UYỀN SỬ HỮU TR0NG TƯ PHÁP QUỐC TẾ
II. GIẢI QUYẾT XUNG ĐỘT PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN SỞ HỮU
2.1. Nguyên tắc chung
Từ lâu vấn đề thể thức giải quyết xung đột pháp luật trong lĩnh vực quyền sở hữu đã trở thành một nội dung quan trọng của khoa học Tư pháp quốc tế.
Mặc dù vẫn còn tổn tại nhiều sự khác biệt, nhưng pháp luật của đa số các nước hiện nay trên thế giới đều thống nhất áp dụng một ._ nguyên tắc chung nhằm giải quyết xung đột pháp luật về quyền sở hữu: luật của nơi có tài sản (Lex rei sitae) hoặc luật nơi có đối tượng của quyên sử hữu (lex situs objectus). Phần lớn pháp luật của các nước Châu
Âu lục địa (Bi, Hà Lan, Italia, Liên bang Đức, Thuy 5ÿ, Pháp, Hungari,
Ba Lan, Liên bang Nga, Hy Lạp, v.v) và pháp luật Anh - Mĩ cũng như pháp luật của Australia, Nhật Bản, Việt Nam, v.v đều áp dụng nguyên tắc này. Chỉ có một số ít hệ thống pháp luật (Áo, Tây Ban Nha, Argentina, Bra-xin và Ai Cập) là còn giữ cách thức giải quyết xung đột pháp luật về quyền sở hữu đã tồn tại từ trước thế kỷ XIX: Đối với bất động sản thì áp dụng hệ thuộc luật nơi có tài sản (Lex Rei Sitae) còn đối với động sản thì áp dụng luật nhân thân của người có tài sản (mobilia personam sequuntur).
2.2. Nguyên tắc áp dụng luật nơi có tài sản (Lex resitae).
Hiện nay, trong Tư pháp quốc tế, hầu hết các nước đều dựa trên nguyên tắc chung “luật nơi có tài sản” để điểu chỉnh các vấn đề pháp lý liên quan đến quan hệ tài sản, tức là, tài sản nằm trên lãnh thổ quốc gia nào thì sẽ chịu sự điều chỉnh của hệ thống pháp luật quốc gia đó. Luật nơi có tài sản không những quy định nội dung của quyền sở hữu mà còn ấn định cả các điều kiện phát sinh, chấm dứt và chuyển dịch quyền sở hữu. Nội dung này đã được quy định trong pháp luật của nhiều nước. Nguyên tắc này dựa trên cơ sở học thuyết
quy chế lãnh thổ, theo đó thì tài sản tổn tại ở lãnh thổ quốc gia nào thì việc giải quyết các vấn để liên quan đến tài sản luôn thuộc về
quyền tài phán của pháp luật quốc gia nơi hiện có tài sản, pháp luật các nước đều thừa nhận luật áp dụng điều chỉnh các vấn để liên quan tới tài sản là luật nước nơi có tài sản đó, đặc biệt đối với tài sản là bất
- động sản!. |
Bất động sản là tài sản luôn gắn lién với lãnh thổ của một quốc gia
nhất định và đương nhiên áp dụng nguyên tắc luật nơi có tài san (Les reisitate) bat luận chủ sở hữu của bất động sản đó thuộc quốc tịch nước nào. Trong khi đó, động sản là tài sản có thể di chuyển và để đảm bảo công bằng, pháp luật điều chỉnh đối với loại tài sản này cũng phải thay đổi mỗi khi tài sản này được dịch chuyển qua biên giớ?.
Các phạm trù “động sản” và “bất động sản” không phải đã được hiểu một cách thống nhất trong các hệ thống pháp luật trên thế giới.
Do đó, thường phát sinh xung đột pháp luật về định danh tài sản.
Việc xác định tài sản là động sản hay bất động sản là tiền đề cho việc
giải quyết xung đột pháp luật về quyền sở hữu có yếu tố nước ngoài.
