CHU THỂ CỦA TƯ PHÁP QUỐC TẾ
I. KHÁI NIỆM CHỦ THE CUA TU PHAP QUOC TE
2.3.1. Quy chế Đối xử quốc gia (National Treatment: NT)
Theo quy chế này, trừ những trường hợp ngoại lệ cụ thể, cá nhân là người nước ngoài trong quan hệ Tư pháp quốc tế được hưởng những quyền dân sự, kinh tế ngang với những quyền tương đương mà
công dân nước sở tại được hưởng. Nói như vậy không có nghĩa là chế độ pháp lý của cá nhân là người nước ngoài hoàn toàn ngang với chế độ pháp lý của công dân nước sở tại. Dù ở hoàn cảnh riào họ cũng không được hưởng đầy đủ mọi quyển mà nước sở tại dành cho công dân của mình, đặc biệt là các quyền chính trị (ví dụ quyền bầu cử, ứng cử, quyền phục vụ trong các lực lượng vũ trang...). Nội dung của quy chế Đối xử quốc gia được thể hiện rất khác nhau trong pháp luật các nước. Chẳng hạn, Điều 18 Luật về Tư pháp quốc tế của Ba Lan năm 1965 quy định “Ở Ba Lan, người nước ngoài có quyển và nghĩa vụ
ngang với công dân Ba Lan, trừ khi đạo luật này quy định khác”.
Khoản 2 Điều 100 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 của Việt Nam quy định: “Trong quan hệ hôn nhân và gia đình với công dân Việt Nam, người nước ngoài tại Việt Nam được hưởng các quyền và nghĩa vụ như công dân Việt Nam, trừ trường hợp pháp luật Việt Nam có quy
định khác”. Khoản 2 Điều 4 Luật Đầu tư năm 2005 có quy định: “Nhà _ nước đối xử bình đẳng trước pháp luật đối với các nhà đầu tư thuộc mọi thành phần kinh tế, giữa đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài;
khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động đầu tư”. Các Khoản 5, 6, 7, 8 của Điều 3 Pháp lệnh về Đối xử tối huệ quốc và Đối xử
quốc gia trong thương mại quốc tế năm 2002 có định nghĩa khá rõ về Đối xử quốc gia trong thương mại hàng hoá, Đối xử quốc gia trong
thương mại dịch vụ, Đối xử quốc gia trong đầu tư và Đối xử quốc gia
đối với quyền sở hữu trí tuệ. Chương III của Pháp lệnh này quy định
các trường hợp được áp dụng Đối xử quốc gia, phạm vi áp dụng Đối xử quốc gia và các ngoại lệ về Đối xử quốc gia.
Nội dung quy chế pháp lý này được ghi nhận khác nhau trong các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Chẳng hạn, trong các Hiệp định tương trợ tư pháp mà Việt Nam đã ký với các nước đều khẳng định công dân nước ký kết này được hưởng trên lãnh thổ của nước ký kết kia sự bảo hộ pháp lý về các quyền nhân thân và tài sản mà nước ký kết kia dành cho công dân nước mình. Trong khi đó,
Điều 2 Chương I Hiệp định thương mại giữa Việt Nam và Hoa Kỳ năm 2000 quy định nước ký kết này có nghĩa vụ áp dụng sự đối xử
không kém thuận lợi hơn sự đối xử dành cho hàng hoá tương tự của mỗi bên với điểu kiện tuân thủ những ngoại lệ và lộ trình do hai bên thoả thuận. Quy chế Đối xử quốc gia cũng được áp dụng thích hợp
cho quyền sở hữu trí tuệ, thương mại dịch vụ, quan hệ đầu tư giữa hai nước. Quy định tương tự như vậy cũng thấy trong các văn kiện.
pháp lý quốc tế về việc Việt Nam gia nhập Tổ chức thương mại thế ' giới (WTO). Như vậy, trong khuôn khổ các điều ước quốc tế, các bên kết ước có thể thoả thuận được với nhau về những ngoại lệ cần thiết của việc áp dụng quy chế này theo những lộ trình nhất định.
