I. KHAI NIEM
1.1. Quyền sở hữu công nghiệp là gì? -
Quyền sở hữu công nghiệp (industrial property right) là một bộ
phận quan trọng của quyền sở hữu trí tué (intellectual property right) được bảo hộ bởi các quy định của điều ước quốc tế và pháp luật quốc gia. Đây là quyền hợp pháp của con người đối với các tài sản do trí tuệ của con người sáng tạo ra trong lĩnh vực khoa học kỹ thuật cũng như trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh.
Theo quy định của Công ước Paris năm 1883 về Bảo hộ sở hữu
công nghiệp (SHCN), đối tượng SHCN bao gồm: Patent (sáng chế), mẫu hữu ích (giải pháp hữu ích) kiểu đáng công nghiệp, nhãn hiệu
hàng hóa, nhãn hiệu dịch vụ, tên thương mại, chỉ dẫn nguồn gốc hoặc tên gọi xuất xứ hàng hóa và chống cạnh tranh không lành mạnh (Khoản 2 Điều 1 Công ước Paris).
Theo nghĩa rộng, SHCN không những chỉ áp dụng cho công nghiệp và thương mại theo đúng nghĩa của nó mà cho cả các ngành sản xuất nông nghiệp, công nghiệp khai thác và tất cả các sản phẩm chế biển hoặc sản phẩm tự nhiên như rượu, ngũ cốc, lá thuốc lá, hoa quả, gia súc, khoáng sản, nước khoáng, bia, hoa và bột (Khoản 3 Điều 1 Công ước Paris).
Pháp luật Việt Nam, Khoản 4 Điều 5 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 (được sửa đổi, bổ sung năm 2009) đã giải thích: “Quyền sở hữu công nghiệp là quyền của tổ chức, cá nhân đối với sáng chế, kiểu đáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, nhãn hiệu,
tên thương mại, chỉ dẫn địa lý, bí mật kinh doanh đo mình sáng tạo ra hoặc sở hữu và quyền chống cạnh tranh không lành mạnh”.
1.2. Đặc điểm của quyền SHCN
Là một quyền dân sự, quyền SHCN có các đặc điểm chính sau:
- Đối tượng của quyền SHCN là do trí tuệ của con người sáng
tạo ra. Đây là đặc điểm chung của quyền sở hữu trí tuệ (SHTT), tuy nhiên khác với quyền tác giả, đối tượng của quyền SHCN là các đối
tượng do trí tuệ của con người tạo ra trong lĩnh vực công nghiệp và thương mại:
+ Các đối tượng mang tính công nghiệp như sáng chế, kiểu đáng
công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn...
+ Các đối tượng là các đấu hiệu mang tính phân biệt trong thương mại, như nhãn hiệu, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý.
- Cơ sở phát sinh quyền SHCN: Quyền SHCN chỉ phát sinh khi được cơ quan có thẩm quyền cấp văn bằng bảo hộ (trừ một số trường hợp ngoại lệ). Về nguyên tắc, các đối tượng SHCN muốn được cấp văn bằng bảo hộ phải đáp ứng các điều kiện nhất định do pháp luật
quy định (ví dụ: sáng chế là phải mới, sáng tạo và có khả năng áp dụng trong công nghiệp).
- Quyển SHCN là quyền đối với tài sản vô hình: Bản chất của quyền SHTT nói chung và quyền SHCN nói riêng là quyền sở hữu -
đối với các thông tin, các tri thức về khoa học, kỹ thuật, và công
nghệ... do con người sáng tạo ra. Với bản chất thông tin, con người không thể nhận biết sự tồn tại của chúng bằng các giác quan (nhìn thấy, cầm, nắm..) mà chỉ có thể nhận biết sự tổn tại của chúng thông qua việc các thông tin, các trí thức đó đã được “vật chất hóa” dưới một hình thức nhất định. Với đặc điểm này, các đối tượng của quyền SHCN rất dễ phổ biến và rất dễ bị xâm phạm từ các chủ thể khác, do đó, cần phải có một cơ chế hữu hiệu để bảo hộ quyền SHCN, đảm bảo các quyền và lợi ích hợp pháp cho chủ sở hữu.
