Điều ước quốc tế song phương về bảo hộ quyền tác giả

Một phần của tài liệu Giáo trình tư pháp quốc tế (2) (Trang 185 - 190)

QUYỀN TÁC GIA TRONG TU PHAP QUOC TE

II. CÁC HÌNH THỨC BẢO HỘ QUỐC TẾ QUYỀN TÁC GIÁ

2.2. Điều ước quốc tế song phương về bảo hộ quyền tác giả

Các điều ước quốc tế song phương về quyền tác giả đã xuất hiện từ lâu trong quan hệ quốc tế. Ngay từ đầu thế ky XIX, quyền và

nghĩa vụ của các bên trong lĩnh vực quyền tác giả đã được ghi nhận

tại những điều khoản riêng biệt hoặc phần phụ lục của các hợp đồng mua bán. Về sau, người ta thấy cần thiết phải ký Hiệp định song phương riêng biệt nhằm điều chỉnh quyền tác giả trong quan hệ giữa các quốc gia. Việc ký kết hiệp định đa phương đã phần nào hạn chế ý nghĩa của các hiệp định song phương về quyển tác giả, song không thể làm lu mờ vai trò của các hiệp định song phương giữa các quốc gia về bảo hộ quyền tác giả.

Mặc dù là thành viên của các Hiệp định đa phương về quyền tác giả, nhưng các nước vẫn ký kết những Hiệp định song phương về

quyền tác giả.

- Các nước Anh, Hoa Kỳ đã ký các Hiệp định về bảo hộ quyền tác giả với nhiều nước. Ví dụ: Hiệp định Hoa Kỳ - Mêhicô (1962);

Hiệp định Hoa Kỳ - Braxin (1964); Hiệp định Hoa Kỳ - Pháp (1966);

Hiệp định Hoa Kỳ - Thái Lan (1972), Hiệp định Hoa Kỳ - Nhật Bản

(1974); Hiệp định Hoa Kỳ - Trung Quốc (1995), v.v.

- Cộng hoà Liên bang Đức cũng đã ký một loạt hiệp ước song phương về bảo hộ quyền tác giả như: Hiệp ước về quyền tác giả với Pêru (năm 1951), với Hy Lạp (năm 1951), với Pakixtan (năm 1952), Hiệp định về sở hữu trí tuệ với lran (năm 1958), với Mêhicô (năm 1962), với Hoa Kỳ (năm 1966), với Nhật Bản (năm 1971), v.v.

Hàng loạt các Hiệp định song phương đã được ký kết giữa các nước thuộc châu Âu với các nước châu Mỹ Latinh và với các nước khác. Nội dung của các Hiệp định này chủ yếu tập trung dành cho

công dân của các nước đã ký Hiệp định chế độ đãi ngộ như công dân

của chính nước mình về quyền tác giả đối với các tác phẩm văn học

nghệ thuật, khoa học, không phụ thuộc vào nơi công bố đầu tiên.

2.2.2. Hiệp định uê thiết lập quan hệ quyên tác giả giữa Việt Nam va Hoa Kỳ

Hiệp định về thiết lập quan hệ quyền tác giả giữa Chính phủ

Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Chính phủ Hợp chủng Quốc

Hoa Kỳ (sau đây gọi tắt là Hiệp định quyền tác giả Việt Nam - Hoa Kỳ) đã được Bộ trưởng Bộ Ngoại giao hai nước ký kết ngày 27/6/1997

và bắt đầu có hiệu lực kể từ ngày 23/12/1998. Việc ký kết Hiệp định quyền tác giả Việt Nam - Hoa Kỳ nhằm thúc đẩy quá trình bình thường hoá quan hệ kinh tế - thương mại, tăng cường mối quan hệ giao lưu và phát triển hợp tác văn hoá giữa hai nước, góp phần tạo

môi trường thuận lợi cho đầu tư nước ngoài và chuyển giao công nghệ, đáp ứng những yêu cầu cẩn thiết trong việc bảo hộ quyền của tác giả trong nước và nước ngoài.

