76 GIÁO TRÌNH VĂN HÓA VÀ ĐẠO ĐỨC QUẢN LÝ

Một phần của tài liệu Giáo trình văn hóa và đạo đức quản lý (Trang 74 - 78)

đồng thuận thực hiện nhằm thực hiện các mục tiêu của tổ chức. Các cơ quản quản lý nhà nước cũng có những yêu cầu riêng của họ, tùy thuộc vào lĩnh vực, ngành, địa phương cụ thể. Ví dụ, nơi có nhiều tôn giáo khác nhau, cần chú trọng đến sự đoàn kết các tôn giáo; nơi có nhiều tộc người sinh sống cần thể hiện rõ nguyên tắc bình đẳng dân tộc và sự đoàn kết thống nhất, tôn trọng sự khác biệt văn hóa. Triết lý của Chính phủ Việt Nam: êm chính, kiến tạo, hành động, phục vụ đân là một triết lý quản lý phản ánh rõ ý chí, quan điểm cơ bản của nhà nước Việt Nam trong giai đoạn hiện nay, thể hiện rõ trong hành động của Chính phủ trong những năm gần đây. Triết lý quản lý phù

hợp với lòng dân, đem lại lợi ích thiết thực cho nhân dân, đần dần lay

lại được niềm tin của nhân dân, thúc đây quá trình quản lý xã hội và :

kinh tế ngày càng phát triển hiệu quả.

2.3. Hệ giá trị quản lý

2.3.1. Khái niệm

Giá trị là một trong những dạng biến thể của lợi ích. Con người dù muốn hay không muốn, cũng phải phân biệt và lựa chọn những gì thích hợp với mình hơn cả và đó chính là giá trị (ví đụ như quyền lực hay đức hạnh, sắc đẹp, tình yêu hay là tiền bạc). Quan niệm về giá trị mỗi thời đại khác nhau.

Trong phạm vi tiếp cận văn hoá quản ly, hệ giá trị ở đây là toàn bộ những dạng thức vật chất và tỉnh thân, có ý nghĩa quan trọng đối với cá nhân, nhóm, tỖ chức và xã hội, trong quá trình quản lÿ, lãnh đạo, nhằm thục hiện một cách tốt nhất những mục tiêu đã đặt ra.

Hệ giá trị liên quan đến chủ thẻ, đối tượng quản lý trong quá trình thực hiện mục tiêu quản lý, được thừa nhận bởi cả chủ thể quản lý và

đối tượng quản lý. Tổ chức nào cũng có những quy định, nguyên tắc,

1 Michael E. Gordon, Triết lý doanh nghiệp 101, NXB Lao động - Xã hội 2008; Triết lý kinh doanh, NXB Văn hóa Thông tin, Hà Nội 2007; Nghệ thuật lãnh đạo của người châu Á, NXB Thanh Hóa, 2010.

Chương 2. NỘI DUNG XÂY DỰNG VĂN HÓA QUẦN LÝ 77

chiến lược, là kim chỉ nam cho hoạt động của toàn bộ thành viên trong tổ chức mình. Những giá trị này có chức năng hướng dẫn cho các thành viên ứng xử với các tình huống trong hiện tại. Trong nhiều trường hợp, các giá trị đó liên quan đến các bên liên quan của tổ chức như khách hành, đối tác, cộng đồng. Chính P.Drucker, trong tác phẩm

Những thách thức của quản lý trong thế kỷ XXI, đã khẳng định: “Nền

tảng chính sách quản lý phải là những giá trị của khách hàng và những quyết định của khách hàng về sự phân bổ nguồn thu nhập có thể chỉ

tiêu được. Chính những điểm này phải là điểm xuất phát cho những

chính sách quản lý và chiến lược quản lý”; và ông khẳng định thêm:

“Cái là giá trị đối với khách hàng luôn luôn khác với cái là giá trị và chất lượng đối với nhà cung cấp. Điều này đúng với tổ chức kinh doanh, cũng như trường đại học, hay bệnh viện”,

Hệ giá trị là hệ thống những ý nghĩa, niềm tin, là biểu hiện nhu cầu cá nhân hay nhóm, trở thành mục tiêu hành động của cá nhân hay

nhóm đó. Bản chất của các nhu cầu ay lại là các lợi ích gắn liền với

các cá nhân, nhóm, cộng đồng nhất định. Giá trị là những chuẩn mực chung cho mọi thành viên tổ chức hành động, phấn đấu; đồng thời chúng thể hiện những cam kết của tất cả các thành viên tổ chức trên

co sở tự nguyện.

Hệ giá trị là hệ thống những nguyên tắc thiết yếu mang tính lâu dài của tổ chức, có ảnh hưởng sâu sắc tới suy nghĩ và hành động của các thành viên. Con người thể hiện giá trị, giá trị nâng con người lên.

Giá trị có thê thu hút mọi người đến với nhau, liên kết con người lại

với nhau, tạo nên động cơ hành động cho con người, làm cho mỗi người tự nguyện cam kết hành động vì mục tiêu chung.

' P.Drucker, Những thách thức của quản lý trong thế kỷ XXI, NXB Trẻ, Tp Hồ Chí Minh 2003, tr.44; 45.