- Quyền SHCN bị giới hạn bởi không gian và thời gian:
+ Về không gian: là một bộ phận của quyển SHTT, quyền SHCN luôn mang tính chất lãnh thổ. Điều này có nghĩa là quyền SHCN phát sinh trên phạm vi lãnh thổ của quốc gia nào thì chỉ có hiệu lực trong phạm vi lãnh thổ của quốc gia đó. So với quyền tác giả, quyền SHCN
mang tính lãnh thổ tuyệt đối hơn. Bởi lẽ, quyền SHCN được phát
sinh trên cơ sở cấp văn bằng bảo hộ và văn bằng bảo hộ chỉ có hiệu lực tại lãnh thổ của nước đã cấp văn bằng đó. Quyền SHCN muốn được bảo hộ tại nước ngoài thì giữa các quốc gia phải ký kết, tham gia các điều ước quốc tế quy định về việc bảo hộ này.
+ Về thời gian: Khác với tài sản hữu hình, quyền SHCN được bảo hộ trong thời hạn nhất định do pháp luật quy định (ví dụ, sáng chế là 20 năm), hết thời hạn đó công chúng được tự đo tiếp cận với các đối tượng SHCN.
1.3. Vai trò của bảo hộ quyền SHCN
Bảo hộ quyền SHCN được hiểu một cách khái quát là việc các cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước thông qua các quy phạm pháp -_ luật (quy định của điều ước quốc tế, pháp luật quốc gia) để xác lập và duy trì quyền SHCN cho các tổ chức và cá nhân đối với các đối tượng SHCN và bảo vệ quyền đó chống lại sự xâm phạm từ các chủ thể khác. Vai trò của việc bảo hộ quyền SHCN được thể hiện ở nhiều phương diện khác nhau, cụ thể như sau:
a. Bảo hộ quyên SHCN nhằm bảo đảm cúc quyễn à lợi ích hợp pháp cho chủ sở hữu các đổi tượng SHCN
Các đối tượng SHCN được sáng tạo ra đòi hỏi chủ sở hữu phải đầu tư rất lớn về thời gian, tiển bạc, trí tuệ... Các đối tượng này có khả năng sinh lời, mang lại lợi ích vật chất cho các chủ sở hữu. Do vậy, đây là một loại tài sản rất có giá trị của chủ sở hữu. Tuy nhiên _ với tính chất “vô hình”, nếu không có sự bảo hộ từ phía Nhà nước thì việc sao chép các đối tượng SHCN được tiến hành một cách dễ dàng,
nhanh chóng, gây ra thiệt hại rất lớn cho các chủ sở hữu. Bảo hộ quyển SHCN nhằm ngăn chặn và xử lý các hành vi xâm phạm quyền
SHCN, từ đó bảo đảm các quyền và lợi ích hợp pháp cho chủ sở hữu.
b. Bảo hộ quyên SHCN nhằm tạo ra sự cạnh tranh lành trạnh giữa các chủ thể
Trong các hoạt động sản xuất kinh doanh, việc nắm giữ một cách hợp pháp các đối tượng SHCN luôn tạo cho các chủ thể những lợi
nhất định để chiến thắng các đối thủ cạnh tranh trong cùng một thị
trường, cùng một lĩnh vực kinh doanh. Chính vì vậy, các đối tượng
SHCN luôn luôn là đối tượng hướng tới của các hành vi cạnh tranh không lành mạnh, như hành vi như sao chép bất hợp pháp các đối tượng SHCN, sản xuất hàng hóa giả nhãn hiệu, sản xuất hành hóa nhái kiểu dáng công nghiệp... Các chủ thể thực hiện những hành vi trên thu được những lợi ích rất lớn mà không phải đầu từ thời gian, chỉ phí, trí tuệ... để tạo ra các đối tượng đó. Điều này là hoàn toàn không công bằng đối với các chủ sở hữu các đối tượng SHCN. Bảo hộ quyền SHCN góp phần ngăn chặn các hành vi nói trên, tạo ra sự cạnh tranh bình đẳng, minh bạch giữa các chủ thể khi tiến hành các hoạt
động thương mại.
