CHU THỂ CỦA TƯ PHÁP QUỐC TẾ
Điều 75 Điều 75 Hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam năm 1992 (sửa đổi năm 2001) quy định: “Nhà nước bảo hộ quyền lợi chính đáng của
II. TỔ CHỨC - CHỦ THỂ CƠ BẢN CỦA TƯ PHÁP QUỐC TẾ
_ Một tổ chức, cho dù đó là một tổ chức trong nước hoặc một tổ chức quốc tế, cho dù là pháp nhân hoặc một tập thể cá nhân chưa hội
đủ các điều kiện của một pháp nhân, đều có thể trở thành chủ thể của Tư pháp quốc tế khi tổ chức đó hội đủ các dấu hiệu cơ bản của một chủ thể của Tư pháp quốc tế. Trong phạm vi Giáo trình này, chỉ tập trung nghiên cứu một số vấn đề tổng quát về địa vị pháp lý của tổ
chức nước ngoài tại Việt Nam, địa vị pháp lý của tổ chức Việt Nam
tại nước ngoài và một số vấn để khác trong quan hệ Tư pháp quốc tế,
không nghiên cứu các vấn đề thuộc phạm vi điều chỉnh của Công pháp quốc gia và Công pháp quốc tế.
3.1. Tổng quan về tổ chức nước ngoài
Các nước khác nhau có thái độ khác nhau về tổ chức nước ngoài, cách phân loại và quy chế pháp lý áp dụng cho các tổ chức đó tại nước mình.
- Theo quan niệm của đa số các nước trên thế giới, tổ chức nước ngoài được xem xét trong Tư pháp quốc tế là tổ chức được thành lập theo những quy định của pháp luật nước này nhưng hoạt động tại nước khác nhằm những mục đích đã được xác định trước. Các tổ
chức đó có thể được thành lập theo các quy định của Công pháp quốc
gia (các cơ quan Nhà nước, tổ chức đại diện cơ quan công quyền, trường học công, bệnh viện công...) hoặc theo quy định của Tư pháp quốc gia (các doanh nghiệp tư nhân, hội buôn, td đội lao động - sản
xuất, các hãng thương mại...) hoặc theo các điều ước quốc tế, thỏa thuận quốc tế liên quan dựa trên cơ sở các học thuyết pháp lý rất khác nhau (thuyết hình thức, thuyết duy thực, thuyết khế ước, thuyết phân lập sở hữu và quản lý...). Các tổ chức được thành lập như vậy ngay trong cùng một nước (nước xuất xứ) thì khi hoạt động tại nước xuất xứ đã phải tuân theo các quy chế pháp lý khác nhau và chính vì vậy mà địa vị pháp lý của chúng cũng khác nhau. Khi hoạt động ở nước ngoài, địa vị pháp lý của chúng ở nước ngoài cũng khá phức tạp nếu nước ngoài đó xác định địa vị pháp lý của các tổ chức nước ngoài không theo một quy tắc chung cho mọi trường hợp. Địa vị pháp lý của chúng ở nước ngoài lại càng phức tạp khi nước sở tại không áp dụng quy chế Đãi ngộ quốc gia mà lại theo các điều ước quốc tế, thỏa thuận quốc tế khác nhau được ký kết giữa nước sở tại và nước ngoài hữu quan. Do tính chất phức tạp của vấn đề nên trong nhiều trường hợp người ta thường tập trung giải quyết các vấn để xung đột pháp luật ở đây theo quy tắc Lex Societatis, tức là theo pháp
luật của nước xuất xứ đã lập ra tổ chức đó, để bảo đảm tối đa quyền
lợi hợp pháp của tổ chức tại nước sở tại, nếu việc bảo .đảm quyền lợi
như vậy không trái với pháp luật nước sở tại và các cam kết quốc tế của nước này.