Bởi vậy, pháp luật quốc gia và các Điều ước quốc tế (Hiệp định hợp tác tư pháp) thường ghi nhận nguyên tắc áp dụng pháp luật nơi có tài sản để giải quyết xung đột pháp luật về định danh. Sa
Trong khoa học Tư pháp quốc tế, một nguyên tắc chung được áp dụng phổ biến là: Nếu quyền sở hữu đối với tài sản là động sản được phát sinh trên cơ sở pháp luật của nước này nhưng khi tài sản đó được dịch chuyển sang nước khác thì quyền sở hữu của chủ sở hữu
vẫn được pháp luật nước kia bảo hộ. Tuy nhiên, phạm vi và nội dung
. của quyền sở hữu đối với tài sản này - theo quy định của đa số pháp luật các nước - phải do pháp luật của nước nơi đang có tài sản điều ' chỉnh. Ví dụ: Một cá nhân đã thủ đắc quyền sở hữu đối với một động
sản ở nước ngoài theo pháp luật nước ngoài, nhưng nếu người đó mang tài sản vào Việt Nam một cách hợp pháp thì quyển sở hữu của
cá nhân đó vẫn được pháp luật Việt Nam bảo hộ. Tuy vậy, phạm vi,
'__Th8, Bùi Thị Thu (2010), Giáo trình Tư pháp quốc tế NXB. Giáo dục Việt Nam, tr. 180.
? _.Th6. Bùi Thị Thu (2010), Giáo trình Tư pháp quốc tế; NXB. Giáo dục Việt Nam, tr. 180.
nội dung của quyền sở hữu đối với động sản đó phải được xác định
theo pháp luật Việt Nam - phap luat noi co tai san (Lex rei sitae).
Theo khoản 1 Điều 24 Luật về Tư pháp quốc tế của Ba Lan thì
“quyền sở hữa và các quyền tài sản chịu sự điều chỉnh của pháp luật
nơi có tài sản”. Khoản 2 Điều 24 của Luật này đã chỉ rõ: “sự phát sinh và chấm dứt quyền sở hữu cũng như sự phát sinh, chuyển dịch hoặc chấm dứt các quyển tài sản chịu sự điều chỉnh của pháp luật nước nơi có tài sản vào thời điểm xảy ra sự kiện làm phát sinh các hậu quả pháp lý trên”.
Khoản 3 Điều 766 Bộ luật Dân sự Việt Nam năm 2005 quy định:
“Việc phân biệt tài sản là động sản hoặc bất động sản được xác định theo pháp luật của nước nơi có tài sản đó”.
Theo Khoản 1 Điều 766 Bộ luật Dân sự năm 2005 của CHXHCN Việt Nam, “việc xác lập, chấm dứt quyền sở hữu, nội dung quyền SỞ hữu đối với tài sản được xác định theo pháp luật cửa nước nơi có tài
sản đó”. Như vậy, quyển sở hữu và các quyển tài sản sẽ do luật nơi có tài sản - lex reisitae điều chỉnh, bất luận đối tượng của quyền sở hữu là động sản hay bất động sản.
Nguyên tắc áp dụng luật của nước nơi có tài sản để giải quyết xung đột pháp luật về định danh đã được ghi nhận trong các Hiệp
định tương trợ tư pháp giữa Việt Nam với Cộng hoà dân chủ Đức (cũ), với Liên xô (cũ) (Điều 35 Khoản 3), với Tiệp Khắc (cũ) (Điều 35 Khoản 3) với Cu Ba (Điều 34 Khoản 3), với Hungari (Điều 43 Khoản 3), với Bungari (Điều 33 Khoản 35 với Lào (Điều 2.
liên quan đến quan hệ tài sản trong Tư pháp quốc tế có những ý nghĩa sau:
- Đảm bảo tôn trọng lợi ích Nhà nước nơi có tài sản, bảo đảm trật
tự công của quốc gia, Nhà nước được thực thi chủ quyền của mình đối với con người và mọi loại tài sản trên lãnh thổ của mình;
- Bảo vệ lợi ích của chủ sở hữu tài sản trong \ việc thực hiện quyền.