c. Bảo hộ quyền SHCN góp phẩh khuyến khích, thúc đấy khoa học kỹ thuật - phát triển
Phần lớn các đối tượng SHCN đều gắn với lĩnh vực khoa học và công nghệ (tiêu biểu như như sáng chế, thiết kế bố trí mạch tích hợp
bán dẫn...). Khi các đối tượng SHCN được bảo hộ, các chủ sở hữu sẽ
được độc quyền khai thác các đối tượng đó trong một khoảng thời
gian nhất định nhằm thu hồi lại các Khoản chỉ phí đã bỏ ra, và thu
được các nguồn lợi vật chất do các đối tượng này mang lại. Đây là động lực, là sự khích lệ để các chủ thể tiếp tục đầu tư, nghiên cứu, sáng tạo ra các đối tượng mới góp phần thúc đẩy sự phát triển không ngừng của khoa học kỹ thuật.
1.4. Quyền SHCN trong Tư pháp quốc tế
Quyền SHCN trong Tư pháp quốc tế luôn phát sinh từ các quan hệ có yếu tố nước ngoài, như chủ sở hữu là người nước ngoài, pháp nhân, tổ chức nước ngoài, đối tượng của quyền SHCN được sử dụng ở nước ngoài...
Xuất phát từ tính chất lãnh thổ của quyền SHCN nên quyển SHCN phát sinh tại lãnh thổ quốc gia nào thì chỉ có hiệu lực trong phạm vi lãnh thổ của quốc gia đó. Quyền SHCN muốn được bảo hộ ở nước ngoài phải được thực hiện thông qua các phương thức bảo hộ
quốc tế. Nghiên cứu quyền SHCN trong Tư pháp quốc tế thực chất là nghiên cứu cách thức, biện pháp để bảo hộ quốc tế quyền SHCN, sao cho quyền SHCN của các cá nhân và tổ chức không chỉ được bảo hộ trong phạm vi lãnh thổ của một quốc gia mà còn có thể được bảo hộ
trên lãnh thổ của nhiều quốc gia khác nhau.
_ Hiện nay, việc bảo hộ quốc tế quyền SHCN chủ yếu căn cứ vào các quy định của điểu ước quốc tế, bao gồm điểu ước quốc tế đa phương và điều ước quốc tế song phương. Trong trường hợp giữa các quốc gia chưa ký kết các điều ước quốc tế với nhau, việc bảo hộ quyền SHCN ở nước ngoài phải căn cứ vào chính pháp luật của quốc gia nơi đối tượng SHCN có yêu cầu bảo hộ.
II. BẢO HỘ QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP THEO QUY ĐỊNH CỦA ĐIỀU ƯỚC QUỐC TẾ
2.1. Bảo hộ quyền SHCN theo quy định của điều ước quốc tế đa phương Nhằm bảo hộ quyển SHCN trên phạm vi quốc tế rất nhiều điều ước quốc tế đa phương đã được ký kết giữa các quốc gia. Các điều ước quốc tế này quy định nhiều vấn đề khác nhau trong việc bảo hộ quyền SHCN. Tuy nhiên căn cứ vào nội dung của các điều ước quốc tế có thể phân chia các điều ước tế về SHCN thành hai nhóm chính:
- Các điều ước quốc tế chưng: Đây là nhóm các điều ước quốc tế có nội dung để cập tới việc bảo hộ tất cả các đối tượng của quyền SHCN. Các các điều ước quốc tế này được xem như là “trụ cột”, là
“nền tảng” trong việc bảo hộ quyền SHCN. Tiêu biểu trong nhóm này có:
+ Công ước Paris (1883) về Bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp.
+ Hiệp định về các khía cạnh liên quan đến thương mại của quyền sở hữu trí tuệ năm 1994 (Trade related aspects of intellectual property rights - Hiép dinh TRIPs).
- Các điều ước quốc tế chuyên biệt: Đây là nhóm điều ước có nội dung đề cập tới từng đối tượng của quyền SHCN. Thông thường các điều ước tế này thường tập trung quy định về quy trình, thủ tục đăng ký quốc tế đối với các đối tượng cụ thể của quyền SHCN. Tiêu biểu
cho nhóm này gồm có: :