Việc tổ chức kết hôn và nghỉ thức kết hôn được xác định theo

Một phần của tài liệu Giáo trình tư pháp quốc tế (2) (Trang 95 - 105)

VA VIEC AP DUNG PHAP LUAT NUUC NGOAI

2. Việc tổ chức kết hôn và nghỉ thức kết hôn được xác định theo

pháp luật của nước ký kết nơi tiến hành kết hôn” (Điều 23 Hiệp định tương trợ tư pháp Việt Nam - Cu Ba).

Các ví dụ nêu trên cho thấy rằng, quy phạm xung đột là quy phạm pháp luật đặc biệt, không trực tiếp quy định quyền và nghĩa vụ của các bên chủ thể tham gia quan hệ Tư pháp quốc tế, mà nó chỉ ra việc áp dụng pháp luật của một nước nào đó nhằm điều chỉnh một

quan hệ Tư pháp quốc tế nhất định.

Cần nhấn mạnh là, quy phạm xung đột pháp luật quy định việc

áp dụng hệ thống pháp luật của một nước nhất định để điều chỉnh

các quan hệ dân sự - kinh tế - thương mại hoặc quan hệ lao động, hay quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài, chứ không quy định việc chọn một đạo luật hoặc một quy phạm pháp luật riêng lẻ.

2.2. Cấu trúc của quy phạm pháp luật xung đột

Khác với các quy phạm pháp luật thông thường, quy phạm xung đột chỉ gồm hai phần cấu thành: “phần phạm vi” (phần định danh

một quan hệ) và “phần hệ thuộc” (phần xác định nguyên tắc chọn

luật áp dụng). Phần phạm vi của quy phạm xung đột chỉ ra quan hệ xã hội sẽ được điều chỉnh bởi quy phạm xung đột đó; còn phần hệ thuộc của quy phạm xung đột chỉ ra hệ thống pháp luật được áp dụng để điều chỉnh quan hệ xã hội được nêu trong phần phạm vi (priviazka, point d’attachement, anknupfungsmoment, point of contact, momneto di collegamento).

Vi du: “Thtra ké theo phap luat phai tuan theo phap luat cua nước mà người để lại di sản thừa kế có quốc tịch trước khi chết.”

(Khoản 1 Điều 767 Bộ luật Dân sự năm 2005).

| Trên đây là một quy phạm xung đột mà ph phạm ơi là “thừa kế theo pháp luật”, còn phẩn hệ thuộc là “phải tuân theo pháp luật của nước mà người để lại di sản thừa kế có quốc tịch trước khi chết”.

Các bộ phận cấu thành quy phạm xung đột mang các đặc điểm đáng chú ý sau đây:

- Cùng một phạm vi nhưng có thể được điều chỉnh bởi nhiều hệ.

thuộc khác nhau;

- Một hệ thuộc có thể được áp dụng để điều chỉnh nhiều phạm vi

khác nhau. - |

Ví dụ 1: Về năng lực hành vi dân sự của người nước ngoài, Bộ luật Dân sự Việt Nam 2005 (Điều 762) quy định như sau: Năng lực hành vi : dân sự của cá nhân là người nước ngoài được xác định theo pháp luật của nước mà người đó là công dân, trừ trường hợp pháp luật Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam có quy định khác. Trong trường hợp

người nước ngoài xác lập, thực hiện các giao dịch dân sự tại Việt Nam thi năng lực hành vi dân sự của người nước ngoài được xác định theo

pháp luật Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Ví dụ 2: Theo Khoản 1 Điều 769 Bộ luật Dân sự Việt Nam 2005,

thì “Quyển và nghĩa vụ của các bên theo hợp đồng được xác định theo pháp luật của nước nơi thực hiện hợp đồng, nếu không có thoả

thuận khác. Hợp đồng được giao kết tại Việt Nam và thực hiện hoàn _ toàn tại Việt Nam thì phải tuân theo pháp luật Cộng hoà xã hội chủ

nghĩa Việt Nam”. :

Như vậy, qua hai ví dụ nêu trên có thể thấy rằng, để điều chỉnh một quan hệ (phạm vi) - năng lực hành vi dân sự của người nước

ngoài - Bộ luật Dân sự Việt Nam cho phép áp dụng tới ba hệ thống

pháp luật (ba hệ thuộc) khác nhau: luật quốc tịch, luật nơi cư trú và

pháp luật Việt Nam. Còn để điều chỉnh quan hệ sở hữu thì cũng có

thể áp dụng các hệ thuộc: luật nơi có tài sản, pháp luật Việt Nam,...

