VA VIEC AP DUNG PHAP LUAT NUUC NGOAI
I. KHÁI NIỆM VỀ XUNG ĐỘT PHÁP LUẬT
Đối tượng điều chỉnh của Tư pháp quốc tế là các quan hệ dân sự, kinh tế, thương mại, hôn nhân và gia đình, lao động có yếu tố nước ngoài. Vì vậy, các quan hệ Tư pháp quốc tế thường liên quan đến nhiều hệ thống pháp luật. Nếu các quốc gia hữu quan chưa ký kết với nhau điều ước quốc tế về nguyên tắc áp dụng pháp luật thì có thể phát
sinh hiện tượng là cùng một quan hệ Tư pháp quốc tế sẽ có nhiều hệ thống pháp luật tham gia điều chỉnh. Hiện tượng này, trong khoa học Tư pháp quốc tế, được gọi là xung đột pháp luật (conflict of lau). Ví dụ:
Một thương nhân Việt Nam giao kết hợp đồng mưa bán ngoại
thương với thương nhân Nhật Bản, việc giao kết hợp đồng được thực hiện tại Ấn Độ. Xung đột pháp luật có thể xảy ra nếu cả pháp luật Việt Nam, pháp luật Nhật Bản hoặc/và pháp luật Ấn Độ đều tham gia điều chỉnh quan hệ hợp đồng trên.
Tóm lại, xung đột pháp luật là hiện tượng có hai hay nhiều hệ thống pháp luật cùng tham gia điều chỉnh một quan hệ Tư pháp quốc tế cụ thể và giữa các hệ thống pháp luật này có sự khác biệt về các quy định khi giải quyết vấn dé nay. Do vậy, vấn đề đặt ra là, cần phải áp dụng hệ thống pháp luật nước nào để điều chỉnh quan hệ pháp luật đó.
1.2. Nguyên nhân phát sinh xung đột pháp luật
Hiện tượng xung đột pháp luật thường phát sinh bởi hai nguyên nhân chủ yếu sau đây:
Do có sự khác nhau giữa pháp luật của các quốc gia;
Do tính chất đặc thù trong chính đối tượng điều chỉnh của Tư pháp quốc tế.
1.2.1. Sự khác nhau giữa pháp luật của các quốc gia
Pháp luật là một hiện tượng vừa mang tính giai cấp vừa thể hiện tính xã hội. Vì vậy, pháp luật có mối quan hệ hết sức biện chứng với
kinh tế, chính trị, đạo đức và Nhà nước. Chế độ kinh tế của mỗi nước;
đường lối chính sách của mỗi giai cấp thống trị; những quan niệm, quan điểm của mỗi cộng đồng, mỗi giai cấp về cái thiện, cái ác, về sự
công bằng, nghĩa vụ, danh dự và về những phạm trù khác thuộc đời sống tỉnh thần của xã hội đều rất khác nhau, thậm chí trái ngược nhau.
Với tư cách là một thành tố của thượng tầng kiến trúc và là công cụ cơ bản điều chỉnh các quan hệ xã hội, pháp luật ở mỗi nước và mỗi
khu vực trên thế giới được quyết định bởi các quan hệ kinh tế - xã
hội, bởi đường lối chính trị của mỗi giai cấp cầm quyền, bởi hệ thống đạo đức, truyền thống lịch sử, tôn giáo, v.v. Đồng thời, đặc điểm kinh tế, chính trị, xã hội, văn hoá, tôn giáo... rất không giống nhau đã tạo nên sự khác nhau về pháp luật, kể cả nội dung lẫn ngôn ngữ pháp lý.
Ví dụ: Pháp luật các nước Anh, Pháp, Mỹ... cho phép cá nhân được
-_ quyền sở hữu đất đai, nhưng pháp luật các nước theo chế độ XHCN (Việt Nam, Trung Quốc...) chỉ công nhận quyền sử dụng của cá nhân đối với loại tài sản này; pháp luật các nước phát triển thường quy định hình thức của hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế có thể được giao kết bằng văn bản hoặc bằng miệng, trong khi đó pháp luật Việt
Nam, Trung Quốc chỉ cho phép giao kết hợp đồng đó bằng văn bản.
Về điều kiện kết hôn, Luật Hôn nhân và gia đình ở mỗi nước cũng có
những quy định khác nhau. Ngay cả khi một thuật ngữ được dùng ở
hai hệ thống pháp luật khác nhau thì cũng có thể được hiểu theo hai - nghĩa khác nhau. Ví dụ: thuật ngữ “equity” theo cách hiểu của hệ
thong phap luat common law có nghĩa là công bằng, còn theo cách hiểu của các luật gia Pháp thì lại có nghĩa là nguyên tắc quyền tự quyết của toa an, v.v.