- Vấn dé năng lực pháp luật, năng lực hành vi dân sự, kinh tế của tổ chức nước ngoài được giải quyết căn cứ vào pháp luật dân sự,
kinh tế của các nước cụ thể liên quan và các điều ước quốc tế cụ thể
giữa các nước hữu quan. Trong nghiên cứu và học tập Tư pháp quốc tế, do có vấn để phức tạp như đã nêu trên, nên vấn đề năng lực pháp
luật dân sự và năng lực hành vi dân sự của tổ chức nước ngoài tại
nước sở tại thường được xem xét trong một phạm vi hạn chế hơn nhiều so với các vấn đề phát sinh trong thực tế, tức là chỉ nghiên cứu đưới góc độ các phạm trù của pháp luật dân sự, tiêu biểu là quy chế pháp lý của pháp nhân nước ngoài, quốc tịch của pháp nhân nước ngoài, các quy tắc giải quyết xung đột pháp luật về năng lực pháp
luật dân sự và năng lực hành vi dân sự của pháp nhân nước ngoài v.v. Vấn đề năng lực pháp luật kinh tế - thương mại và năng lực hành vi kinh tế - thương mại của tổ chức nước ngoài tại nước sở tại cũng vì vậy mà được xem xét dưới các khía cạnh đặc trưng của các phạm trù
pháp luật dân sự - kinh tế như quy chế pháp lý của thương gia nước
ngoài, quốc tịch của công ty, doanh nghiệp, tập đoàn doanh nghiệp nước ngoài, các quy chế pháp lý áp dụng cho hoạt động kinh tế - thương mại của các hãng, các công ty, doanh nghiệp nước ngoài, các chi nhánh, văn phòng đại diện của các doanh nghiệp nước ngoài ở nước sở tại v.v. Vấn để năng lực pháp luật tố tụng và năng lực hành vi tố tụng của tổ chức nước ngoài cũng được giải quyết theo các học thuyết, pháp luật và thực tiễn tư pháp khác nhau, tuỳ thuộc vào từng nước, từng giai đoạn lịch sử khác nhau và quan hệ cụ thể giữa các nước hữu quan khác nhau. Trong phạm vi Giáo trình này, chỉ có thể
xem xét các vấn để pháp lý của các tổ chức với tính cách là chủ thể của Tư pháp quốc tế trong giới hạn hẹp như đã nêu trên.
- Các quy chế pháp lý áp dụng cho tổ chức nước ngoài cụ thể cơ bản cũng tương tự các quy chế pháp lý áp dụng cho cá nhân là người nước ngoài trong quan hệ Tư pháp quốc tế. Việc áp dụng quy ché Dai ngộ quốc gia, quy chế Tối huệ quốc, quy chế có đi có lại, quy chế báo phục quốc hoặc quy chế Đối xử ưu đãi đặc biệt cho các tổ chức nước ngoài tuỳ thuộc vào pháp luật, thực tiễn của nước sở tai va diéu ước quốc tế mà nước sở tại ký kết hoặc tham gia với nước ngoài hữu quan.
3.2. Vấn đề địa vị pháp lý của pháp nhân nước ngoài
Muốn xác định xem một tổ chức nước ngoài hoạt động tại nước mình có phải là một pháp nhân hay. không, về nguyên tắc, người ta phải xem xét về việc đó dựa trên pháp luật của chính nước mình. Tuy vậy, trong quá trình xem xét này, việc xác định xem tổ chức đó được thành lập theo pháp luật nước xuất xứ nào, tức là xem nó thuộc quốc tịch nào, cũng là điểu cần quan tâm đúng mức. Đây là vấn đề được các nước quan tâm nghiên cứu để có giải pháp thích hợp cho từng trường hợp cụ thể.
3.2.1. Quốc tịch của pháp nhân nước ngoài
Địa vị pháp lý của một pháp nhân trước tiên do pháp luật của nước xuất xứ thành lập ra nó quy định. Mối liên hệ pháp lý của pháp nhân với pháp luật của nước xuất xứ phản ánh qua quy chế quốc tịch của pháp nhân. Quốc tịch của pháp nhân là sự quy thuộc về mặt pháp lý của một pháp nhân cụ thể vào một quốc gia nhất định.
Tuy vậy, việc xác định địa vị pháp lý cụ thể của một pháp nhân tại nước ngoài nơi nó tiến hành các hoạt động đầu tư, kinh doanh lại chủ yếu do pháp luật của nước sở tại quyết định chứ không phải .
