Mục tiêu Tần số | Tần suất (%)
Đảm bảo mục tiêu & nhiệm vụ chính trị của cơ quan 500 38.2
Dam bảo lợi ích chung của mọi người 363 27.7
Xây dựng một phong cách, một nền nếp làm việc -_ 225 17.2
Đảm bảo sự trung thành & gắn bó của các cá nhân trong tổ | 177 13.5
chức
Đảm bảo duy trì và phát triển truyền thống của tổ chức 86 6.6
Trong các mục tiêu đó, mục tiêu thứ nhất, thứ hai, thứ ba và thứ tư nhận được sự quan tâm nhiều hơn.
2.3.2.2. (ác giá trị tru tiên
Quản lý bằng giá trị là lựa chọn một hệ thống các gia tri va triét
lý hành động đúng đắn để có thể làm động lực lâu đài và mục đích
phấn đấu chung cho nhiều người. Xác định được những giá trị ưu tiên trong văn hóa quản lý là lựa chọn một hệ thống các giá trị và triết lý hành động được mọi thành viên trong tổ chức coi trọng, có thể thể hiện bản sắc riêng đặc biệt của quá trình quản lý và được các bên hữu quan đánh giá cao. Trong quá trình khảo sát các định hướng giá trị trong quán lý, có thể tìm ra các giá trị ưu tiên.
Bảng 2.3. Định hướng giá trị trong quá trình quản lý
Don vi: %
Hoan | Dung = ˆ
Nhận định TS dung | phan toàn | một | Không | Không F z đúng | Y kiến Phải đảm bảo có một môi trường làm việc | 87.0 11.2 0 1.8 thoải mái và thân thiện
Phát triển con người là ưu tiên số một của | 70.6 | 244 | 14 3.7
mọi tô chức
Chương 2. NỘI DUNG XÂY DỰNG VĂN HÓA QUẦN LÝ 81
Hoàn | Đúng
Nhận định toàn | một.
đúng | phần
Không | Không đúng | Ý kiến
Phải cân bằng trong quan tâm tới con người | 57.8 36.4 0.8 5.0 va công việc
Kỷ luật là công cụ quản lý quan 35.7 | 46.9 12.7 4.7 trong nhat
Nha quan lý phải quan tâm tới đời sống của | 70.0 26.7 0.2 3.1 nhân viên
(Nguồn: Số liệu khảo sát Đề tài KX03.21/06-10, Đổi mới văn hóa lãnh đạo và quản
lý ở Việt Nam hiện nay, Hà Nội, 2010) Chính các định hướng giá trị này sẽ quyết định các giá trị ưu tiên trong các hoạt động của tô chức.
Bảng 2.4. Định hướng giá trị trong các hoạt động của tổ chức"
Don vi: % Quan | Bình | Không | Không Hoạt động trọng | thường | quan | Ý kiến
trọng
Sự phân quyền 76.8 17.0 1.8 4.5
Làm hài lòng các nhân viên 27.3 56.3 11.2 5.2
Dinh hướng phát triển lâu dai 822 | 14.4 0.5 3.0
Hình thành bán sắc văn hóa riêng 41.2 43.0 8.9 6.9 Thúc đây sự cộng tác và khả năng làm | 63.8 28.6 2.8 4.9 việc theo nhóm
Đãi ngộ công bằng 84.6 10.8 0.7 3.8
1 Phạm Ngọc Thanh (Chủ nhiệm Đề tài), Báo cáo tổng hợp của Đề tài KX03.21/06-10. Đổi mới văn hóa lãnh đạo và quản lý ở Việt Nam hiện nay, Hà Nội, 2010.
82 GIÁO TRÌNH VĂN HÓA VÀ ĐẠO ĐỨC QUẢN LÝ
Nhìn vào bảng kết quả khảo sát, chúng ta có thể thấy rõ những giá trị ưu tiên trong quản lý và các hoạt động như sự công bằng, lợi ích lâu dài, môi trường làm việc, phát triển cơn người, nâng cao đời sống.
2.3.2.3. Giá trị con người'tronq quản lý
Quý trọng nhấn tài là một phần của văn hóa quản lý. Các công ty có lợi nhuận cao nhất thế giới chính là những công ty biết đề cao văn hóa quản lý, trong đó có van dé quý trọng nhân viên, đặc biệt là những người tài giỏi.
