II HỌC THUYẾT CUA TRUONG PHAI QUY CHE
IV. J.STORY VÀ HỌC THUYẾTLÃNH THỔ ANH-MỸ (COMMON LAW)
đã trao quyền độc lập cho các bang trong lĩnh vực dân sự và; 2) Sự
phát triển thương mại giữa các bang.
Jozef Story (1779-1845) - luật gia người Hoa Kỳ, tác giả của tác
pham Commentaries on the Conflicts of Laws Foreign and Domestic (Binh luận về xung đột luật nước ngoài và luật trong nước), xuất bản năm 1834 tại Boston - là người đại diện chính cho trường phái mới về Tư
pháp quốc tế ở Hoa Kỳ. Kế thừa Ulrich Huber, J.Story đã dựa trên nguyên tắc lãnh thổ, còn việc áp dụng luật nước ngoài dựa theo nguyên tắc cormifas (comity - lễ nhượng). Như vậy, quan điểm chính cua J.Story la dựa trên các nguyên tắc của trường phái quy chế.
Nhưng khác với trường phái quy chế, J.Story đã không thừa nhận quan điểm cho rằng mọi đạo luật trước hết đều phải được phân chia thành persơnalia và renlia. Theo J.Story, việc phân chia như vậy là máy móc và cứng nhắc so với thực tiễn rất đa dạng của cuộc sống. J.Story cũng là người đầu tiên sử dụng tên gọi “Tư pháp quốc tế” (Prioate international law).
Hoc thuyết của J.Story có một ý nghĩa lịch sử to lớn. Nhờ đó mà các nguyên tắc lãnh thổ và nguyên tắc comilas đã được bắt rễ sâu ở.
Hoa Kỳ. Trên cơ sở các nguyên tắc này, thực tiễn tố tụng trong lĩnh vực Tư pháp quốc tế đã được áp dụng tại các tòa án Hoa Kỳ và các tòa án nước Anh. Quá trình pháp điển hoá Tư pháp quốc tế không - chính thức ở Hoa Kỳ, cho đến nay, vẫn dựa trên học thuyết của
J.Story (Restatement of the of Conflic of law).
Một hiện tượng đặc biệt là Tư pháp quốc tế ở nước Anh lại không phát triển theo những tư tưởng của Tư pháp quốc tế lục địa.
Nước Anh, qua những thế kỷ dài đã không có những nhu cầu tìm kiếm các nguyên tắc để giải quyết xung đột luật bằng cách áp dụng hệ thống pháp luật này hay hệ thống pháp luật kia. Sự cách biệt về địa lý của nước Anh đã dẫn đến sự xuất hiện một hệ thống pháp luật riêng 6 nudc nay - common law. Đó là luật tập quán (case law) được hình thành trên cơ sở các nguyên tắc của các tòa án cung đình (court of common pleas, court of King’s bench, court of exchequer). Trong lĩnh vực thương mại, đã có những Tòa án Thương mại mà việc xét
xử được dựa trên những nguyễn tắc đặc biệt của Luật“ Thương mại (law merchant); con trong lĩnh vực hàng hải thì từ thế kỷ XIX đã có Tòa án Hang hai (court of admiralty) 4p dụng Luật Biển (miriHme la).
Theo những nguyên tắc ctia common law, chi cd thé mé phién toa 6 nơi xảy ra sự kiện lam xuất hiện hậu quả pháp lý.
Cac toa an common lau đã đấu tranh một cách dai dẳng với các Tòa án Thương mại và các Tòa án Hàng hải. Cuộc giằng co về thẩm quyền suốt trong hai thế kỷ (XVI - XVII) đã kết thúc bằng chiến thắng
cua cac toa an common law nhờ có sự hoàn thiện của luật về khế ước.
Common law đã thực hiện hàng loạt sự nhượng bộ đối với chủ nghĩa hình thức, theo đó, cho phép các khiếu nại về hợp đồng không cần phải giữ những hình thức truyền thống; đồng thời, phát triển việc xét xử các khiếu nại thuộc lĩnh vực hợp đồng. Nếu khế ước (hợp đồng) có liên quan với nước ngoài thì việc xét xử sẽ được tiến hành khi hợp đồng đó được ký hoặc được thực hiện ở nước Anh. Giao thương với
thế giới chủ yếu bằng đường biển, vào thế kỷ XVII, nước Anh đã không thể hạn chế các giao dịch bằng việc áp dụng pháp luật riêng của mình. Áp đụng luật nước ngoài và công nhận các quyết định của tòa án nước ngoài đã trở nên rất cần thiết. Vào thế kỷ XVIHI, các học thuyết của Hà Lan đã bắt đầu vươn tới Anh (do những người Anh theo học tại trường Tổng hợp Leyden của Hà Lan truyền bá). Đến thế
kỷ XIX, khi đã trở thành một cường quốc, nước Anh tiếp nhận toàn
bộ học thuyết của J.Story.
Common law da cé anh hưởng quyết định đối với hệ thống dân
luật Hoa Kỳ, chính vì thế, nó đã có các tác động tương hỗ dẫn tới sự
xuất hiện học thuyết Anh - Mỹ về Tư pháp quốc tế. Học thuyết này
được coi là một trong những học thuyết dựa trên nguyên tắc lãnh thổ.
Học thuyết lãnh thổ của Anh - Mỹ tuân thủ triệt để nguyên tắc:
quốc gia không bao giờ áp dụng luật nước ngoài theo đúng thực chất nội dung, nhưng nếu vì quy phạm xung đột của nước mình thì chỉ thừa nhận các quyền phát sinh đưới sự chỉ phối của luật nước ngoài
(vested rights) - bảo vệ những quyền đã có. Khi xét xử, tòa án Anh -
Mỹ không áp dụng luật nước ngoài mà chỉ áp dụng pháp luật nước mình, coi như luật nước ngoài cũng giống luật của Anh - Mỹ. Theo học thuyết này, đối với người nước ngoài thì luật pháp của địa . phương (của lãnh thổ) nơi cư trú là có hiệu lực, còn luật tfực;chất của người nước ngoài chỉ có tác dụng ngoại lệ.
Những người đại điện chủ yếu của học thuyết lãnh thổ của Anh - Mỹ là Dicey, người Anh (1896) và Beale, người Mỹ (1935).
Một số nguyên tắc và thực tiễn xét xử của Pháp trong nhiều trường hợp đã áp dụng nguyên tắc này. Tuy vậy, cũng đã xuất hiện không ít những người phản bác học thuyết trên.