được xác định theo quốc tịch của pháp nhân đó. Việc xác định quốc
tịch xuất xứ của pháp nhân chủ yếu là nhằm áp dụng hay không áp dụng quy chế pháp lý của nước sở tại về NT hoặc MEN cho pháp nhân nước ngoài cụ thể đang hoạt động tại nước mình. Hiện nay ở một số nước, trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, có xu hướng dé nhận thấy là mở rộng việc cho các tổ chức nước ngoài được hưởng
tư cách pháp nhân theo pháp luật nước sở tại để bảo đảm yêu cầu về
NT hoặc MEN theo quy định của WTO hoặc các RETA (kiểu ASEAN,
NAFTA, TPP...), BEFTA (kiểu Hiệp định thương mại Việt Nam - Nhật
Bản, Việt Nam - Trung Quốc...) khi chúng tham gia vào các quan hệ
pháp lý dân sự, kinh tế có yếu tố nước ngoài.
Pháp luật đa số các nước đã đưa ra hàng loạt tiêu chí làm cơ sở.
để xác định quốc tịch của pháp nhân. Theo pháp luật và thực tiễn các nước này, nhìn chung, quốc tịch của một pháp nhân thường được xác định theo những tiêu chí cơ bản sau:
- Nơi thành lập pháp nhân hoặc nơi đăng ký điều lệ của pháp nhân đó (luật Anh, Mỹ thường áp dụng tiêu chí này);
- Nơi đặt trung tâm quản lý hoặc nơi đặt trụ sở Ban quản lý hành chính, Ban quản trị của pháp nhân đó (luật một số nước châu Âu thường áp dụng tiêu chí này);
- Nơi kinh doanh chính hoặc nơi hoạt động đầu tư chính của pháp nhân (luật một số nước đang phát triển).
Đối với một số nước, phạm vi hoạt động của các pháp nhân nước ngoài bị hạn chế theo một số lĩnh vực nhất định. Những hoạt động kinh tế của các pháp nhân nước ngoài chỉ có thể được tiến hành
theo một trình tự nhất định được nước sở tại cho phép. Căn cứ vào - từng trường hợp cụ thể mà pháp luật các nước sở tại xác định tiêu chí
nào là cơ bản để xác định quốc tịch pháp nhân.
Thông thường các nước này áp dụng hai tiêu chí cơ bản để xác định quốc tịch của pháp nhân, đó là nơi thành lập pháp nhân và nơi đặt trung tâm quản lý chính của pháp nhân. Ở Việt Nam, một pháp
nhân được thành lập theo pháp luật Việt Nam và thỏa mãn các điều kiện theo quy định tại Điều 84 Bộ luật Dân sự năm 2005 thì đó là pháp nhân Việt Nam, không phụ thuộc vào địa bàn hoạt động của nó. Theo quy định tại khoản 20 Điều 4 Luật Doanh nghiệp năm 2005, thì “Quốc tịch của doanh nghiệp là quốc tịch của nước, vùng lãnh thổ nơi doanh nghiệp thành lập, đăng ký kinh doanh”. Theo quy định tại
Khoản 4 Điều 3 Nghị định số 138/2006/NĐ-CP ngày 15/11/2006 quy
định chỉ tiết thi hành các quy định của Bộ luật Dân sự về quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài, thì “pháp nhân nước ngoài là pháp nhân
được thành lập theo pháp luật nước ngoài.”
3.2.2. Xung đột pháp luật oề quốc tịch của pháp nhân nước ngoài _
Các pháp nhân được thành lập tại một nước này, nếu pháp luật
nước này không cấm hoặc điều ước quốc tế mà nước này ký kết hoặc gia nhập với nước ngoài liên quan cho phép, vẫn có thể tiến hành hoạt động ở một nước khác, thậm chí ở nhiều nước khác theo quy định của nước sở tại. Vì pháp luật của mỗi nước quy định về chế định pháp nhân có khác nhau, nên dẫn tới tình trạng tư cách pháp nhân
của tổ chức nước ngoài đó có thể không được nước sở tại thừa nhận.