_ của mình đối với tài sản;
- Tạo điều kiện thuận lợi cho việc bảo vệ quyền sở hữu cho chủ
sở hữu khi có tranh chấp liên quan đến quyền sở hữu đối với tài sản đó; tạo thuận lợi cho cơ quan giải quyết tranh chấp trong việc xác định đối tượng tranh chấp;
- Bảo vệ quyền lợi của người chiếm hữu tài sản không có căn cứ pháp luật nhưng ngay tình (người thủ đắc trung thực). Theo pháp
luật Việt Nam (Khoản 1 Điều 766 Bộ luật Dân sự năm 2005 và Điều 11
Nghị định số 138/2006/NĐ-CP ngày 15/06/2006 quy định chỉ tiết thi : hành các quy định của Bộ luật Dân sự về quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài), có thể áp dụng pháp luật của nước nơi đang có tài sản
tranh chap (lex ri sitae) để bảo hộ người thủ đắc trung thực. Bộ luật
Dân sự có thể áp dụng pháp luật của nước nơi đang có tài sản tranh chấp (lex rei sitae) để bảo hộ người thủ đắc trung thực. Theo pháp luật của Pháp, nếu tài sản đã được thủ đắc một cách trung thực ở
nước ngoài, nhưng ở đó quyển lợi của người thủ đắc trung thực không được bảo hộ thì pháp luật của Pháp có thể được áp dụng chỉ sau khi tài sản đó đã được chuyển dịch vào lãnh thổ nước Pháp.
Pháp luật Cộng hoà Liên bang Đức, Cộng hoà Liên bang Nga áp dụng nguyên tắc pháp luật của nước nơi có tài sản để bảo hộ người thủ đắc trung thực.
Vì vậy, hầu hết pháp luật các nước và pháp luật Việt Nam déu - dựa trên dấu hiệu “nơi có tài sản là đối tượng của tranh chấp” để xác định thẩm quyền của tòa án trong việc giải quyết tranh chấp.! Tuy nhiên, hệ thuộc luật nơi có tài sản cũng không được áp dụng để điều
chỉnh các quan hệ sở hữu phát sinh trong một số lĩnh vực như: (1) Các quan hệ sở hữu đối với các đối tượng của sở hữu trí tuệ; (ii) Các quan hệ về tài sản của pháp nhân nước ngoài khi pháp nhân đó bị giải thể;
(ii) Các quan hệ về tài sản liên quan đến các tài sản của quốc gia ở
nước ngoài; (iv) Các quan hệ tài sản liên quan đến các đối tượng của đạo luật về quốc hữu hóa.
