Các điều tớc quốc tế song phương

Một phần của tài liệu Giáo trình tư pháp quốc tế (2) (Trang 60 - 66)

VÀ NRUỒN CỦA TƯ PHÁP QUỐC TẾ

II. NGUỒN CỦA TƯ PHÁP QUỐC TẾ

2.2. Pháp luật quốc gia

2.3.1. Các điều tớc quốc tế song phương

Về điều ước song phương, trước hết phải kể đến các Hiệp định về tương trợ tư pháp và pháp lý giữa CHXHCN Việt Nam với nước ngoài. Đó là các Hiệp định tương trợ tư pháp và pháp lý với Cộng

hoà Séc và Slôvakia (năm 1982); với Cu Ba (năm 1984); với Hungari (năm 1985); với Bungari (năm 1986); với Ba Lan (năm 1993); với Lào (năm 1998); với Pháp (năm 2000) và với Ucraina (năm 2000); v.v.

Ngoài những quy định về việc công nhận và tuân thủ lẫn nhau các quyền tài sản và nhân thân của công dân và pháp nhân, giá trị của các giấy tờ, quan hệ hợp tác giữa các cơ quan tư pháp các nước ký két..., nội dung chủ yếu của các Hiệp định tương trợ tư pháp là điều chỉnh thống nhất các xung đột về pháp luật áp dụng và về thẩm

quyền giải quyết các quan hệ pháp luật dân sự, gia đình phát sinh giữa công dân và pháp nhân Việt Nam và các nước ký kết.

Bên cạnh các Hiệp định tương trợ tư pháp, Việt Nam còn ký kết nhiều Hiệp định về nuôi con nuôi với một số quốc gia trên thế giới.

Các Hiệp định về lãnh sự giữa CHXHCN Việt Nam với nước ngoài nhằm bảo hộ quyển lợi của công dân và pháp nhân các bên ky.

kết cũng chứa đựng nhiều quy phạm của Tư pháp quốc tế. Đến nay,

Nhà nước Việt Nam đã ký hàng loạt các Hiệp định lãnh sự với nước . ngoài như: Hiệp định lãnh sự với Liên Xô (cũ) năm 1978; với Ba Lan

năm 1979; với Hungari năm 1979; với Bungari năm 1979; với Mông Cổ năm 1979, với Cộng hoà Séc và Slôvakia năm 1980; với Cu Ba năm

1981; với Lào năm 1985; với Irắc năm 1990; v.v.

Để điều chỉnh các hoạt động thương mại và hàng hải, Việt Nam đã ký kết nhiều hiệp định thương mại và hàng hải với các nước. Các hiệp định thương mại và hàng hải thường ghi nhận các nguyên tắc cơ bản của Tư pháp quốc tế như nguyên tắc có đi có lại, nguyên tắc đãi ngộ quốc gia và nguyên tắc tối huệ quốc (MEN). Bên cạnh các nguyên tắc trên, nhiều hiệp định thương mại đã ký kết giữa Việt Nam với các

nước còn quy định nghĩa vụ của quốc gia trong việc giúp đỡ, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp của nhau trong việc buôn bán thương mại, - địch vụ, tài chính... Việt Nam đã ký các hiệp định thương mại với các

nước như: với Ba Lan năm 1968; với Cu Ba năm 1970; với Liên Xô(cũ)

năm 1978; với Anbani năm 1990; với Cu Ba năm 1990; với Campuchia năm 1991; với Lào năm 1991; với Australia năm 1990; với Trung Quốc năm 1991;... và đặc biệt là Hiệp định thương mại với Hoa Kỳ được ký ngày 13/7/2000. Với 7 chương lớn và các phụ lục, Hiệp định thương

mại Việt Nam - Hoa Kỳ, cùng với việc ghi nhận nguyên tắc tối huệ quốc (MEN), đã đề cập đến hầu hết các lĩnh vực của quan hệ kinh tế -

thương mại hiện đại như: thương mại hàng hoá, quyền sở hữu trí tuệ, thương mại địch vụ, quan hệ đầu tư, các quy định liên quan đến tính minh bạch, công khai và quyền khiếu kiện, tạo thuận lợi cho các noạt động kinh doanh của công dân và pháp nhân hai nước...