Điều này có nghĩa rằng, ở nước này một tổ chức mới thành lập được pháp luật thừa nhận là pháp nhân, nhưng ở nước khác, cũng tổ chức
đó lại không được pháp luật thừa nhận là pháp nhân mà chỉ được xem là một tổ chức nước ngoài đơn giản gồm nhiều thể nhân hợp lại mà thôi. Chẳng hạn, theo luật Anh thì một công ty kiểu “Partnership”
không được coi là pháp nhân, trong khi đó theo luật của Pháp thì một công ty được thành lập tương tự như vậy, kiểu “Société en nom
Collectif” lại được thừa nhận là pháp nhân, mặc dù cả hai kiểu công
ty này đều là những công ty hợp danh do một nhóm người sáng lập để kinh doanh theo mô hình tổ chức đối nhân.
Hoạt động của một pháp nhân nước ngoài thực chất chịu sự điều .
chỉnh ít nhất của hai hệ thống pháp luật: pháp luật của nước xuất xứ mà pháp nhân đó có quốc tịch và pháp luật của nước sở tại nơi pháp
nhân đang tiến hành hoạt động theo quy định được phép. Trong
trường hợp có sự quy định khác nhau giữa hai hệ thống pháp luật như đã nêu trên, thì có thể sé dan tới tình trạng xung đột pháp luật về năng lực pháp luật theo quốc tịch của pháp nhân. Trong những trường hợp như vậy sẽ phát sinh hai vấn đề: Thứ nhất, là việc xác định tư cách chủ thể của pháp nhân nước ngoài; Thứ hai,là vấn đề có cho pháp nhân nước ngoài tiến hành những hoạt động theo quy chế quốc tịch của pháp nhân hay không và nếu được thì phạm vỉ quyền và nghĩa vụ của pháp nhân xác định theo quy định như thế nào?
Trong thực tiễn quốc tế, các vấn để nêu trên thường được pháp luật các nước giải quyết như sau:
- Vấn để tư cách chủ thể của pháp nhân nước ngoài được giải quyết trực tiếp theo những quy định trong các điều ước quốc tế hai bên hay nhiều bên. Chẳng hạn, các nước tham gia Cộng đồng kinh tế châu Âu đã ký Công ước Brúc-xen năm 1968 về việc cùng công nhận tư cách chủ thể của các pháp nhân của các nước kết ước.
- Việc cho phép các pháp nhân nước ngoài tiến hành hoạt động
kinh tế ở một nước thường do pháp luật nước sở tại quy định. Các - nước quy định những điều kiện hoạt động của pháp nhân nước ngoài
ở nước mình. Điều này có nghĩa phải căn cứ vào pháp luật của nước
sở tại để biết một pháp nhân nước ngoài khi hoạt động trên lãnh thổ nước đó có những quyền, nghĩa vụ cụ thể gì, giới hạn các quyền và nghĩa vụ đó đến đâu? Còn để biết một tổ chức nước ngoài có đầy đủ tư cách pháp nhân hay không thì còn phải căn cứ vào pháp luật của nước xuất xứ mà pháp nhân đó mang quốc tịch. Trong các Hiệp định tương trợ tư pháp giữa Việt Nam với các nước, vấn đề này được giải quyết theo hướng pháp nhân được thành lập theo pháp luật của nước ký kết nào thì năng lực pháp luật của pháp nhân đó được xác định
theo pháp luật của nước ký kết đã thành lập pháp nhân. Như vậy, trong trường hợp này, năng lực pháp luật của pháp nhân sẽ do luật quốc tịch của pháp nhân quy định, tức theo Lex societatis.