Với 11 điều, Hiệp định này quy định các nội dung cơ bản sau

day: Tác phẩm được bảo hộ; phạm vi các quyền được bảo hộ; đăng ký tác phẩm; ngăn ngừa và xử lý vi phạm quyền tác giả; sử dụng tác phẩm sau khi có hiệu lực...

a. Tác phẩm được bảo hộ theo Hiệp định quuên tác giả Việt Nam - Hoa Kỳ __~ Theo Hiệp định, tại Hoa Kỳ các tác phẩm sau đây được bảo hộ _ về quyền tác giả:

+ Tác phẩm của tác giả là công dân Việt Nam hoặc người thường

trú tại Việt Nam;

+ Tác phẩm được công bố lần đầu tại Việt Nam của người không phải là công dân Việt Nam hoặc người không thường trú tại Việt Nam;

+ Tác phẩm của tác giả là một công dân Việt Nam hoặc người thường trú tại Việt Nam được hưởng những quyền kinh tế theo luật quyền tác giả tại Hoa Kỳ;

+ Tác phẩm của tác giả là công dân Việt Nam hoặc người thường trú tại Việt Nam được hưởng những quyền kinh tế theo luật quyển tác giả tại Hoa Kỳ hoặc tác phẩm mà những quyền kinh tế thuộc về

một pháp nhân do một công dân Việt Nam hoặc người thường trú tại Việt Nam kiểm soát trực tiếp, gián tiếp hoặc có quyền sở hữu đối với _

phần lớn cổ phần hoặc tài sản của pháp nhân đó, với điều kiện là quyền kinh tế nói trên phát sinh trong vòng một năm kể từ ngày công bố lần đầu tác phẩm đó tại một nước thành viên của một Điều ước đa phương về quyền tác giả và tại thời điểm Hiệp định có hiệu lực, Việt Nam là thành viên của Điều ước nói trên;

+ Tác phẩm của tác giả là công dân Việt Nam hoặc người thường

trú tại Việt Nam và các tác phẩm đã được công bố lần đầu tại Việt

Nam trước khi Hiệp định bắt đầu có hiệu lực nhưng chưa thuộc về công cộng tại Việt Nam sau khi hưởng toàn bộ thời hạn bảo hộ.

- Các tác phẩm sau được bảo hộ tại Việt Nam quyền tác giả:

+ Tác phẩm của tác giả là công dân Hoa Kỳ hoặc người thường

trú tại Hoa Kỳ;.

+ Tác phẩm được công bố lần đầu tại Hoa Kỳ của người không phải là công dân Hoa Kỳ hoặc người không thường trú tại Hoa Kỳ;

+ Tác phẩm của tác giả là một công dân Hoa Kỳ hoặc người

thường trú tại Họa Kỳ được hưởng những quyền kinh tế theo luật

quyền tác giả tại Việt Nam hoặc tác phẩm mà những quyền kinh tế thuộc về một pháp nhân do một công dân Hoa Kỳ hoặc người thường trú tại Hoa Kỳ kiểm soát trực tiếp, gián tiếp hoặc có quyền sở hữu đối với phần lớn cổ phần hoặc tài sản của pháp nhân đó, với điều kiện là: quyền kinh tế nói trên phát sinh trong vòng 01 năm kể _ từ ngày công bố lần đầu tác phẩm đó tại một nước thành viên của một Điều ước đa phương về quyền tác giả tại thời điểm Hiệp định có

hiệu lực, Hoa Kỳ là thành viên của Điều ước nói trên;

+ Tác phẩm của tác giả là công dân Hoa Kỳ hoặc người thường trú tại Hoa Kỳ và các tác phẩm đã được công bố lần đầu tại Hoa Kỳ trước khi Hiệp định bắt đầu có hiệu lực nhưng chưa thuộc về công cộng tại Hoa Kỳ sau khi hưởng toàn bộ thời hạn bảo hộ.

Trường hợp thời hạn bảo hộ đối với các tác phẩm trên đây theo pháp luật Việt Nam ngắn hơn thời hạn bảo hộ theo pháp luật Hoa Kỳ,

'tác phẩm không được bảo hộ tại Việt Nam nếu thời điểm Hiệp định bắt đầu có hiệu lực thời hạn theo pháp luật Việt Nam đã kết thúc.

b. Phạm 0Í các quyên tac giả được bảo hộ theo Hiệp định quyển tác giả Việt Nam - Hoa Kỳ

Các quyền được bảo hộ theo Hiệp định bao gồm: các quyền tối thiểu; ngoài ra, người không phải là công dân Hoa Kỳ hoặc người không thường trú tại Hoa Kỳ có tác phẩm công bố lần đầu tại Hoa Kỳ, công dân Hoa Kỳ, người thường trú tại Hoa Kỳ có tác phẩm còn được hưởng các quyền theo Hiệp định tại Việt Nam không kém thuận lợi hơn công dân Việt Nam theo pháp luật Việt Nam; người không phải là công dân Việt Nam hoặc người không thường trú tại Việt Nam có tác phẩm công bố lần đầu tại Việt Nam, công dân Việt Nam, người thường trú tại Việt Nam có tác phẩm còn được hưởng các quyển tại Hoa Kỳ không kém thuận lợi hơn công dân Hoa Kỳ (nguyên tắc đãi ngộ như công dân).