2.3.2. Quụ chế Tối huệ quốc (The Most - Favoured - Nation Treatment: MEN) Quy chế Tối huệ quốc được coi là một trong những quy chế pháp lý cơ bản thường được ghi nhận trong các điều ước quốc tế về thương mại và hàng hải. Theo quy chế này, cá nhân là người nước
ngoài ở nước sở tại được hưởng chế độ pháp lý mà nước sở tại dành
cho những cá nhân là người nước ngoài của bất kỳ một nước thứ ba . nào đang được hưởng hoặc sẽ được hưởng trong tương lai. Đãi ngộ Tối huệ quốc có thể là vô điều kiện hoặc có điều kiện. Mục đích của việc áp dụng quy chế này là nhằm đảm bảo cho mọi cá nhân là người nước ngoài được hướng những quyền và nghĩa vụ dân sự - kinh tế :
ngang nhau trong cùng một lĩnh vực, địa bàn hoạt động mà không có
sự phân biệt đối xử nào giữa họ. Quy chế này thường được ghi nhận
trong các điều ước quốc tế về thương mại và hàng hải mà Việt Nam
là thành viên. Chẳng hạn, Điều 2 Chương II Hiệp định thương mại giữa Việt Nam và Hoa kỳ quy định mỗi bên giành ngay lập tức và vô điều kiện cho các dịch vụ và nhà cung cấp dịch vụ của Bên kia sự đối xử không kém thuận lợi hơn sự đối xử mà Bên đó dành cho các dịch
vụ và nhà cung cấp dịch vụ tương tự của bất kỳ nước nào khác. Tuy
vậy, trong thực tiễn, người ta có thể thoả thuận về các ngoại lệ của
quy chế này theo những lộ trình nhất định. Quy chế tương tự như quy định trên cũng thấy trong các văn kiện pháp lý quốc tế về việc Việt Nam gia nhập WTO.
Nội dung quy chế Tối huệ quốc cũng có thể được khẳng định trong pháp luật quốc gia theo những phạm vi và mức độ khác nhau.
Chẳng hạn, khoản 1, 2, 3, 4 của Pháp lệnh về Đối xử tối huệ quốc và Đối xử quốc gia trong thương mại quốc tế năm 2002 có định nghĩa khá rõ về Đối xử tối huệ quốc trong thương mại hàng hoá, Đối xử tối huệ quốc trong thương mại dịch vụ, Đối xử tối huệ quốc trong đầu tư và Đối xử tối huệ quốc đối với quyền sở hữu trí tuệ. Các điều từ Điều 6 đến Điều 14 Chương II của Pháp lệnh này quy định khá chỉ tiết các trường hợp áp dụng Đối xử tối huệ quốc, phạm vỉ áp dụng Đối xử tối huệ quốc, và các ngoại lệ về Đối xử tối huệ quốc trong từng lĩnh vực cụ thể của thương mại quốc tế.
Nhìn chung, nếu quy chế Đối xử quốc gia đặt ra yêu cầu không phân biệt đối xử trong quan hệ giữa những người nước ngoài với nhau cùng cư trú, hoạt động sản xuất kinh doanh trên cùng lãnh thổ nước sở tại. Trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay, cả hai
quy chế pháp lý này đã có nhiều đổi mới về nội dung và phạm vi áp
dụng, đặc biệt là trong quan hệ thương mại đa biên giữa các quốc gia
theo các quy định của WTO và các hiệp định thương mại khu vực.
2.3.3. Quụ chế có đi có lại (Reciprocity) va chế độ báo phục quốc (Retaliation)
Quy chế có đi có lại được hiểu là quy chế pháp lý, theo đó nước này sẽ dành một số quyền, nghĩa vụ pháp lý nhất định, một số ưu đãi
và các điều kiện thuận lợi nhất định cho công dân của một nước kia ở
nước này trên cở sở những điều kiện thực tế cụ thể phát sinh trong
quan hệ giữa hai nước hữu quan và công dân nước này cũng được hưởng sự đối xử tương tự tại nước kia. Trong quan hệ quốc tế, quy chế này được hiện diện dưới các hoạt động được gọi là có đi có lại thực chất và có đi có lại hình thức, được hiểu đồng nghĩa với quy chế cùng có lợi trong quan hệ quốc tế.
Nội dung các hoạt động có đi có lại thực chất biểu hiện ở chỗ một nước sẽ cho phép công dân một nước ngoài nhất định được hưởng một chế độ pháp lý nhất định, một số quyền lợi hoặc ưu đãi nhất định khi có đủ căn cứ để khẳng định sự tồn tại những điều kiện thực tế, cụ thể trong quan hệ giữa hai nước hữu quan làm cơ sở khách quan cho việc áp dụng quy chế pháp lý đó. Việc áp dụng quy chế có đi có lại thực chất thường dựa vào các quy tắc hoạt động đối ngoại của nước sở tại trong trường hợp pháp luật không định rõ vấn đề đó.
