Để đáp ứng xu hướng hội nhập kinh tế quốc tế cũng như thực hiện các cam kết quốc tế khi gia nhập tổ chức Thương mại thế giới (WTO) và các điều ước quốc tế khác mà Việt Nam là thành viên, Việt Nam đã ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật làm cơ sở pháp lý cho các hoạt động liên quan đến sở hữu trí tuệ nói chung và lĩnh vực quyền tác giả nói riêng. Có thể kể đến các văn bản như: Bộ luật Dân sự năm 2005; Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 (sửa đổi, bổ sung năm 2011); Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2009);
Nghị quyết 02/2006/NQ-HĐTP ngày 12/5/2006 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành các quy định trong phần thứ 2 “thủ tục giải quyết vụ án tại Tòa án cấp sơ thẩm” của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị định số 138/2006/NĐ-CP ngày 15/11/2006 về quy định chỉ tiết thi hành các quy định của Bộ luật Dân sự về quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài; Nghị định số 100/2006/NĐ-CP ngày 21/9/2006 quy định chỉ tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật Dân sự, Luật Sở hữu trí tuệ về quyền tác giả và quyền liên quan;
_ Nghị định số 85/2011/NĐ-CP ngày 20/9/2011 về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 100/2006/NĐ-CP ngày 21/9/2006 quy định chỉ tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật Dân sự, Luật
Sở hữu trí tuệ về quyển tác giả và quyển liên quan; Nghị định số 105/2006/NĐ-CP ngày 22/9/2006 quy định chỉ tiết và hướng dẫn thi
hành một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ về bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ và quản lý Nhà nước về sở hữu trí tuệ; Nghị định số 119/2010/NĐ-CP ngày 30/12/2010 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 105/2006/NĐ-CP ngày 22/9/2006 quy định chỉ tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ về bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ và quản lý Nhà nước về sở hữu trí tuệ; Thông tư liên tịch số 02/2008/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BVHTT&DL- BKH&CN-BTP ngày 03/4/2008 về hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong việc giải quyết các tranh chấp về quyển sở hữu trí tuệ tại Tòa án nhân dân; Thông tư liên tịch số 01/2008/TTLT-
TANDTC-VKSNDTC-BCA-BTP ngày 29/02/2008 hướng dẫn việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với các hành vi xâm phạm quyển sở hữu trí tuệ; Quyết định sé 88/2006/QD-BVHTT ngày 17/10/2006 của Bộ
văn hóa thông tin truyền thông về việc ban hành các mẫu tờ khai, Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả, quyền liên quan.
Theo quy định của pháp luật Việt Nam, tác giả là công dân Việt
Nam có tác phẩm, công trình chưa công bố ở trong nước được sử dụng lần đầu tiên dưới bất kỳ hình thức nào ở nước ngoài cũng sẽ được hưởng quyền tác giả ở nước sử dụng tác phẩm đó. Tuy nhiên, việc công bố tác phẩm của công dân Việt Nam ở nước ngoài phải được cơ quan quản lý Nhà nước về xuất bản có thẩm quyền cho phép và phải tuân thủ theo các quy định của pháp luật Việt Nam.
Đối với tác giả là người nước ngoài, pháp nhân nước ngoài có
tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học lần đầu tiên được công bố, phổ biến tại Việt Nam hoặc được sáng tạo và thể hiện dưới hình thức nhất định tại Việt Nam đều được Nhà nước Cộng hòa xã hội
chủ nghĩa Việt Nam bảo hộ quyền tác giả (trừ trường hợp tác phẩm
không được Nhà nước bảo hộ) theo quy định tại Điều 774 Bộ luật Dân sự năm 2005.
_ Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ năm 2009, đã tiến hành sửa đổi bốn nhóm vấn đề chính: (¡) các điều, Khoản liên quan tới nội dung quyền tác giả, quyền liên quan và quyền đối với giống cây trồng, thuộc Phần thứ hai và Phần thứ tư
Luật hiện hành; (ii) các điểu, Khoản liên quan tới trình tự, thủ tục xác lập quyền sở hữu công nghiệp, thuộc Phần thứ ba và Phần thứ sáu ˆ Luật hiện hành; (ii) các điều, Khoản liên quan tới chính sách về sở hữu trí tuệ và bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, thuộc Phần thứ nhất và Phần thứ năm Luật hiện hành; (iv) các điều, Khoản liên quan tới kỹ thuật văn bản và thay đổi từ ngữ phù hợp với các quy định pháp luật liên quan!. Trong đó, có nhiều quy định được rộng mở và phù hợp hơn với quy định của pháp luật quốc tế cũng như các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Ví dụ như quy định tại Mục 8, Khoản 2, điểm a về thời hạn bảo hộ tác phẩm điện ảnh, nhiếp ảnh, mỹ thuật ứng dụng, tác phẩm khuyết danh có thời hạn bảo hộ là 75 năm, kể từ khi tác phẩm được công bố lần đầu tiên (khác với thời hạn 50 năm kể từ ngày tác phẩm được công bố lần đầu tiên quy định tại Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005); hay đối với quy định về tác phẩm điện ảnh, nhiếp ảnh, mỹ thuật ứng dụng chưa được công bố trong thời hạn 25 năm, kể từ khi tác phẩm được định hình thì thời hạn bảo hộ là một trăm năm, kể từ khi tác phẩm được định hình. Cũng theo quy định của Luật sửa đổi, bổ sung Luật Sở hữu trí tuệ năm 2009 (mục 5, Khoản 1,
điểm k) thì bản họa đồ, sơ đồ, bản đồ, bản vẽ liên quan đến kiến trúc
cũng được pháp luật bảo hộ (chứ không chỉ đối với bản họa đồ, sơ
1 TS, Vũ Mạnh Chu, Luật Sở hữu trí tuệ sửa đổi oà sự tác động của nó, Xem:
http://www.cov.gov.vn/cbq/index.php?option=com_contenté&view=article&id=870 |
&catid=51 <emid=107, Thit tr, 27-05-2009 07:00.