Quan điểm của nhà quản lý về giá trị của con người sẽ quyết định cách thức chủ thê quán lý lựa chọn công cụ, phương tiện tác động lên đối tượng bị quản lý. Đã từng có một số quan niệm về con người như sau:
Quan niệm 1: “Con người là một động vật biệt nói”:
Quan niệm này ra đời trong thời kỳ nô lệ, con người lao động được coi là vật sở hữu của giai cấp chủ nô giống như việc sở hữu với các đàn gia súc — tài sản của các chủ nô. Vì là vật sở hữu của giai cấp chủ nô nên người chủ nô có quyền đánh đập, đem bán hoặc hành hạ người nô lệ (người lao động). Bởi vậy, chính sách quản lý con người lao động thời kỳ này dựa trên sự cưỡng bức về thân thể. Con người phải làm việc trong những điều kiện hết sức nặng nhọc, khó khăn và bị đối xử hết sức đã man, tàn bạo.
Quan niệm 2: “Con người được coi như một loại công cụ lao động”:
Quan niệm này ra đời trong thời kỳ đầu của chủ nghĩa tư bản và.
nổi bật nhất là vào thế kỷ XIX, thậm chí tới đầu thế kỷ thứ XX. Do
quan niệm con người giống như các loại máy móc, nên chính sách quản lý hướng vào việc tập trung khai thác đến mức tối đa sức lao động của con người. Các nhà tư bản lúc đó dùng mọi biện pháp để nâng cao tôi đa lợi nhuận, bằng cách kéo dài thời gian lao động, tắng cường độ lao động, sử dụng rộng rãi lao động phụ nữ và trẻ em với
thù lao thấp hơn nhiều so với lao động nam trưởng thành.
Chương 2. NỘI DUNG XÂY DỰNG VĂN HOA QUAN LY 83
F. W. Taylor, cha đẻ của khoa học tổ chức lao động, đã xây dựng nên những nguyên lý cơ bản của tổ chức lao động khoa học và vận dụng nó vào thực tiễn. Ông cho rằng, con đường để tăng sản lượng là,
thứ nhất, đựa vào tiễn bộ kỹ thuật và thứ hai, dựa vào những phương
pháp khoa học mà người công nhân sử dụng trong quá trình lao động.
Người công nhân được coi như là các cỗ máy, được vận hành theo sự điều khiển của các nhà quản lý, do đó, người công nhân phải thích ứng với nhà quản lý, chứ không phải là nhà quản lý thích ứng với công : nhân. Nhưng dù sao, chính ông cũng đã cải tiến các công cụ lao động để có thể nâng cao năng suất lao động và phần nào cải thiện điều kiện làm việc.
Quan niệm 3: “Con người muốn được đối xử như con người”:
Quan niệm này do các nhà tâm lý học, xã hội học đưa ra trong những năm 20 — 30 của thế kỷ thứ XX, trong các nước tư bản phát . triển, dựa trên sự nhận định con người với tư cách là một yếu tố của quá trình sản xuất từ khía cạnh tích cực. Đại điện của quan niệm này là Elton Mayo. Các ông cho rằng, con người không phải là những máy móc đơn thuần, mà con người có các yếu tố tâm sinh lý tác động tới mỗi quan hệ của họ trong quá trình lao động. Do đó, bên cạnh việc tìm kiếm và áp dụng tiến bộ kỹ thuật để tăng sản lượng, cần phải tìm kiếm sức mạnh của các mối quan hệ giữa con người với con người trong
từng tổ chức. Chính vì vậy, chính sách quản lý con người được hướng
vào việc tạo những điều kiện dân chủ, không khí thoải mái cho người lao động trong quá trình làm việc, đồng thời tạo ra những cơ hội cho
sự trưởng thành và phát triển cá nhân người lao động.
Quan niệm 4: “Con người có các tiềm năng tiềm ân cần được khai thác”:
Quan điểm này ra đời đồng thời với quan niệm về các mối quan
hệ do các nhà tâm lý học, xã hội học đưa ra. Theo quan niệm nảy, con người chứa đựng tiềm năng sáng tạo vô tận, mà các nhà quản lý cần phải khai thác. Tuy nhiên, sự sáng tạo đó không phải tự nhiên mà có,