Quy chế có đi có lại hình thức lại mang một nội dung khác. Một nước sẽ cho phép công dân của một nước ngoài nhất định được
hưởng một chế độ pháp lý nhất định, những quyển lợi và ưu đãi
nhất định trên cơ sở đáp ứng các điều kiện thực tế nhất định theo quy định của pháp luật nước sở tại. Quy chế có đi có lại đôi khi cũng được khẳng định trong các điểu ước quốc tế song phương hoặc đa phương với tính chất là nguyên tắc cơ bản trong quan hệ các nước kết ước.
Quy chế có đi có lại cũng được quy định trong pháp luật Việt Nam. Chẳng hạn, khi quy định về nguyên tắc tương trợ Tư pháp quốc tế, khoản 2 Điều 4 Luật Tương trợ Tư pháp năm 2007 có khẳng định: “Irường hợp giữa Việt Nam và nước ngoài chưa có điều ước quốc tế về tương trợ tư pháp thì hoạt động tương trợ tư pháp được thực hiện trên nguyên tắc có đi có lại nhưng không trái pháp luật Việt
Nam, phù hợp với pháp luật và tập quán quốc tế.”
Trong quan hệ Tư pháp quốc tế, không ít trường hợp một nước đơn phương bãi bỏ việc áp dụng quy chế pháp lý đã được các bên thoả thuận dành cho công dân và pháp nhân của các bên hữu quan,
hạn chế hoặc gây thiệt hại quyền lợi của công dân và pháp nhân nước đó. Để đối phó lại, quốc gia có công dân và pháp nhân bị thiệt hại có quyển quyết định hạn chế hoặc khước từ lợi ích, quyền lợi của công dan va phap nhân của nước đã đơn phương bãi bỏ việc áp dụng quy chế pháp lý nói trên cư trú, hiện diện ở nước mình. Hành vi đối phó đó được gọi là biện pháp trả đũa hay biện pháp báo phục. Tổng hợp tất cả các quy định về việc cho phép áp dụng hành vi này được gọi là chế độ báo phục quốc. Việc áp dụng những biện pháp hạn chế đối với một quốc gia nước ngoài (qua việc hạn chế quyền, lợi ích của các tổ chức, thể nhân, pháp nhân của các quốc gia này) phải thực hiện phù hợp với các nguyên tắc của Luật quốc tế. Chế độ này được áp
dụng với tư cách là những biện pháp báo phục quốc và không thể bị coi là sự vi phạm nguyên tắc không phân biệt đối xử trong quan hệ quốc tế.
Tuy nhiên, việc áp dụng đến mức độ nào các chế độ nêu trên đối với người nước ngoài ở các nước là hoàn toàn phụ thuộc vào chế độ kinh tế - xã hội, lợi ích quốc gia và quan hệ giữa các quốc gia với nhau. Một điểm cần lưu ý là mặc dầu quy chế có đi có lại mang tính chất tiến bộ, thể hiện quyền bình đẳng trong quan hệ giữa các quốc gia, song trên thực tế quy chế này vẫn bị các cường quốc lợi dụng để duy trì sự bất bình đẳng trong quan hệ với các nước đang phát triển và kém phát triển.
2.3.4. Quụ chế đối xử ưu đãi đặc biệt
Đây là quy chế pháp lý đặc biệt được hình thành từ lâu và phát triển mạnh sau Đại chiến thế giới thứ hai và đôi khi được coi như là ngoại lệ của quy chế Đối xử Tối huệ quốc. Nội dung pháp lý của quy
chế này tập trung ở chế độ ưu đãi, thuận lợi về kinh tế, thương mại được áp dụng giữa hai nước hay một nhóm nước nhất định, mà không dành cho các nước thứ ba trong quan hệ tương tự.
Theo khuyến nghị của UNCTAD năm 1964, một quy chế ưu đãi _ đặc biệt cần được áp dụng trong quan hệ giữa các nước công nghiệp phát triển với các nước đang phát triển và giữa các nước đang phát triển với nhau. Các nước công nghiệp phát triển sẽ đơn phương
(không có đi có lại) dành cho các nước đang phát triển các ưu đãi và thuận lợi nhất định trong thương mại (chủ yếu là lĩnh vực thuế quan); đồng thời, các nước đang phát triển được quyền dành riêng cho nhau những ưu đãi, thuận lợi thương mại mà không mở rộng áp dụng cho các nước công nghiệp phát triển.