đồ, bản đồ, bản vẽ liên quan đến địa hình, công trình khoa học như trong quy định của Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005).
. Việc bổ sung quy định về sáng chế mật để có thể bảo vệ được bí
mật quốc phòng, bí mật quốc gia; quy định về chỉ dẫn địa lý đối với
nhãn hiệu tập thể và nhãn hiệu chứng nhận sẽ bảo vệ được tài sản
quốc gia trong hoạt động thực thi bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ là hoàn toàn phù hợp với quy định của pháp luật quốc tết.
Cũng theo quy định tại Điều 18 Nghị định số 138/2006/NĐ-CP
ngày 15/11/2006, quyền tác giả của cá nhân, tổ chức nước ngoài cũng
như quyền liên quan được bảo hộ như sau:
- Quyền tác giả của cá nhân là người nước ngoài, tổ chức nước ngoài được bảo hộ tại Việt Nam theo các quy định từ Điều 736 đến Điều 743 của Bộ luật Dân sự, các quy định liên quan của Luật Sở hữu trí tuệ (các quy định từ Điều 13 đến Điều 15; Điều 17 đến Điều 28;
Điều 36 đến Điều 43; Điều 45 đến Điều 57), các văn bản pháp luật
khác có liên quan của Việt Nam (các quy định tại Nghị định số 100/2006/NĐ-CP ngày 21/9/2006 quy định chỉ tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật Dân sự, Luật Sở hữu trí tuệ về quyền tác giả và quyền liên quan; Nghị định số 85/2011/NĐ-CP ngày 20/9/2011 về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số
100/2006/NĐ-CP ngày 21/9/2006 quy định chỉ tiết và hướng dẫn thi
hành một số điều của Bộ luật Dân sự,. Luật Sở hữu trí tuệ về quyền tác giả và quyền liên quan) và các Điều ước quốc tế mà Việt Nam là
thành viên. -
- Quyển liên quan đến quyền tác giả của cá nhân, tổ chức nước
ngoài được bảo hộ tại Việt Nam theo các quy định tại Điều 744 đến Điều 749 của Bộ luật Dân sự, các quy định liên quan của Luật Sở hữu trí tuệ (các quy định tại Điều 16, 17, các quy định từ Điều 29 đến Điều 35; các quy định từ Điều 44 đến Điều 57), các văn bản pháp luật khác có liên quan của Việt Nam và các Điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên.
! TS. Vũ Mạnh Chu, Sđd.
Như vậy, tác giả nước ngoài sẽ được hưởng quyển tài sản và quyền nhân thân trong lĩnh vực quyền tác giả như tác giả là công dân
Việt Nam. .
Đối với tác phẩm, công trình của người nước ngoài được công bố, sử dụng ở Việt Nam trên cơ sở Điều ước quốc tế về quyền tác giả mà Việt Nam ký kết hoặc tham gia thì chế độ bảo hộ quyền tác giả sẽ được xác định theo Điều ước quốc tế đó và theo pháp luật Việt Nam.
Nhu vay, có thể nói, hệ thống pháp luật về sở hữu trí tuệ của
Việt Nam hiện nay về quyền tác giả và quyền liên quan đã tạo ra được một hành lang pháp lý quan trọng cho việc khuyến khích, thúc
đẩy các hoạt động sáng tạo của cá nhân, tổ chức, bảo vệ được thành
quả lao động là tài sản trí tuệ của công dân trong nước cũng như nước ngoài (người có nhu cầu bảo hộ tại Việt Nam). Đồng thời cho thấy sự tương thích và phù hợp ở mức độ chặt chế hơn đối với quy định pháp luật quốc tế, đặc biệt là các quy định trong các điều ước quốc tế song phương hoặc đa phương mà Việt Nam là thành viên.
Tuy vậy, nhìn nhận vào thực tiễn trước các vấn để xâm phạm quyển tác giả, đặc biệt là nạn sao chép tác phẩm, pháp luật Việt Nam cần có các quy định mang tính thực tiễn hơn để khắc phục được các tình
trạng này nhất là trong thời đại bùng nổ thông tin như hiện nay khiến cho các vấn đề xâm phạm quyền tác giả trở nên phức tạp và
nghiêm trọng hơn.