78 GIÁO TRÌNH VĂN HÓA VÀ ĐẠO ĐỨC QUẢN LÝ

2.3.2. Phân loại giá trị

Hệ giá trị, với tiếp cận văn hóa quản lý, có thể được phân loại thành những loại gia tri sau:

2.3.2.1. Mục tiêu của tổ chức

Mục tiêu là một thành tố cấu thành của quá trình quản lý. Mục tiêu không phải lúc nào cũng có sẵn và cố định. Mục tiêu cần phải được xác định. Nếu xác định sai mục tiêu, mục tiêu xác định không rõ,

thiếu cụ thê, thiếu tính khả thi... tất cả những điều đó đều làm hạn chế

hiệu quả quản lý, và trong nhiều trường hợp dẫn đến lãng phí, gây hậu quả nghiêm trọng. Như vậy, mục tiêu là yếu tố quan trọng của quản lý, là yếu tố đầu ra của quản lý, thiếu nó không thể nói đến quản lý, thiếu nó, quản lý trở nên vô nghĩa. Tuy nhiên, cốt lõi của quản lý cũng không nằm ở mục tiêu. Điều quyết định có đi đến mục tiêu hay không là ở quá trình tổ chức và sử dụng các nguồn lực. Mục tiêu của tô chức là yếu tố đặc biệt quan trọng vì nó là lý do hình thành tổ chức, đồng thời quy định các yếu tố khác của tổ chức. Chính P.Drucker, nhà tư tưởng quản lý vĩ đại của thế kỷ XX, đã cho rằng: “Lý do tổn tại của

quan lý là nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức. Quản lý phải xuất phát

từ kết quả mong đợi của tổ chức và phải động viên cho được mọi

nguồn lực của tổ chức để đạt được kết quả đó”. ˆ

Mục tiêu và lợi ích luôn gắn liền, đi đôi với nhau, mục tiêu luôn

xuất phát từ lợi ích và nhằm đạt được các lợi ích nhất định. Vì vậy,

nêu các nhà quản lý có mong muốn tư lợi, mưu cầu lợi ích cá nhân thì mục tiêu của họ cũng sẽ mang tính cá nhân. Tuy nhiên, do có thể

có sự phối hợp hài hòa giữa lợi ích cá nhân và lợi ích tập thể, nên

chiều ngược lại của nhận định trên không nhất thiết phải là khi các nhà quản lý thực hiện các mục tiêu của tổ chúc, thì họ luôn chỉ hướng đến lợi ích chung. Trên thực tế, cho dù đảm bảo thực hiện

! P.Drucker, Những thách thức của quản lý trong thế kỷ XXI, NXB Trẻ, Tp Hồ Chí Minh 2003, tr.60.

Chương 2. NỘI DUNG XÂY DỰNG VĂN HÓA QUAN LY 79

những mục tiêu chung nhằm đạt tới trạng thái tối ưu của tập thể, các chủ thể vẫn có thể theo đuôi những mục đích riêng và mưu cầu những lợi ích cá nhân riêng.

Mục tiêu hành động của một người thể hiện nhu cầu, động cơ, quan điểm lý tưởng của người đó. Nếu mục tiêu hành động của người lãnh đạo phù hợp với mục tiêu chung của tổ chức như hướng đến công việc chung, lợi ích chung, truyền thống và bản sắc của tổ chức... họ sẽ đóng vai trò là người dẫn đầu, tôn trọng, phát huy và phố biến các giá trị chung của tổ chức để mọi thành viên trong tổ chức cùng phấn đấu vì những mục tiêu chung. Ngược lại, nếu mục

tiêu hành động của các nhà lãnh đạo, quản lý chủ yếu hướng đến

những hệ giá trị riêng của họ như chỉ nhằm đảm bảo thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ, thấm quyền của bản thân thì họ sẽ làm cho các giá trị và mục tiêu chung của tổ chức bị lu mờ, mâu thuẫn, tổ chức trở nên hỗn độn, mất phương hướng.

Những mục tiêu quan trọng hàng đầu đối với các nhà quản lý phần nào cũng thể hiện quan niệm về quản lý cũng như định hướng giá trị của họ trong quá trình quản lý. Dưới đây có thể tham khảo (qua

khảo sát của dé tài nghiên cứu cấp Nhà nước KX03.21/06-10) một số

mục tiêu quan trọng được các tổ chức ưu tiên trong quá trình quản lý.

Bang 2.2. Những mục tiêu quan trọng hàng đầu trong quá trình quản lý"

Mục tiêu Tần số | Tần suất (%)

Đảm bảo chức năng, nhiệm vụ, thẳm quyền 767 58.6

Dam bao chất lượng, tiến độ công việc 767 58.6

Đảm bảo mục tiêu công việc 487 37.2

Đảm bảo sự phối hợp nhịp nhàng, hài hòa giữa các cá 383 29.3 nhân, đơn vị

1 Phạm Ngọc Thanh (Chủ nhiệm Đề tài), Báo cáo tổng hợp của Đề tài KX03.21/06-10: Đổi mới

văn hóa lãnh đạo và quản lý ở Việt Nam hiện nay, Hà Nội, 2010.

Một phần của tài liệu Giáo trình văn hóa và đạo đức quản lý (Trang 74 - 78)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(291 trang)