CHU THỂ CỦA TƯ PHÁP QUỐC TẾ
Điều 86 Điều 86 của Bộ luật Dân sự năm 2005. Theo quy định tại Điều 86 của
4.2.1. Quyên miễn trừ uê tài phán
Quyền này được hiểu là nếu không có sự đồng ý của quốc gia, tổ chức quốc tế thì không một Toà án tư pháp của một nước nào có thẩm quyền xét xử quốc gia, tổ chức quốc tế đó chỉ vì có người đã kiện đến quốc gia, tổ chức quốc tế cụ thể này. Nội dung quyền miễn trừ này bắt nguồn từ một quy tắc có từ thời La Mã cổ đại là “Par in parem non habet Jurisdictionem” (những người ngang hàng nhau
không có quyền tài phán đối với nhau). Ngoài ra, nó cũng có nghĩa
là, nếu một quốc gia, tổ chức quốc tế bị tổ chức, cá nhân của một nước ngoài kiện đến một cơ quan tài phán về một vấn đề nào đó, thì việc kiện đó sẽ không có giá trị (nếu quốc gia, tổ chức quốc tế bác bỏ nó). Nếu vì một lý do nào đó mà tòa án tư pháp nước này nhận đơn kiện quốc gia, tổ chức quốc tế khác, thì Toà án nước này không được thụ lý vụ việc đó, không được đưa ra xem xét vụ tranh chấp phát sinh. Quyền miễn trừ tư pháp này xuất hiện từ lâu. Thực tiễn tư pháp các nước đều khẳng định rộng rãi quyền miễn trừ tư pháp của quốc gia, tổ chức quốc tế.
4.2.2. Quyền tiễn trừ uề đảm bảo sơ bộ cho uụ kiện
Nội dung của quyền này được thể hiện ở chỗ, nếu không có sự
đồng ý của quốc gia, tổ chức quốc tế thì không một Toà án nước nào, quốc gia nào được áp đặt bất cứ một biện pháp cưỡng chế nào, như
bắt giữ tài sản, tịch thu tài sản của quốc gia, tổ chức quốc tế khác để
đảm bảo cho việc xét xử sơ thẩm vụ kiện. Ở đây cũng cần chú ý ngay
cả khi quốc gia, tổ chức quốc tế chấp thuận từ bỏ quyển miễn trừ tư pháp của mình, thì các biện pháp cưỡng chế không vì thế mà được áp dụng một cách tuỳ tiện, trái cả quy tắc lễ nhượng quốc tế. Việc một Toà án một nước áp đặt các biện pháp cưỡng chế đối với tài sản của quốc gia, tổ chức quốc tế khác khi quốc gia, tổ chức quốc tế đó không cho phép là hoàn toàn trái với nguyên tắc về quyển miễn trừ của quốc gia, tổ chức quốc tế, trái cả quy tắc lễ nhượng quốc tế.
4.2.3. Quyên triễn trừ uề thi hành án
Theo nội dung của quyền này, nếu không có sự đồng ý của quốc gia, tổ chức quốc tế thì không thể cưỡng chế, thi hành bản án, quyết định tư pháp nhằm chống lại quốc gia, tổ chức quốc tế đó. Ngay cả khi có sự đồng ý của quốc gia, tổ chức quốc tế về vấn đề xét xử hay thi hành án thì việc xét xử hay thi hành bản án đó ở nước ngoài đối với quốc gia, tổ chức quốc tế đều phải theo thể thức và trình tự tố tụng nhất định phù hợp với thông lệ quốc tế về việc này.
4.2.4. Quyên miễn trừ đối uới tài sản thuộc sử hữu của quốc gia, tổ chức quốc tế
Theo nội dung về vấn đề này, tài sản của quốc gia, tổ chức quốc tế ở nước ngoài là bất khả xâm phạm. Nếu không có sự đồng ý của quốc gia, tổ chức quốc tế, tức chủ sở hữu khối tài sản thì các quốc gia, tổ chức và tư nhân nước ngoài không được thi hành bất cứ biện pháp cưỡng chế nào (như bắt giữ, tịch thu, tịch biên, bản đấu giá)... đối với tài sản của quốc gia, tổ chức quốc tế đó.