1 Ths. Bui Thi Thu (2010), Giáo trình Tư pháp quốc tế; NXB. Gido duc Viét Nam, tr. 182.
2.3. Một số trường hợp đặc thù
* Áp dụng pháp luật đối oới tài sản đang trên đường uận chuyển
Pháp luật nước nơi có tài sản giữ vai trò nhất định trong việc xác định quyền sở hữu đối với tài sản đang trên đường vận chuyển (Res'in transitu) - tài sản quá cảnh qua nhiều quốc gia. Để xác định -quyền sở hữu đối với tài sản trên đường van chuyén (res in transitu);
cần thiết phải hiểu đúng khái niệm “transit” (quá cảnh). Thuật ngữ quá cảnh thông thường được hiểu là việc vận chuyển tài sản (hàng
hoá) hoặc hành khách đi qua lãnh thổ của một hay nhiều nước nào đó để đến nước thứ ba hoặc ít nhất phải đi qua vùng biển quốc tế. Khoản
14 Điều 4 Luật Hải quan được sửa đổi, bổ sung năm 2005 định nghĩa:
“Quá cảnh là uiệc uận chuyển hàng hóa, phương tiện uận tải từ một nước qua cửa khẩu uào lãnh thổ Việt Nam đến một nước khác hoặc trở uề nước đó”. Như vậy, việc vận chuyển tài sản (hàng hoá) từ lãnh thổ quốc gia này sang lãnh thổ quốc gia kia có cùng chung đường biên giới quốc gia sẽ không được cơi là quá cảnh. Việc xác định quyền sở hữu đối với tài sản (hàng hoá) đang trên đường vận chuyển (quá cảnh qua nhiều lãnh thổ quốc gia) là một vấn để rất phức tạp đã và đang được Tư pháp quốc tế của các nước quan tâm giải quyết. Theo pháp luật các nước hiện nay, quyển sở hữu cũng như các quyền tài sản đối với tai san dang trén duong van chuyén (res in transitu) sẽ được diéu chinh béi một trong các hệ thống pháp luật hiện hành sau đây:.
a. Pháp luật của nước nơi gửi tài sản (Legi loci expeditionis);
b. Pháp luật nước noi nhan tai san (Legi loci destinationis);
c. Pháp luật nước mà phương tiện vận tải mang quốc tịch (trong lĩnh vực giao. thông vận tải bằng tàu biển hoặc máy bay);
_đ. Pháp luật của nước nơi có trụ sở của toà án có thẩm quyền giải quyết tranh chấp (Legi fosi);
_ e. Pháp luật của nước nơi hiện đang có tài san (Legi rei sitae);
£, Pháp luật của nước do các bên lựa chọn (Legi voluntatis) - hoặc pháp luật của nước nơi gửi tài sản đi hoặc pháp luật của nước nơi nhận hoặc là pháp luật nơi hiện đang có tài sản...
Trong vấn để này, Tư pháp quốc tế để cao sự tự do ý chí của các
bên trong việc lựa chọn pháp luật áp dụng trong việc xác định: thời điểm chuyển giao quyền sở hữu để trên căn cứ đó xác định pháp luật áp dụng. Nếu các bên không thỏa thuận được thì cơ quan tài phán sẽ lựa chọn pháp luật theo các quy tắc của Tư pháp quốc tế.
Pháp luật Việt Nam áp dụng hệ thuộc luật của nước nơi tài sản được chuyển đến hoặc hệ thuộc luật lựa chọn (lex voluntatis). Theo Khoản 2 Điều 766 Bộ luật Dân sự Việt Nam năm 2005 thì “Quyển sở hữu đối uới động sản trên đường uận chuyển được xác định theo pháp luật của nước nơi động sản được chuuển đến niếu nhự hai bên không có sự thoả thuận khác”.
* Áp dụng pháp luật đối oới phương tiện oận tải quốc tế
Tuy nhiên với một số loại tài sản là phương tiện vận tải quốc tế như tàu bay, tàu biển do đặc thù luôn di chuyển qua nhiều quốc gia vì vậy không thể áp dụng pháp luật như những tài sản thông thường.
Pháp luật thích hợp được đa số các quốc gia sử dụng để điều chỉnh cho quan hệ pháp luật này là luật quốc tịch của phương tiện (pháp luật của quốc gia nơi máy bay, tàu biển đó được đăng ký).
Theo Khoản 4 Điều 766 Bộ luật Dân sự Việt Nam năm 2005, “viéc
xác định quyên sở hữu đổi uới tàu bay dân dụng oà tàu biển tại Việt Nam phải tuân theo pháp luật oÊ hàng không dân dụng 0à pháp luật uề hàng hải của Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam”.