2.3. Các hệ thuộc luật cơ bản

Hệ thuộc luật (Rattachement) là các yếu tố để gắn kết một hệ thống pháp luật với một quan hệ pháp luật nhất định, khi một quan hệ pháp lý phát sinh có liên quan đến nhiều hệ thống pháp luật khác

nhau. Nói một cách đơn giản, hệ thuộc luật là các nguyên tắc chọn

luật áp dụng của Tư pháp quốc tế. Mỗi quy phạm xung đột có phần

hệ thuộc riêng của mình. Vì vậy, có bao nhiêu quy phạm xung đột thì có bấy nhiêu hệ thuộc luật. Tuy nhiên, các hệ thuộc luật cơ bản sau

đây thường được áp dụng nhằm điều chỉnh các quan hệ Tư pháp quốc tế:

2.3.1. Hệ thuộc luật nhân thân (lex personalis)

Luật nhân thân là luật liên quan đến nhân thân của một con người. Hệ thuộc luật nhân thân thường được áp dụng để điều chỉnh

các quan hệ về hôn nhân và gia đình (ví dụ: điều kiện kết hôn), quan

hệ thừa kế (đối với di sản thừa kế là động sản), quan hệ hợp đồng (tư

cách chủ thể tham gia giao kết hợp đồng), xác định năng lực pháp luật và năng lực hành vi của cá nhân,v.v.

Luật nhân thân bao gồm: Luật quốc tịch (lex patriae hay lex nationalis) va luat noi cu tru (lex domicilii).

¡. Luật quốc tịch (lex patriae hay Lex nafionalis) là pháp luật của nước mà đương sự mang quốc tịch.

Ví dụ: “Về điều kiện kết hôn, mỗi bên đương sự phải tuân theo pháp luật của nước ký kết mà người đó là công dân“”1!; hoặc “Năng

lực lập di chúc, thay đổi và huỷ bỏ di chúc phải tuân theo pháp luật

của nước mà người lập di chúc là công dân”?. |

Hệ thuộc luật quốc tịch lần đầu tiên được quy định trong Bộ luật Dân sự của Pháp (1804) và sau đó được thừa nhận rộng rãi ở các nước Tây Âu lục địa khác, như: Đức, Italia, Bi, Thuy Sỹ, Pháp...

ii. Luat noi cw tru (lex domicilii) la phap luat của quốc gia nơi đương sự cư trú.

Ví dụ: “Nếu vợ chồng không cùng quốc tịch, pháp luật áp dụng là pháp luật của nước ký kết nơi họ đang thường trú hoặc đã cùng thường trú lần cuối cùng...”3; hoặc “Trong trường hợp Bộ luật này hoặc các văn bản pháp luật khác của Cộng hoà xã hoà xã hội chủ

nghĩa Việt Nam dẫn chiếu đến việc áp dụng pháp luật của nước mà người nước ngoài là công dân thì pháp luật áp dụng đối với người không quốc tịch là pháp luật của nước nơi người đó cư trú...”4.

Hệ thuộc luật nơi cư trú thường được áp dụng ở Hoa Kỳ, Anh và một số nước châu Mỹ - Latinh như Achentina, Bra-xin, Bolivia, Paragoay, Peru, Guxtemala, Nicaragoa...

2.3.2. Hệ thuộc luật quốc tịch của pháp nhân (lex societafis)

Luật quốc tịch của pháp nhân là pháp luật của nước mà pháp

nhân thành lập hoặc nơi pháp nhân có trụ sở chính. Luật quốc tịch

! Khoản 2 Điều 23 Hiệp định tương trợ tư pháp Việt Nam-Ba Lan năm 1993.

# Khoản 1 Điều 768, BLDS 2005.

? Khoản 2 Điều 24, Hiệp định tương trợ tư pháp Việt Nam-Ba Lan năm 1993.

* Khoản 1 Điều 760 BLDS năm 2005.

của pháp nhân thường được áp dụng để xác định năng lực pháp luật của pháp nhân, xác định tư cách chủ thể của pháp nhân...