Đến nay, Việt Nam đã ký trên 40 hiệp định về khuyến khích và bảo hộ đầu tư với các quốc gia khắp các châu lục: với Cộng hoà Italia năm 1990; với Malayxia năm 1992; với Philippin năm 1992; với Singapore năm 1992; với Trung Quốc năm 1992; với Liên minh kinh tế Bi - Lúc-xăm-bua năm 1991; với Vương quốc Thái Lan năm 1991;

với Australia năm 1991; với Pháp năm 1992; v.v. Các hiệp định trên

đều ghi nhận nguyên tắc tối huệ quốc dành cho công dân, pháp nhân của nhau trong lĩnh vực đầu tư cũng như các biện pháp bảo đảm và khuyến khích đầu tư (bồi thường thiệt hại, vấn để quốc hữu hoá hoặc trưng dụng, chuyển vốn và lãi về nước, giải quyết tranh chấp về đầu

tư, v.v).

Ngoài những hiệp định liên quan trực tiếp đến thương mại và đầu tư, nước ta còn ký kết nhiều hiệp định về tránh đánh thuế hai lần với các nước Tây Âu, Bắc Âu, Đông Âu và khu vực châu Á. Việc ký

kết các hiệp định này có ý nghĩa rất to lớn: góp phần khuyến khích

đầu tư nước ngoài tại Việt Nam thông qua việc loại bỏ việc đánh thuế

trùng lặp giữa Việt Nam và các nước; tạo ra môi trường pháp lý chắc chắn, ổn định hơn cho các nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam; góp phần bảo vệ quyền lợi của tổ chức và cá nhân, là công cụ pháp lý mở rộng quan hệ hợp tác về kinh tế - văn hoá giữa Việt Nam và các nước trong khu vực cũng như trên thế giới.

2.3.2. Cỏc điều ước quốc tế ủa phương

Cùng với việc ký kết điều ước quốc tế song phương với các quốc gia trên thế giới, Việt Nam đã tham gia nhiều điều ước quốc tế đa phương về các lĩnh vực của Tư pháp quốc tế. Ví dụ: Công ước Paris năm 1883 về sở hữu công nghiệp (gia nhập năm 1981); Thoả ước Madrit về đăng ký nhãn hiệu hàng hoá (gia nhập năm 1981); Hiệp ước hợp tác bằng sáng chế - PCT (gia nhập năm 1993); Công ước về thiết lập Tổ chức bảo đảm đầu tư đa biên (MIGA! - 1985); Hiệp định về buôn bán hàng đệt may Việt Nam - EU (ký năm 1992); Hiệp định khung hợp tác Việt Nam - EU (ký năm 1995); Hiệp định khung về

thiết lập khu vực đầu tư ASEAN (AIA - 1988); Hiệp định khung ASEAN về dịch vụ; Hiệp định về Chương trình thuế quan ưu đãi có hiệu lực chung (CEPT)? cho khu vực thương mại tự do ASEAN (AFTA); Công ước New York năm 1958 về công nhận và - thi hành quyết định của Trọng tài nước ngoài (gia nhập năm 1995); Bộ nguyên tắc Unidroit về hợp đồng thương mại quốc tế bản sửa đổi mới nhất năm 2004; Công ước La Haye số 33 ngày 29/5/1993 về bảo vệ trẻ em và hợp tác trong lĩnh vực nuôi con ` nuôi quốc tế (phê chuẩn theo Quyết định số 1103/2011/QĐ-CTN ngày 18/07/2011); Công ước Lao động hàng hải 2006 (gia nhập

theo Quyết định số 547/2013/QĐÐ-CTN ngày 22/3/2013);...

1_.MIGA: Multilateral Investment Guarantee Agreement - Việt Nam đã gia nhập từ ngày 26/01/1994.

2 CEPT: Common Effective Preferential Tariffs - Việt Nam đã gia nhập từ năm 1996.

Các điều ước quốc tế nêu trên, ở một mức độ nhất định đều chứa đựng các nguyên tắc hoặc quy phạm điều chỉnh các quan hệ thuộc lĩnh vực Tư pháp quốc tế. Các quy phạm đó có thể là quy phạm thực _ chất thống nhất hoặc quy phạm xung đột thống nhất, cấu thành

nguồn quan trọng của Tư pháp quốc tế.

2.4. Tập quán quốc tế

Tập quán quốc tế là những quy tắc xử sự phổ biến được thừa

nhận và áp dụng rộng rãi ở một khu vực nhất định (tập quán khu

vực) hoặc trên phạm vi toàn cầu (tập quán toàn cầu). Tập quán quốc tế chỉ có thể trở thành nguồn của Tư pháp quốc tế khi được pháp luật trong nước quy định áp dụng hoặc được các quốc gia hữu quan quy định trong điều ước quốc tế hoặc được các bên chủ thể tham gia quan

hệ Tư pháp quốc tế thoả thuận (với điều kiện việc áp dụng hoặc hậu.

quả của việc áp dụng tập quán quốc tế đó không trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật của các bên).