Tất cả các loại quyền miễn trừ nêu trên đều liên quan chặt chẽ với nhau, bởi vì chúng đều có một cơ sở chung, là chủ quyền quốc gia hoặc thỏa thuận ý chí tập thể của các quốc gia, chính phủ có chủ quyền, về việc không cho phép dùng bất cứ biện pháp cưỡng chế nào
trong việc xét xử và thi hành những vụ án liên quan tới quốc gia, tổ chức quốc tế. Việc áp dụng bất kỳ một hành vi nào như vậy đối với
một quốc gia, tổ chức quốc tế đều vi phạm nguyên tắc cơ bản của pháp luật quốc tế hiện đại.
4.3. Chế độ pháp lý của các hợp đồng dân sự, kinh tế, thương mại do Nhà nước ký kết
_ Theo quy định tại Luật Đầu tư năm 2005, loại hợp đồng dân sự,
kinh tế, thương mại do Nhà nước ký khá phổ biến ở nước ta là Hợp
đồng xây dựng - chuyển giao - kinh doanh (Hợp đồng BTO), Hợp đồng xây dựng - chuyển giao (Hợp đồng BT). Hợp đồng BOT là hợp đồng được ký giữa cơ quan Nhà nước có thẩm quyền và nhà đầu tư để xây dựng, kinh doanh công trình kết cấu hạ tầng trong một thời hạn nhất định; hết thời hạn, nhà đầu tư chuyển giao không bồi hoàn công trình đó cho Nhà nước Việt Nam. Hợp đồng BTO là hợp đồng được ký giữa cơ quan Nhà nước có thẩm quyền và nhà đầu tư để xây dựng công trình kết cấu hạ tầng; sau khi xây dựng xong, nhà đầu tư chuyển giao công trình đó cho Nhà nước Việt Nam; Chính phủ dành . cho nhà đầu tư quyền kinh doanh công trình đó trong một thời hạn nhất định để thu hồi vốn đầu tư và lợi nhuận. Hợp đồng BT là hợp
đồng được ký giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền và nhà đầu tư để xây dựng công trình kết cấu hạ tầng; sau khi xây dựng xong, nhà đầu tư chuyển giao công trình đó cho Nhà nước Việt Nam; Chính phủ tạo điều kiện cho nhà đầu tư thực hiện dự án khác để thu hồi vốn đầu tư và lợi nhuận hoặc thanh toán cho nhà đầu tư theo thoả thuận trong hợp đồng BT. Nhà đầu tư ký kết hợp đồng BOT, hợp đồng BTO và hợp đồng BT với cơ quan nhà nước có thẩm quyền để
thực hiện các dự án xây dựng mới, mở rộng, hiện đại hóa và vận
hành các dự án kết cấu hạ tầng trong lĩnh vực giao thông, sản xuất và
kinh doanh điện, cấp thoát nước, xử lý chất thải và các lĩnh vực khác do Thủ tướng Chính phủ quy định.
Chế độ pháp lý của các hợp đồng này tuân theo các quy định của pháp luật Việt Nam liên quan. Tuy vậy, đối với các hợp đồng BOT, hợp đồng BTO và hợp đồng BT có yếu tố nước ngoài, thì một số quy định của pháp luật nước ngoài cũng có thể được chấp nhận áp dụng trong những điều kiện cụ thể đối với một số vấn đề cụ thể.
Để thiết kế, xây dựng, vận hành, quản lý Công trình Dự án BOT,
BTO, BT va để thực hiện Dự án khác, nhà đầu tư phải thành lập Doanh nghiệp BOT, Doanh nghiệp BTO, Doanh nghiệp BT. Doanh
nghiệp BOT và Doanh nghiệp BTO được thành lập và hoạt động theo quy định của Luật Doanh nghiệp năm 2005 và các quy định pháp luật khác liên quan. Quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia hợp đồng , được xác định rõ trong chính hợp đồng trên cơ sở các quy định liên quan của pháp luật Việt Nam. Ngoài ra, Doanh nghiệp BOT và
Doanh nghiệp BTO được hưởng các ưu đãi về thuế thu nhập doanh
nghiệp theo quy định của pháp luật vế thuế thu nhập doanh nghiệp.
Hàng hóa nhập khẩu để thực hiện Dự án của Doanh nghiệp BOT,
Doanh nghiệp BTO và của các nhà thầu được hưởng ưu đãi theo quy
-_ định của pháp luật về thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu. Doanh nghiệp BOT và Doanh nghiệp BTO được miễn tiền sử dụng đất đối với diện
tích đất được Nhà nước giao hoặc được miễn tiển thuê đất trong toàn bộ thời gian thực hiện Dự án.