Dựa vào các quy định trong các văn bản điều ước quốc tế hai bên và nhiều bên, một Hệ thống wu dai pho chip (Generalized System of Preferences - GSP) da dugc thành lập năm 1968 và Hệ thong u đãi thương mại toàn câu giữa các nước đang phát triển (Global System of Trade Preferences - GSTP) được thành lập năm 1988. Các quy chế đối xử ưu đãi này và những công dụng của chúng đã tạo dựng ra những lợi ích đặc thù cho các nước đang phát triển trong quan hệ thương mại quốc tế ngày nay. Pháp luật một số nước cũng có những quy - định cụ thể về quy chế đối xử ưu đãi nói trên. Trong quan hệ thương mại giữa Việt Nam và Hoa Kỳ, theo quy định của Khoản 8 Điều 3
Chương I Hiệp định thương mại giữa hai nước, Hoa Kỳ cam kết sẽ
xem xét khả năng dành cho Việt Nam chế độ ưu đãi thuế quan phổ cập (GSP) khi đáp ứng đủ những điều kiện nhất định theo quy định của pháp luật Hoa Kỳ.
2.4. Địa vị pháp lý của người nước ngoài tại Việt Nam
Theo quy định tại Điều 3 Pháp lệnh nhập cảnh, xuất cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam năm 2000, người nước ngoài là
người không có quốc tịch Việt Nam. Họ có thể là người nước ngoài thường trú, tức là người nước ngoài cư trú, làm ăn, sinh sống lâu dài ở Việt Nam, và có thể là người nước ngoài tạm trú, tức là người nước
ngoài cư trú có thời hạn ở Việt Nam.
Địa vị pháp lý của cá nhân là người nước ngoài tại Việt Nam được xác định trên cơ sở các quy định của pháp luật Việt Nam và các điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc tham gia. Địa vị pháp lý đó được thể hiện ở chỗ cá nhân là người nước ngoài tại Việt Nam cùng một lúc phải chịu sự ràng buộc của hai chế độ pháp lý: chế độ pháp lý theo pháp luật của nước mà người đó có quốc tịch (hoặc định cư nếu người đó không có quốc tịch nước nào) và chế độ pháp lý
i
dành cho cá nhân là người nước ngoài theo quy định của pháp luật Việt Nam - pháp luật của nước người đó có mặt.
Đến nay, Việt Nam chưa có một đạo luật riêng về người nước ngoài hoặc về địa vị pháp lý của người nước ngoài tại Việt Nam. Do
vậy, các quyền và nghĩa vụ pháp lý của cá nhân là người nước ngoài tại Việt Nam được quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật khác nhau của Việt Nam. Tuy vậy, có thể xem xét địa vị pháp lý của cá nhân là người nước ngoài tại Việt Nam thông qua việc xem xét:
chế độ xuất cảnh, nhập cảnh, cư trú, đi lại của người nước ngoài tại Việt Nam; các quyển và nghĩa vụ pháp lý của họ tại Việt Nam, đặc
biệt là quyền năng chủ thể Tư pháp quốc tế của họ theo quy định của
pháp luật Việt Nam; các cơ chế thực thi và bảo vệ các quyền và nghĩa
vụ pháp lý của người nước ngoài tại Việt Nam và một số vấn đề pháp lý khác.
2.4.1. Chế độ xuất nhập cảnh, cư trú, đi lại
Theo quy định của Pháp lệnh nhập cảnh, xuất cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam năm 2000, Nhà nước CHXHCN Việt Nam tạo điều kiện thuận lợi đối với việc nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh của người nước ngoài; bảo hộ tính mạng, tài sản, quyền và lợi ích hợp pháp khác của người nước ngoài cư trú tại Việt Nam trên cơ sở pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế mà CHXHCN Việt Nam ký kết hoặc gia nhập. Người nước ngoài nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú tại Việt Nam phải tuân thủ pháp luật Việt Nam và tôn trọng truyền thống, phong tục, tập quán của nhân dân Việt Nam.
Nhà nước nghiêm cấm việc lợi dụng nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú tại Việt Nam để vi phạm pháp luật Việt Nam. Cơ quan, tổ chức Việt Nam, cơ quan, tổ chức nước ngoài và tổ chức quốc tế đặt tại Việt Nam, công dân Việt Nam và người nước ngoài cư trú hợp pháp ở
Việt Nam được mời người nước ngoài vào Việt Nam. Cơ quan, tổ chức, cá nhân mời người nước ngoài vào Việt Nam có trách nhiệm bảo đảm mục địch nhập cảnh của người nước ngoài; bảo đảm tài chính và cộng tác với các cơ quan Nhà nước Việt Nam giải quyết các sự cố phát sinh đối với người nước ngoài đó tại Việt Nam. Người