Tất cả các tác phẩm được bảo hộ phải đăng ký tại cơ quan có thẩm quyển của Hoa Kỳ và cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam

theo quy định của pháp luật hai nước. -

Mọi cá nhân, pháp nhân có quyền hoặc lợi ích đối với các tác phẩm được bảo hộ theo Hiệp định tại Việt Nam có quyền thực hiện các biện pháp được pháp luật Việt Nam quy định để bảo vệ quyền

hoặc lợi ích của mình khi bị vi phạm tại Việt Nam. - Mọi cá nhân, pháp nhân có quyền hoặc lợi ích đối với các tác phẩm được bảo hộ theo Hiệp định tại Hoa Kỳ có nghĩa vụ thực hiện nghiêm chỉnh các quy định của Hiệp định, các quy định có liên quan

của pháp luật Việt Nam, pháp luật Hoa Kỳ và có quyền thực hiện các biện pháp được pháp luật Hoa Kỳ quy định để bảo vệ quyền hoặc lợi ích của mình khi bị vi phạm tại Hoa Kỳ.

Việc giải quyết tranh chấp và xử lý vi phạm quyền tác giả đối với tác phẩm tại Hoa Kỳ được thực hiện theo Hiệp định và pháp luật Hoa Kỳ.

Còn việc giải quyết tranh chấp và xử lý vi phạm quyền tác giả đối với các tác phẩm tại Việt Nam được thực hiện theo Hiệp định và pháp luật Việt Nam.

2.3. Bảo hộ quyền tác giả theo nguyên tắc có đi có lại

Pháp luật hiện hành của đa số các nước trên thế giới đều quy định khả năng công nhận và bảo hộ quyền tác giả phát sinh ở ngoài phạm vi nước mình trên cơ sở nguyên tắc có đi có lại. Ví dụ: Theo pháp luật của nước Cộng hoà Pháp sẽ không bảo hộ các tác phẩm đã được xuất bản ở một nước mà nước đó không dành sự bảo hộ tương ứng đối với các tác phẩm của công dân Pháp. Nguyên tắc có đi có lại cũng được quy định trong các luật về quyền tác giả của Anh, Hoa Kỳ,

Hungari, Dan Mach, Tay Ban Nha, Italia, Cu Ba, Na Uy, Ba Lan,

Maroc, Thụy Điển, Thuy Sỹ. Luật về quyền tác giả của Hoa Kỳ (mục

9 chương XVII) quy định rằng, quyền tác giả có hiệu lực đối với những tác phẩm của tác giả nước ngoài nếu như tác giả đó hoặc người có bản quyền tác giả đang thường trú ở Mỹ trong khi phát

hành tác phẩm đầu tiên. Ngoài ra, các trường hợp khác chỉ được bảo

hộ quyền tác giả hoặc theo nguyên tắc có đi có lại, hoặc là công dân, pháp nhân của nước thành viên của Công ước Giơnevơ năm 1952..

Luật về quyển tác giả của Hungari năm 1969 cũng quy định rằng, đối với những tác phẩm lần đầu tiên được công bố ở nước ngoài được hưởng sự bảo hộ của Hungari chỉ trong trường hợp nếu tác giả là công dân Hungari hoặc tác giả đó đã được sự bảo hộ theo

các điều ước quốc tế hoặc dựa theo nguyên tắc có đi có lại.

Việc áp dụng nguyên tắc có đi có lại còn được quy định trong luật về quyển tác giả của Marốc (ban hành ngày 25/7/1970); của Tuynidi (ban hành ngày 14/2/1996); của Nhật Bản (ban hành năm 1979); của Ấn Độ (ban hành năm 1972), v.v. Trong khoa học pháp lý, thường có sự phân biệt giữa nguyên tắc có đi có lại hình thức và

nguyên tắc có đi có lại thực chất. -

Theo nguyên tắc có đi có lại hình thức, các bên cùng đành cho

nhau sự bảo hộ đối với tác phẩm của công dân mỗi bên nhưng thực tế các quyền lợi cụ thể, khối lượng bảo hộ quyền tác giả có thể không như nhau. Theo nguyên tắc có đi có lại thực chất, các tác giả là công dân của các bên hữu quan đều phải được đối xử thực sự bình đẳng trong các quyền lợi cụ thể.

Lý luận và thực tiễn tư pháp của các nước hiện nay thường áp dụng nguyên tắc “có di có lại hình thức” trong lĩnh vực bảo hộ quyền

tác giả.

Một phần của tài liệu Giáo trình tư pháp quốc tế (2) (Trang 185 - 190)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(521 trang)