Ví dụ: “Năng lực pháp luật dân sự của pháp nhân nước ngoài được xác định theo pháp luật của nước nơi pháp nhân đó được thành lập, trừ trường hợp quy định tại Khoản 2 Điều này”1,

2.3.3. Hệ thuộc luật noi cé tai san (lex rei sitae)

Luật nơi có tài sản là pháp luật của nước nơi tài sản thực tế tồn tại. Ví dụ: “Hợp đồng liên quan đến bất động sản ở Việt Nam phải tuân theo pháp luật Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam”?; hoặc

“Quyền thừa kế đối với bất động sản phải tuân theo pháp luật của nước nơi có bất động sản đó.”3.

Hệ thuộc luật nơi có tài sản là một trong những hệ thuộc ra đời sớm nhất trong Tư pháp quốc tế. Thời kỳ đầu, nó thường được áp dụng để giải quyết xung đột pháp luật phát sinh từ quan hệ Tư pháp quốc tế mà đối tượng là bất động sản. Ngày nay, lex rei sitae được áp dụng để điều chỉnh các quan hệ Tư pháp quốc tế mà đối tượng bao

gồm cả động sản và bất động sản. Bộ luật Dân sự Việt Nam quy định:

“Việc phân biệt tài sản là động sản hoặc bất động sẩn được xác định theo pháp luật của nước nơi có tài sản.” (Khoản 3 Điều 766 BLDS năm 2005).

Hệ thuộc luật nơi có tài sản được quy định trong các Công ước

La Haye nhằm điều chỉnh quan hệ giữa vợ và chồng (Điều VIIIJ, vấn

đề mất năng lực hành vi (Điều XII Khoản 2), quan hệ giám hộ đối với

vị thành niên (Điều VI.

Các Hiệp đỉnh tương trợ tư pháp giữa Việt Nam với nước ngoài cũng áp dung hé thudc lex rei sitae: với Nga (Khoản 2 Điều 34; Khoản 2 Điều 39), với Ba Lan (Khoản 2 Điều 37; Khoản 2 Điều 41), với Lào

`. Khoản 1 Điều 765 BLDS năm 2005.

?. Khoản 2 Điều 769 BLDS năm 2005.

?- Khoản 2 Điều 767 BLDS năm 2005.

*- Công ước La Haye ngày 17/7/1905.

Ÿ _ Công ước La Haye ngày 17/7/1905.

* Công ước La Haye ngày 12/6/1902.

(Khoản 2 Điều 21; Điều 22; Khoản 2 và 3 Điều 36), với Hungari (Khoản 2 Điều 43), v.v.

Như vậy, hệ thuộc luật nơi có tài sản thường được áp dụng để

giải quyết xung đột pháp luật phát sinh trong các lĩnh vực về sở hữu, thừa kế, hợp đồng... có yếu tố nước ngoài.

_2.3.4. Hệ thuộc luật toa dn (lex fori)

Luật tòa án là pháp luật của nước có tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ án. Trong khoa học pháp lý nói chung và ở Việt Nam nói riêng, luật tòa án thường được hiểu theo hai nghĩa: theo nghĩa rộng là bao gồm cả luật hình thức và luật nội dung; theo nghĩa hẹp thì chỉ bao gồm luật hình thức (luật tố tụng).

Ví dụ: Về vấn đề ly hôn, “nếu một người cư trú trên lãnh thổ của Bên ký kết này, còn người kia cư trú trên lãnh thổ của Bên ký kết kia thì áp dụng pháp luật của bên ký kết có tòa án đang giải quyết việc ly hôn”!.

Hệ thuộc luật tòa án thường được áp dụng trong lĩnh vực tố

tụng dân sự - kinh tế - thương mại có yếu tố nước ngoài. Nó còn

được áp dụng để điều chỉnh các quan hệ phát sinh trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình.

2.3.5. Hệ thuộc luật nơi thực hiện hành 0i (lex loci actus)

Luật nơi thực hiện hành vi là pháp luật của nước nơi thực hiện một hành vi pháp lý. Hệ thuộc này bao gồm các hình thức như sau:

i. Luật nơi giao kết hợp đồng (lex loci cơntracfuas) là pháp luật của nước nơi hợp đồng được giao kết.