Những tập quán quốc tế là nguồn của Tư pháp quốc tế thường là những tập quán về thương mại, hàng hải quốc tế. Ví dụ: Các điều kiện thương mại quốc tế (INCOTERMS) đã được Phòng Thương mại .quốc tế Paris tập hợp và ban hành từ năm 1936 (sửa đổi vào các năm 1953, 1968, 1976, 1980, 1990, 2000 và 2010). Các điểu kiện thương mại quốc tế là tập hợp các tập quán thương mại quốc tế thông dụng được _áp dụng trong các hợp đồng thương mại quốc tế nhằm quy định quyển và nghĩa vụ của các bên về việc vận chuyển hàng hoá, trách nhiệm làm thủ tục hải quan đối với hàng hoá; quy định về phân chia chỉ phí và rủi rơ giữa các bên trong hợp đồng. Các tập quán giao

hàng được mang tên gọi tắt bằng tiếng Anh như: FOB, CIF, FAS,

CAF, EX WORKS, EX QUAY... Bên cạnh các Điểu kiện thương mại

quốc tế (INCOTERM§), còn có các tập quán thương mại quốc tế phổ

biến như: Quy tắc thống nhất về nhờ thu (URC) do Phòng Thương

mại quốc tế (Paris ICC) biên soạn; Bản quy tắc và thực hành thống nhất về chứng từ cũng do Phòng Thương mại quốc tế (Paris ICC) cung cấp; Bản quy tắc trọng tài của UNCITRAL; Quy tắc York- Antwerp về tổn thất chung...

-_* Theo quy định của pháp luật Việt Nam, cụ thể là tại khoản 4 Điều 759 Bộ luật Dân sự năm 2005: “Trong trường hợp quan hệ dân sự cú yếu tố trước ngoài khụng ủược Bộ luật nàu, cỏc oăn bản phỏp luật khỏc của Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, điều ước quốc tế nà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành iên hoặc hợp đông dân sự giữa các bên điêu chỉnh thì áp dụng tập quán quốc tế, nếu uiệc úp dụng hoặc hậu quả của uiệc áp dụng không trái uới các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam”.

2.5. Tiền lệ pháp - án lệ (case law)

Án lệ được hiểu là các bản án hoặc quyết định giải quyết vụ việc đã có hiệu lực của cơ quan xét xử trước đây được sử dụng làm khuôn

mẫu và cơ sở để giải quyết các vụ việc hoặc các trường hợp tương tự

xảy ra sau này. Ở nhiều nước tư bản phát triển, đặc biệt là các nước thuộc hệ théng common law, an 1é có vai trò rất quan trọng và được sử

dụng rộng rãi trong việc giải quyết các tranh chấp về dân sự - kinh tế - thương mại, lao động... có yếu tố trong nước cũng như yếu tố nước ngoài.

Đối với các nước thuộc hệ thống ciơil lzu, dù án lệ chỉ được coi là nguồn thứ yếu nhưng vẫn đóng vai trò quan trọng trong việc giải quyết vấn đề hợp đồng.

Ở Việt Nam, dưới chế độ Việt Nam Cộng hòa, án lệ cũng được coi là một nguồn của pháp luật dân sự. Trong khi đó, Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam không thừa nhận án lệ là một nguồn

chính thức. Các án lệ chỉ tồn tại trên thực tế dưới dạng “hướng dẫn

- xét xử“ của các tòa cấp trên. Tuy nhiên, trong tương lai không xa, có nhiều khả năng án lệ sẽ trở thành một nguồn luật chính thức được pháp luật công nhận khi hiện nay Tòa án nhân dân tối cao đã xuất

bản hai tuyển tập quyết định giám đốc thẩm (về dân sự và hình sự) và đã có chủ trương phát triển án lệ của Bộ Chính trị Đảng Cộng sản

Việt Nam nhằm đáp ứng yêu cầu hội nhập với thế giới!.

1. Nghị quyết49-NQ/TW của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020.

Như vậy, hiện nay pháp luật Việt Nam mới thừa nhận ba loại

nguồn, đó là: các văn bản pháp luật do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ban hành, các điều ước quốc tế mà Việt Nam đã ký kết hoặc tham gia và các tập quán quốc tế. Án lệ chưa được coi là nguồn luật nói chung cũng như nguồn của Tư pháp quốc tế Việt Nam.

LƯỢC SỬ bÁC HE THUYẾT CŨ BAN VE TU PHÁP (ZC TẾ

Một phần của tài liệu Giáo trình tư pháp quốc tế (2) (Trang 60 - 66)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(521 trang)