tố chủ yêu tác động đến sự hình thành văn hóa quản lý nói chung.

* Các yếu tổ tác động đến sự hình thành văn hóa quản lý

Khi nói đến nguồn gốc là ta xét đến điểm khởi đầu, bắt đầu hoạt động có tính văn hoá. Khi con người bắt đầu làm việc chung với nhau, bat đầu đã có hoạt động mang tính quản lý. Văn hoá và quản lý đều đã có từ rất sớm, và được hình thành trong điều kiện phát triển còn rất

thấp. Có nhiều yếu tổ tác động đến văn hóa và quản lý, cũng như văn hóa quản lý. Vậy những yếu tố nào tác động đến quá trình hình thành

văn hóa quản lý? Có thể xét đến một số yếu tô như sau:

Văn hoá dân tộc

Văn hóa quản lý bắt nguồn từ giá trị truyền thống của văn hóa dân tộc. Suy cho cùng, mỗi dân tộc sản sinh ra toàn bộ giá trị văn hóa dân tộc của mình và tác động lên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, trong đó có hoạt động quản lý. Mức độ coi trọng tính cá nhân hay tính tập thể, khoảng cách phân cấp của xã hội, tính linh hoạt chuyển đối giữa các tầng lớp xã hội, sự bất bình đẳng trong nam quyền và nữ quyền, tính thận trọng,... là những yếu tố văn hóa dân tộc, văn hóa xã hội có tác động mạnh mẽ đến văn hóa quản lý.

Ví dụ: Văn hóa Mỹ đề cao chủ nghĩa cá nhân, quan niệm cá nhân hành động vì lợi ích của bản thân hoặc những người thân trong gia đình rất phổ biến, do đó chủ thể quản lý là người ra quyết định và tự

chịu trách nhiệm về quyết định của mình, thành tích cá nhân rất được

coi trọng, nhà quản lý đánh giá nhân viên trên phương diện kết quả đạt được, sẵn sàng sa thải nhân viên nếu thấy họ không cần thiết.

Văn hóa Nhật đề cao chủ nghĩa tập thể, quan niệm con người thuộc về một tổ chức có liên kết chặt chẽ về mặt lợi ích nên phương châm của người Nhật là "zập thể nghĩ, cá nhân hành động".

62 GIAO TRINH VAN HOA VA BAO BUC QUAN LY -

Bang 2.1. Dac trung vé quan ly & chau Au

Phuong Các đặc trưng ˆ

diện

Tây Âu Bắc Âu Đông Âu Nam Âu

(Anh quốc) (Pháp) (Đức) (Ý)

Tổ chức Mang tính Mang tính Mang tính Mang tính

thương mại quản trị cộng đồng gia đình

Ra quyết Dựa trên kinh | Dựa trên Vì sự phát triển | Tụ họp, ‹

định quản lý | nghiệm chuyên môn quây quân

Cảm xúc Suy nghĩ Dựa trên trực Cảm xúc giac

Quan diém |Thirường |Nhànước |Thirường | Chếđộ

về kinh tê tự do quản lý xã hội công cộng

Văn hóa đặc | Nhạc kịch Kiến trúc Âm nhạc Nhảy múa

trưng

Nguồn: (Tham khảo có chỉnh sửa) Dương Thị Liễu, Giáo trình Văn hóa kinh doanh, NXB Đại học Kinh tê Quốc dân, 2012, tr.54.

Trong cuốn sách Chinh phục các làn sóng văn hóa, các tác giả đã chỉ rõ những ảnh hưởng to lớn của văn hóa dân tộc đến việc hình thành văn hóa quản lý qua việc nghiên cứu hàng nghìn chương trình giao thoa văn hóa, được tổ chức tại hơn 20 quốc gia với sự tham gia của 30 công ty có văn phòng tại hơn 50 quốc gia. Tác giá cũng đã chỉ ra ảnh hưởng to lớn của văn hóa dân tộc đến việc hình thành và phat triển 4 mô hình văn hóa doanh nghiệp đặc trưng là: mô hình văn hóa gia đình — văn hóa ưu tiên quyền lực, mô hình tháp Eiffel — văn hóa

hướng tới vai trò; mô hình văn hóa tên lửa dẫn đường — văn hóa hướng tới nhiệm vụ; mô hình văn hóa lò ấp trứng — văn hóa hướng tới

cá nhân.

1 Fonts Trompenaars & Charles Hampden-Turner, Chinh phục các làm sóng văn hóa, NXB Trì thức, Hà Nội, 2006, tr.286-327.

Chương 2. NỘI DUNG XÂY DỰNG VĂN HÓA QUAN LÝ 63

Những truyền théng dan téc tham nhuan, rất khó thay đối, đều có tác động mạnh mẽ đến quá trình quản lý, đó có thể là thế mạnh nhưng

đôi khi là hạn chế cho văn hóa quản lý của tổ chức.