Vì vậy, trong điều kiện tồn tại các quốc gia có chế độ chính trị, kinh tế - xã hội, văn hoá, lịch sử... khác nhau, thì việc quy định phương thức, nội dung điều chỉnh các quan hệ dân sự - kinh tế -
thương mại, quan hệ hôn nhân và gia đình, quan hệ lao động, quan hệ tố tụng dân sự cũng sẽ khác nhau và sự khác nhau đó là một trong
những nguyên nhân chủ yếu làm phát sinh xung đột pháp luật.
1.2.2. Tính chất đặc thù trong đối tượng điều chỉnh của Tư pháp quốc tế
Đối tượng điểu chỉnh của Tự pháp quốc tế là các quan hệ mang tính chất dân sự có yếu tố nước ngoài. Vì vậy, dù muốn hay không thì các quan hệ Tư pháp quốc tế thường liên quan đến nhiều hệ thống
pháp luật khác nhau và có thể phải chịu sự điều chỉnh của các hệ
thống pháp luật đó, do vậy dẫn đến xung đột pháp luật.
Xung đột pháp luật chỉ phát sinh từ các quan hệ dân sự - kinh tế - thương mại, lao động, hôn nhân và gia đình. Tuy nhiên, cũng có một số các quan hệ trong lĩnh vực dân sự không làm phát sinh xung đột pháp luật. Ví dụ như: các quan hệ về quyền tác giả và quyền sở hữu công nghiệp là những quan hệ pháp luật mang tính chất lãnh thổ triệt để: quyền sở hữu trí tuệ xuất hiện ở nước nào thì chỉ có hiệu lực pháp luật tại nước đó, không thể áp dụng luật về sở hữu trí tuệ của nước này tại nước khác được.
Đối với các quan hệ pháp luật trong lĩnh vực hình sự, hành chính, tố tụng là những lĩnh vực mang tính chất tuyệt đối về lãnh thổ, thì vấn để xung đột pháp luật hầu như không được đặt ra. Riêng trong lĩnh vực tố tụng dân sự, chỉ phát sinh các xung đột pháp luật về thẩm quyền.
1.3. Phương pháp giải quyết xung đột pháp luật
Phương pháp giải quyết xung đột pháp luật là việc các quốc gia lựa chọn một hệ thống pháp luật nào đó để áp dụng giải quyết một
quan hệ pháp luật phát sinh. Xung đột pháp luật thường được giải quyết bằng hai phương pháp chủ yếu: áp dụng các quy phạm pháp luật thực chất (phương pháp thực chất) và áp dựng các quy phạm pháp luật xung đột (phương pháp xung đột). Mỗi phương pháp có
những ưu thế và hạn chế nhất định, tác động hỗ trợ, bổ sung cho nhau.
1.3.1. Phương pháp thực chất (áp dụng các quy phạm pháp luật thực chất) Phương pháp thực chất được xây dựng trên cơ sở hệ thống các quy phạm thực chất trực tiếp giải quyết các quan hệ dân sự quốc tế.
Cùng với quy phạm pháp luật xung đột, quy phạm thực chất là một trong hai thành tố cơ bản của hệ thống quy phạm Tư pháp quốc tế.
Quy phạm thực chất là quy phạm pháp luật trực tiếp quy định quyền và nghĩa vụ của các bên chủ thể tham gia quan hệ Tư pháp quốc tế.
Quy phạm thực chất bao gồm: quy phạm thực chất thống nhất và quy phạm thực chất thông thường.
Quy phạm thực chất thống nhất là quy phạm được các bên thống nhất quy định trong các điều ước quốc tế, ví dụ như: Công ước Paris 1883 về bảo hộ sở hữu công nghiệp, Công ước Berne 1886 vé bảo hộ quyền tác giả, Công ước Viên 1980 về hợp đồng mua bán hàng hóa... hoặc trong các điều ước quốc tế song phương. Ví dụ I:
“Công dân mỗi nước ký kết có quyên tự do liên hệ uới Tòa án, Viện kiểm sát, cơ quan công chứng oà các cơ quan có thẩm quyên của nước ký kết kia uề cic van đề được quy định trong Hiệp định. Đông thời, họ cũng có quyển dua don kién, dé dat nguyén vong va bàu tỏ 9 kiến trước các cơ quan đó theo cùng những điều kiện trà nước đó dành cho công dân của mình” (Khoản 2