3.2.3. Địa uị pháp lý của pháp nhân nước nsoài
Nói đến địa vị pháp lý của pháp nhân nước ngoài là nói đến những quyền mà pháp nhân nước ngoài được hưởng và những nghĩa vụ mà pháp nhân nước ngoài thực hiện ở nước sở tại. Các nước
thường xác định chế độ pháp lý của các pháp nhân nước ngoài theo
pháp luật nước mình và trên cơ sở các điều ước quốc tế, thỏa thuận
quốc tế mà nước này ký kết hoặc tham gia. Trong các điều ước quốc tế, thỏa thuận quốc tế đó thường quy định rõ quy chế pháp lý áp dụng đối với các pháp nhân: Có thể là quy chế Tối huệ quốc hoặc quy chế Đãi ngộ quốc gia. Chẳng hạn, theo tuyệt đại đa số các hiệp định thương mại và hàng hải mà Việt Nam đã ký kết với nước khác, các pháp nhân nước ngoài ở Việt Nam được hưởng quy chế Tối huệ quốc. Trong các hiệp định tương trợ tư pháp mà Việt Nam đã ký kết _ với các nước, công dân và pháp nhân nước ngoài của các nước ký kết hiệp định còn được hưởng ở Việt Nam quy chế Đãi ngộ quốc gia trong việc bảo hộ pháp lý các quyền của họ tại các cơ quan tư pháp các nước ký kết. Trong khi đó theo nhiều điều ước quốc tế ký kết với
nước ngoài về thương mại, hàng hải, Liên bang Nga và các nước hữu
quan đành cho các pháp nhân của nhau quy chế Tối huệ quốc. Riêng đối với quy chế Đãi ngộ quốc gia, Liên bang Nga chỉ cho phép các pháp. nhân nước ngoài được hưởng trong một số lĩnh. vực nhất định (như quyền tự dơ thưa kiện trước toà án và một số vấn đề thuộc lĩnh
vực hàng hải, thương mai).
Một điểm cần lưu ý khi nói về địa vị pháp lý của các pháp nhân nước ngoài là vấn để năng lực pháp luật của các pháp nhân đó trong tố tụng dân sự, kinh tế tại nước sở tại. Khi một pháp nhân nước ngoài được phép tiến hành hoạt động ở một nước, thì pháp luật nước sở tại
thường cho phép pháp nhân đó được hưởng những quyền tư pháp nhất định. Những quyển này thường được ghi nhận trong các điều ước quốc tế liên quan giữa các nước với nhau.
Như vậy, khi nói tới năng lực pháp luật tố tụng của pháp nhân nước ngoài trong tố tụng dân sự, kinh tế tại nước sở tại thì hiểu rằng ở đây chỉ nói đến quyền tư pháp của pháp nhân thuộc các bên tham gia điều ước quốc tế cụ thể và chỉ có trong quan hệ giữa các bên tham gia điều ước quốc tế đó mà thôi. Cũng cần nói thêm, một nước có thể hạn chế quyền tố tụng dân sự - kinh tế của pháp nhân nước ngoài tại nước sở tại theo quy chế có đi có lại và chế độ báo phục quốc như đã
trình bày ở phần trên của Giáo trình.
3.3. Địa vị pháp lý của tổ chức nước ngoài tại Việt Nam
Dưới ánh sáng của các nghị quyết của Đại hội Đảng về hội nhập
kinh tế quốc tế và mở rộng quan hệ với nước ngoài, Nhà nước CHXHCN Việt Nam đã có nhiều biện pháp để tạo điều kiện thuận lợi và các thủ tục dễ đàng cho các tổ chức nước ngoài vào Việt Nam hoạt
động theo các mục đích khác nhau. Tuy vậy, đến nay Việt Nam vẫn
chưa có một Luật chuyên biệt về quy chế pháp lý áp dụng cho các tổ
chức nước ngoài hoạt động tại Việt Nam. Hiện tại, hoạt động của các tổ chức nước ngoài tại Việt Nam trong các lĩnh vực khác nhau được
điều chỉnh trên cơ sở các văn bản quy phạm pháp luật khác nhau áp
dụng cho từng lĩnh vực, trong từng thời gian khác nhau và các điều ước quốc tế, thỏa thuận quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc tham gia với nước ngoài hữu quan.
Có thể xem xét địa vị pháp lý của các tổ chức nước ngoài tại Việt Nam với tính cách là chủ thể của Tư pháp quốc tế theo lĩnh vực hoạt động của chúng: Kinh tế, thương mại, dân sự và một số lĩnh vực khác.