Theo Khoản 1 Điều 4 Luật Hàng không dân dụng Việt Nam ngày 29/6/2006, “Pháp luật của quốc gia đăng ký quốc tịch tàu bay được áp dụng đổi uới quan hệ xó hội phỏt sinh trong tàu bay ủang bay 0à ỳp dựng để xác định các quyên đối uới tau bay”.
Còn theo quy định tại Khoản 1 Điều 3 Bộ luật Hàng hải Việt Nam năm 2005 thì: “Trơng trường hợp quan hệ pháp luật liên quan đến quyên sử hữu tài sản trên tàu biển... khi tàu đang ở biển cả thì úp dụng pháp luật của quốc gia ma tàu biển mang cờ quốc tịch” và Khoản 1 Điều 32:
“Việc chuyển quyên sử hữu tàu biển phải được thể hiện bằng oăn bản theo quy định của pháp luật Việt Nam hoặc pháp luật của quốc sia nơi Thực hiện chuyển quyên sở hữu tàu biển”.
- Điều 10 Luật Hàng không dân dụng của Ba Lan năm 1962 quy định: “Các quyền sở hữu đối với tàu bay cũng như đối với tài sản trên tàu bay được điều chỉnh bởi pháp luật của nước nơi tàu bay:
đăng ky” (lex libri sitae). Điều 7 Bộ luật Hàng hải Ba Lan ghi nhận:
“Quyền sở hữu đối với tài sản trên tàu biển sẽ do pháp luật của nước ma tau mang cd” (lex banderae).
Như vậy, đối với các quan hệ sở hữu và các quan hệ tài sản trong -
lĩnh vực hàng không dân dụng và hàng hải quốc tế, hệ thuộc pháp luật của nước noi co tai san (lex rei sitae) khong duoc ap dung ma chu yếu là áp dụng hệ thuộc luật quốc ky (lex banderae) hoac hé thudéc luật noi dang ky (lex libri) hodc hệ thuộc luật nơi đăng ký hợp đồng (lex loci contractus).
*Ấp dụng uới một số trường hợp khác
Hệ thuộc pháp luật của nơi có tài sản cũng không được áp dụng
để điều chỉnh các quan hệ sở hữu phát sinh trong một số quan hệ sở
.hữu đặc thù khác.
- Các quan hệ sở hữu đối với các đối tượng của sở hữu trí tuệ hiện nay được áp dụng theo pháp luật nước nơi đối tượng tài sản trí
tuệ đó được bảo hộ. Điều 739 Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định:
“Quyên tác giả phát sinh kể từ ngày tác phẩm được sáng tạo uà được thể - hiện dưới một hình thức oật chất nhất định”; Khoản 1 Điều 752 cũng quy
định: “Quyên sở hữu công nghiệp đổi uới sáng chê, kiểu dáng công nghiệp, thiêt kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý, quyên đổi voi giống cây trông được xác lập trên cơ sở quyết định của cơ quan Nhà nước có thẩm quyên khi thực hiện uiệc đăng ký các đối tượng đó theo quy định của pháp luật 0ê sở hữu trí tuệ”.
- Các quan hệ về tài sản của pháp nhân nước ngoài khi pháp nhân đó bị giải thể: Các quan hệ về tài sản của pháp nhân nước ngoài do pháp luật quốc tịch của pháp nhân đó quy định. Khi pháp nhân đó bị giải thể thì tài sản của pháp nhân đó sẽ được giải quyết theo pháp luật quốc tịch (nơi cấp phép thành lập pháp nhân) chứ không áp dụng luật nơi có tài sản.
- Các quan hệ về tài sản liên quan đến các tài sản của quốc gia đang ở nước ngoài và các quan hệ tài sản liên quan đến các đối tượng
của các đạo luật về quốc hữu hoá được điều chỉnh theo một quy chế pháp lý đặc biệt do chính quốc gia chủ sở hữu tài sản đó quyết định, trừ trường hợp tài sản đó được sử dụng với mục đích kinh doanh.