Ví dụ: “Hình thức của hợp đồng phải tuân theo pháp luật của

nước nơi giao kết hợp đồng.”?

Luật nơi giao kết hợp đồng thường được áp dụng để xác định

tính hợp pháp về hình thức của hợp đồng có yếu tố nước ngoài.

!- Khoản 2 Điều 26 Hiệp định tượng trợ tư pháp Việt Nam - Liên bang Nga.

`? Khoản 1 Điều 770 Bộ luật Dân sự Việt Nam năm 2005.

ii. Luật nơi thực hiện hợp đồng (locus regit actum) là pháp luật của 'nước nơi hợp đồng được thực hiện.

Vi du: “Quyén va nghia uụ của các bên theo hợp đông dân sự được xác ` định theo pháp luật của nước nơi thực hiện hợp đông...” 1

Luật nơi thực hiện hợp đồng thường được áp dụng để giải quyết xung đột pháp luật về nội dung của hợp đồng.

ti. Luật nơi thực hiện nghĩa 0ụ (lex loci solutionis) la pháp luật của nước nơi nghĩa vụ (nghĩa vụ chính) được thực hiện. Hệ thuộc này

thường được áp dụng nhằm giải quyết xung đột pháp luật về nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng.

†o. Luật nơi thực hiện kết hôn (lex loci celebrationis) la pháp luật của nước nơi tiến hành (đăng ký) kết hôn.

Ví dụ: “Hình thức kết hôn được xác định theo pháp luật của nước ký kết nơi tiến hành kết hôn”.

Hệ thuộc Iex loci celebraHonis phần lớn được áp dụng để điều chỉnh việc kết hôn (hình thức kết hôn) có yếu tố nước ngoài.

0. Luật nơi thực hiện cụng tiệc (lex loci ẽaboris) là phỏp luật của nước nơi công việc được thực hiện. Theo hệ thuộc này, công việc được thực hiện ở nước nào thì quan hệ lao động sẽ được điều chỉnh bởi pháp luật nước đó. Do vậy, hệ thuộc này thường được áp dụng nhằm giải quyết xung đột pháp luật phát sinh từ các quan hệ lao động có yếu tố nước ngoài.

2.3.6. Hệ thuộc luật nơi xảy † ta hành ủi vi phạm pháp luật (lex loci _delictHi cotwt=missi)

Luật nơi xảy ra hành vi vi phạm pháp luật được áp dụng để điều chỉnh việc bồi thường thiệt hại (trách nhiệm dân sự) ngoài hợp đồng.

_Ví dụ: “Việc bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng được xác định theo pháp luật của nước nơi xảy ra hành vi gây thiệt hại hoặc nơi _ phat sinh hau quả thực tế của hành vi gây thiệt hại”?; hoặc “Pháp luật -

!ˆ Khoản 1 Điều 769 Bộ luật Dân sự năm 2005.

? Khoản 1 Điều 23 Hiệp định tương trợ tư pháp Việt Nam - Lào.

áp dụng đối với nghĩa vụ phát sinh ngoài hợp đồng là pháp luật của nước ký kết nơi xảy ra hành vi gây thiệt hại”1.

Như vậy, theo lex loci delicti commissi, việc bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng sẽ do pháp luật nước nơi xảy ra hành vi vi phạm

pháp luật điều chỉnh.

Tuy nhiên, trong thực tế thường xảy ra trường hợp hành vi gây thiệt hại được thực hiện ở nước này nhưng hậu quả của hành vi đó

lại phát sinh ở một nước khác. Vậy nơi xảy ra hành vi vi phạm là nước nào? Pháp luật một số nước (Italia, Hy Lạp...) cho rằng, nơi vi phạm pháp luật là nơi xảy ra hành vi gây thiệt hại. Pháp luật Anh,

Mỹ lại quy định rằng, nơi vi phạm pháp luật là nơi hiện diện hậu quả của hành vi gây thiệt hại. Còn pháp luật các nước khác, như: Đức, Việt Nam... lại cho rằng, nơi vi phạm pháp luật có thể là nơi xảy ra hành vi gây thiệt hại hoặc nơi phát sinh hậu quả thực tế của hành vi .. gầy thiệt hại. Khoản 1 Điều 773 Bộ luật Dân sự Việt Nam 2005 quy định: “Việc bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng được xác định theo pháp luật của nước nơi xảy ra hành vi gây thiệt hại hoặc nơi phát sinh hậu quả thực tế của hành vi gây thiệt hại”.

