VA VIEC AP DUNG PHAP LUAT NUUC NGOAI
2.4. Dẫn chiếu ngược và dẫn chiếu đến pháp luật của nước thứ ba
(Renvoi au Premier derge - renvoi I va Renvoi au Second derge - renvoi II)
Dẫn chiếu ngược hay dẫn chiếu đến pháp luật của nước thứ ba là hiện tượng khi cơ quan có thẩm quyền nước A áp dụng quy phạm xung đột dẫn chiếu đến áp dụng pháp luật nước ngoài (nước B), nhưng pháp luật nước B lại quy định vấn để phải được giải quyết theo pháp luật nước A (gọi là dẫn chiếu ngược hoặc dẫn chiếu cấp độ 1) hoặc được giải quyết theo pháp luật của một nước thứ ba (nước C - _ dẫn chiếu cấp độ 2)!. '
Sở dĩ có hiện tượng dẫn chiếu trên là do sự xung đột giữa các hệ thuộc luật trong các quy phạm xung đột của các nước hoặc do sự khác nhau về cách giải thích hệ thuộc luật của các nước. Pháp luật một số nước như Anh, Pháp, Đức, Bi, Thụy Điển, Nhật... chấp nhận dẫn chiếu ngược, nhưng các nước như Hy Lạp, Hà Lan, Quebec... thi
1 Giáo trình Luật Tư pháp quốc tế, ThS. Bùi Thị Thu (Chủ biên), NXB. Gido duc Viét
' Nam, 2010. .
không chấp nhận. Pháp luật Việt Nam chấp nhận dẫn chiếu ngược,
cụ thể, tại Khoản 3 Điều 759 Bộ luật Dân sự Việt Nam 2005 quy định:
".. tường hợp pháp luật nước đó dẫn chiếu trở lại pháp luật Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thì áp dụng pháp luật Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam”. Đối với trường hợp dẫn chiếu đến pháp luật của nước thứ ba trên thực tế rất hiếm gặp và Tư pháp quốc tế Việt Nam cũng chưa có quy định nào về vấn đề này.
Theo một số học thuyết và thực tiễn Tư pháp quốc tế của một số nước, có hai lĩnh vực sau không chấp nhận dẫn chiếu:
Thứ nhất là đối với các quy phạm xung đột trong các điều ước quốc tế. Khi các quy phạm xung đột trong điều ước quốc tế dẫn chiếu đến một hệ thống nhất luật thì tức là dẫn chiếu đến luật nội dung, luật thực chất của hệ thống luật này mà không dẫn chiếu đến luật xung đột nên không có hiện tượng dẫn chiếu.
Thứ hai là trong lĩnh vực hợp đồng. Lĩnh vực hợp đồng không chấp nhận dẫn chiếu bởi các quy định lựa chọn luật áp dụng trong hợp đồng là "sự thống nhất ý chí của các bên". Nếu chấp nhận dẫn
chiếu trong lĩnh vực này sẽ làm "đảo lộn dự tính của các bên khi họ thỏa thuận chọn luật áp dụng cho hợp đồng"...
2.5. Lẩn tránh pháp luật (fraus legi facta)
Lẩn tránh pháp luật là hiện tượng đương sự dùng những biện
pháp cùng thủ đoạn để thoát khỏi hệ thống pháp luật đáng nhẽ phải được áp dụng để điều chỉnh các quan hệ của họ và nhắm tới một hệ thống pháp luật khác có lợi hơn cho mình?. Một số biện pháp, thủ đoạn mà đương sự thường sử dụng bao gồm: thay đổi quốc tịch, thay đổi nơi cư trú, thay đổi nơi thành lập công ty, nơi giao kết hợp đồng, thay đổi nơi kết hôn, ly hôn, thay đổi tài sản từ bất động sản thành động sản...
1 Tự pháp quốc tế Việt Nam, TS. Đỗ Văn Đại, PGS.TS. Mai Hồng Quỳ, NXB. Chính trị Quốc gia, 2010.
2 Giáo trình Tư pháp quốc t Đại học Luật Hà Nội, 2010.
Tư pháp các nước đều coi đây là một hiện tượng không bình thường và tìm cách hạn chế hoặc ngăn cấm hiện tượng này. Việc xác định hành vi lẩn tránh pháp luật là rất khó, chủ yếu dựa trên hai yếu
tố sau: Si
Thứ nhất là đương sự đã thực hiện trên thực tế các hành vi thay đổi quốc tịch, nơi cư trú, nơi kết hôn...
Thứ hai, sự thay đổi các dấu hiệu nhằm mục đích duy nhất là lấn tránh pháp luật.
Hiện nay, hành vi lấn tránh pháp luật gồm hai loại: (¡) lấn tránh pháp luật Việt Nam để được áp dụng pháp luật nước ngoài; (ii) lấn tránh việc áp dụng pháp luật nước ngoài để được áp dụng pháp luật Việt Nam. Việc áp dụng pháp luật nước ngoài tại Việt Nam còn hạn chế, nên Tòa án thường áp dụng pháp luật Việt Nam trong các vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài. Do đó, thực tiễn giải quyết tại Việt Nam có xu hướng chấp thuận hành vi này.