Thể chế xã hội và trình độ phát triển hình tế - xã hội

Thể chế là các luật lệ, quy tắc của một xã hội từ cấp quốc gia đến cấp cộng đồng nhỏ nhất, hướng dẫn, khuyến khích, ca ngợi, khen thưởng, lên án, trừng phạt, ngăn cấm, ràng buộc điều gì đó, nhờ vậy mà tác động đến cách nghĩ, cách làm, cách sống CỦa mỌI người trong

chế độ xã hội ấy.

Hoạt động quản lý chịu sự tác động của môi trường thé chế, phải tuân thủ các nguyên tắc, thủ tục hành chính, sự quản lý của nhà nước

trong lĩnh vực hoạt động của tô chức. Do đó, có thê nói, thể chế chính trị, thê chế kinh tế, thể chế hành chính, thể chế văn hóa, các chính sách của chính phủ, hệ thống pháp chế... là những yếu tố ảnh hưởng trực

tiếp và sâu sắc tới sự hình thành và phát triển của văn hóa quản lý. Sự ổn định chính trị được coi là một tiền đề quan trọng để có một nền văn

hóa quản lý vững mạnh, minh bạch. Mức độ hoàn thiện, sự thay đổi và

thực thi pháp luật trong nền kinh tế có ảnh hưởng lớn đến việc hoạch định và tổ chức thực hiện chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp.

Thẻ chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đã làm thay

đổi cách thức quản lý nhà nước và phương thức hoạt động của các doanh nghiệp, khuyến khích các nguồn lực và cá nhân tham gia vào nên kinh tế.

Trình độ phát triển kinh tế - xã hội càng cao, văn hoá quản lý càng có thêm những nét đặc trưng hiện đại và tiến bộ. Phương thức sản xuất nào sẽ quy định phương thức quản lý tương ứng với những đặc trưng quản lý khác nhau. Phương thức sản xuất tư bản khác với

phương thức sản xuất của phong kiến, phương thức sản xuất hậu

công nghiệp cũng đã khác nhiều so với phương thức sản xuất thời công nghiệp.

64 GIÁO TRÌNH VĂN HÓA VÀ ĐẠO ĐỨC QUẢN LÝ

Mỗi phương thức sản xuất đã tạo ra cho mình một cách quản lý nhất định. Toàn bộ sự phát triển của phương thức sản xuất sẽ tạo ra nét văn hóa riêng, đặc trưng, và phân biệt với những phương thức sản xuất khác. Văn hóa lao động thủ công chắc chắn sẽ dễ phân biệt với văn hóa lao động chủ yếu bằng máy móc ở các phương diện tính chuyên môn hóa, tính kỷ luật, trình độ và kỹ năng. Đồng thời, trình độ

phát triển kinh tế - xã hội có ánh hưởng lớn đến sự hình thành và phát

triển của văn hóa quản lý. Bởi, nó đặt ra những yêu cầu mới về phát triển con người với tư cách là chủ thể quản lý cũng như đối tượng quản lý về trình độ và kỹ năng.

Các yếu tô tâm lý - xã hội (cá nhân, nhóm)

Văn hóa nói chung và văn hóa quản lý nói riêng là những đặc trưng của xã hội loài người, phản ánh mối quan hệ phức tạp giữa con

người với con người, giữa con người với thé giới vật chat và tinh than.

Trong mỗi tổ chức, các nhóm quyền lực hình thành những cách thức

sử dụng quyền lực khác nhau, cách ứng xử khác nhau với các thành viên của nhóm, phụ thuộc vào đặc điểm cá nhân, phong cách nhà quản lý, cũng như đặc trưng của nhóm, cộng đồng.

Tâm lý cá nhân: là tống thê những trạng thái tình cảm, nhận thức,

ý chí và nguyện vọng của một người. Tâm lý cá nhân nếu là tâm lý cởi mở, hoạt hóa, chỉnh phục, tự khẳng định thì đó là phẩm chất vô cùng

cần thiết cho nhà quản lý. Ngược lại, nếu là tâm lý khép kín, tự ti, yếm

thé sé dẫn tới phong cách quản lý tiêu cực.

Khi nghiên cứu về tâm lý cá nhân nhà quản lý, ta cần chú ý đến những khía cạnh xã hội khác:

- Giới

- Độ tuổi

- Nguồn gốc xuất thân - Trình độ chuyên môn

Một phần của tài liệu Giáo trình văn hóa và đạo đức quản lý (Trang 56 - 63)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(291 trang)