- Doanh nghiệp BT và các nhà thầu theo quy định được hưởng ưu đãi về thuế nhập khẩu đối với hàng hóa nhập khẩu để xây dựng Công trình BT theo quy định của pháp luật về thuế xuất khẩu, thuế
nhập khẩu; Thuế nhập khẩu đối với hàng hóa nhập khẩu để thực
hiện Dự án khác được áp dụng theo quy định của pháp luật về thuế
xuất khẩu, thuế nhập khẩu. Doanh nghiệp BT được miễn tiền thuê đất, tiền sử dụng đất đối với diện tích được sử dụng để xây dựng Công trình BT trong thời gian xây dựng công trình; Thuế thu nhập doanh nghiệp đối với Dự án khác được áp dụng tùy thuộc vào lĩnh vực và địa bàn đầu tư phù hợp với quy định của pháp luật về đầu tư và pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp..
- Pháp luật Việt Nam cũng quy định, trong trường hợp cần thiết và tùy theo tính chất Dự án, Chính phủ chỉ định cơ quan có thẩm quyền bảo lãnh vốn vay, cung cấp nguyên liệu, tiêu thụ sản phẩm và các nghĩa vụ hợp đồng khác cho Nhà đầu tư, Doanh nghiệp dự án.
_ hoặc các doanh nghiệp khác tham gia thực hiện Dự án và bảo lãnh
nghĩa vụ của các doanh nghiệp Nhà nước bán nguyên liệu, mua sản phẩm, dịch vụ của Doanh nghiệp dự án. Doanh nghiệp dự án được cầm cố, thế chấp các tài sản và quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật. Việc cầm cố, thế chấp tài sản của Doanh nghiệp dự án phải được sự chấp thuận của cơ quan nhà nước có thẩm quyền và không
làm ảnh hưởng đến mục tiêu, tiến độ và hoạt động của Dự án theo
quy định tại Hợp đồng dự án và phù hợp với quy định của pháp luật.
Trong quá trình xây dựng và kinh doanh công trình, Nhà đầu tư hoặc `
Doanh nghiệp dự án được mua ngoại tệ tại tổ chức tín dụng được phép hoạt động ngoại hối để đáp ứng các giao dịch vãng lai, giao dịch vốn và các giao dịch khác theo quy định của pháp luật về quản lý ngoại hối, gồm: chỉ trả tiền thuê thiết bị, máy móc từ nước ngoài;
nhập khẩu máy móc, thiết bị và các sản phẩm, dịch vụ khác để thực hiện Dự án; thanh toán các khoản nợ (gồm cả nợ gốc và lãi) vay nước ngoài; thanh toán các khoản nợ (gồm cả nợ gốc và lãi) vay ngân hàng bằng ngoại tệ để nhập khẩu máy móc, thiết bị và các sản phẩm, dich vụ khác để thực hiện Dự án; chuyển vốn, lợi nhuận, các khoản thanh lý đầu tư, các khoản thanh toán cho việc cung cấp kỹ thuật, dịch vụ, sở hữu trí tuệ và các khoản thu nhập hợp pháp khác ra nước ngoài
(áp dụng đối với Nhà đầu tư nước ngoài). Chính phủ bảo đảm cân
đối hoặc hỗ trợ cân đối ngoại tệ đối với một số Dự án quan trọng trong lĩnh vực năng lượng, xây dựng công trình giao thông và xử lý
chất thải. :
Doanh nghiệp dự án cũng được sử dụng đất dai, đường giao thông và các công trình phụ trợ khác để thực hiện Dự án theo quy định của pháp luật. Trường hợp có khan hiểm về dịch vụ công ích
hoặc có hạn chế về đối tượng được sử dụng công trình công cộng, Doanh nghiệp dự án được ưu tiên cung cấp các dịch vụ hoặc được ưu tiên cấp quyền sử dụng các công trình công cộng để thực hiện Dự án.
Cơ quan nhà nước có thẩm quyền chịu trách nhiệm hỗ trợ Doanh nghiệp dự án thực hiện các thủ tục cần thiết để được phép ưu tiên sử
dụng dịch vụ và các công trình công cộng.