2.3.7. Hệ thuộc luật lựa chon (lex voluntatis)

Theo nguyên tắc này, các bên tham gia hợp đồng được tự do lựa chọn hệ thống pháp luật mà họ cho là hợp lý để giải quyết quan hệ hợp đồng.

Hệ thuộc luật lựa chọn thường được áp dụng để điều chỉnh các quan hệ hợp đồng (nội dung của hợp đồng) phát sinh trong lĩnh vực thương mại, hàng hải, hàng không dân dụng quốc tế.

Ví dụ: “Các bên trong giao dịch thương mại có yếu tố nước ngoài được thoả thuận áp dụng pháp luật nước ngoài...” (Khoản 2 Điều 5 Luật Thương mại 2005); “Các bên tham gia hợp đồng hàng hải mà trong đó có ít nhất một bên là tổ chức hoặc cá nhân nước ngoài,

thì có quyền thoả thuận áp dụng luật hoặc tập quán hàng hải nước

' Khoản 1 Điều 37 Hiệp định tương trợ tư pháp Việt Nam - Ba Lan.

ngoài hoặc quốc tế trong các quan hệ hợp đồng và chọn trọng tài, toà án ở một trong hai nước hoặc ở một nước thứ ba để giải quyết tranh chấp” (Khoản 2 Điều 4 Bộ luật Hàng hải 2005)...

Ngày nay, hệ thuộc luật lựa chọn được áp dụng rất phổ biến trong các lĩnh vực dân sự, kinh tế, thương mại, hàng hải quốc tế không chỉ ở Việt Nam mà ở nhiều nước trên thế giới. | 2.3.8. Hệ thuộc luật quốc kỳ (lex banderae) va luật noi ding ky phương tiện uận tải (lex lbri sitae)

Luật quốc kỳ (còn gọi là luật “treo cờ”) là pháp luật của nước mà

phương tiện vận tải mang quốc kỳ.

Theo Bộ luật Hàng hải Việt Nam 2005 (Khoản 1 Điều 5), hệ thuộc luật quốc kỳ được áp dụng trong các trường hợp sau đây: “Đối uới các quan hệ pháp luật liên quan đến các quuên sử hữu tài sản trên tdu; hop dong cho thuê tậu; hợp đông thuê thuyên uiên; hợp đồng uận chuyển hành khách oà hành lý; chia tiên công cứu hộ giữa chủ tâu cứu hộ uà thuyên bộ của tấu cứu hộ; trục vét tai san chim dim ở công hải; cdc vu viéc xdy ra trên tẩu khi tau dang ở công hải, thì luật được chọn là luật quốc gia trà tầu mang co”.

Luật nơi đăng ký là pháp luật của nước nơi phương tiện vận tải (máy bay) đăng ký. Theo Khoản 1 Điều 4 Luật Hàng không dân dụng Việt Nam năm 2006: “Pháp luật của quốc gia đăng ký quốc tịch tàu bay được áp dụng đối uới quan hệ xã hội phát sinh trong tau bay dang bay va áp dụng để xác định các quyên đổi voi tau bay”.

2.4. Phân loại quy phạm xung đột

Trong khoa học Tư pháp quốc tế, có thể chia quy phạm xung đột thành các loại: căn cứ vào hình thức dẫn chiếu thì có quy phạm xung đột một chiều (còn được gọi là quy phạm xung đột đơn phương), quy

phạm xung đột hai chiều (còn được gọi là quy phạm xung đột song

phương); căn cứ vào tính chất của quy phạm xung đột thì có quy phạm xung đột mệnh lệnh và quy phạm xung đột tuỳ nghỉ. Ngoài ra còn có nhiều cách phân loại khác như căn cứ theo nguồn của quy

phạm xung đột, căn cứ vào quy tắc chọn hệ thuộc luật, v.v.

Một phần của tài liệu Giáo trình tư pháp quốc tế (2) (Trang 95 - 105)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(521 trang)