UYỀN SỬ HỮU TR0NG TƯ PHÁP QUỐC TẾ
V. QUYỀN SỞ HỮU CỦA NGƯỜI NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM 5.1. Nguyên tắc chung
Theo Khoản 2 Điều 761 Bộ luật Dân sự của nước CHXHCN Việt Nam, “người nước ngoài có năng lực pháp luật dân sự tại Việt Nam như công dân Việt Nam, trừ trường hợp pháp luật Cộng hoà xã hội
chủ nghĩa Việt Nam có quy định khác”.
Hiệp định tương trợ tư pháp và pháp lý giữa Việt Nam với Liên Xô (cũ) (nay là Cộng hoà Liên bang Nga) quy định: “Công đân nước ký kết này được hưởng trên lãnh thổ của nước ký kết kia sự bảo hộ pháp luật đối với các quyền nhân thân và tài sản mà nước ký kết kia dành cho công dân của mình” (Điều 1). Các Hiệp định tương trợ tư pháp giữa Việt Nam với Cộng hoà Dân chủ Đức cũ (Điều 2), với Tiệp Khắc cũ (Điều 1), với Cộng hoà Cu Ba (Điều 1), với Hungari (Điều 1), với Bungari (Điều 1) đều ghi nhận nguyên tắc trên.
Như vậy, trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự Việt Nam quy định về.năng lực hưởng quyền của người nước ngoài
và từ những điều khoản của các Điều ước quốc tế mà CHXHCN Việt Nam ký kết, Nhà nước CHXHCN Việt Nam bảo hộ quyền sở hữu của người nước ngoài theo chế độ đãi ngộ như công dân. Mặc dù trong pháp luật dân sự Việt Nam chưa có những quy định chuyên biệt về quyền sở hữu của người nước ngoài; nhưng về phương diện, phạm vi và nội dung của quyền sở hữu của người nước ngoài ở Việt Nam về cơ bản đều áp dụng tất cả những quy định chung của pháp luật Việt
Nam về chế định sở hữu và trong một vài văn bản pháp luật mang tính chất thí điểm như Nghị quyết số 19/2008/QH12 ngày 03/06/2008
về việc thí điểm cho tổ chức, cá nhân nước ngoài mua và sở hữu nhà
ở tại Việt Nam... Những quy định này cũng đưa ra những điều kiện,
giới hạn về mức độ, phạm vi và những điểm khác biệt nhất định về quyền sở hữu của các cá nhân nước ngoài so với công dân Việt Nam ở một số lĩnh vực nhất định.
Ví dụ 1: Đối với quyền sở hữu nhà ở, Khoản 1 Điều 125 Luật Nhà ở năm 2005 quy định: “Tổ chức, cá nhân nước ngoài đầu tư xây
dựng nhà ở để cho thuê tại Việt Nam được cơ quan nhà nước có
thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở đối với nhà ở đó”. Như vậy, tổ chức, cá nhân nước ngoài muốn sở hữu nhà Việt Nam thì chỉ có thể thực hiện được quyền này bằng một phương cách duy nhất là đầu tư xây dựng nhà ở để cho thuê; nếu mua nhà ở
để ở hoặc xây nhà để ở thì tổ chức và cá nhân nước ngoài sẽ không có quyền sở hữu này.
Ví dụ 2: Theo Khoản 2 Điều 1 của Nghị quyết số 19/2008/QH12 ngày 03/6/2008 về việc thí điểm cho tổ chức, cá nhân nước ngoài mua
và sở hữu nhà ở tại Việt Nam thì “Nhà ở mà tổ chức, cá nhân nước
ngoài được mua và sở hữu theo quy định của Nghị quyết này là căn
hộ chung cư trong dự án phát triển nhà ở thương mại và không thuộc khu vực hạn chế hoặc cấm người nước ngoài cư trú, đi lại”.
Ví dụ 3: “Trong trường hợp xác lập, thực hiện, thay đổi, chấm
dứt quyển sở hữu tài sản, nội dung quyền sở hữu đối với tài sản
được áp dụng theo pháp luật Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thì tuân theo các quy định tại Phần thứ hai của Bộ luật Dân sự và các văn bản pháp luật khác có liên quan.” (Khoản 2 Điều 11 Nghị định số
138/2006/NĐ-CP ngày 15/11/2006 quy định chỉ tiết thi hành các quy định của Bộ luật Dân sự về quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài).
5.2. Bảo hộ quyền sở hữu của các nhà đầu tư nước c ngoài theo Luật
Đầu tư năm 2005 .
Để mở rộng hợp tác kinh tế với người nước ngoài, đẩy mạnh xuất nhập khẩu, phát triển kinh tế trên cơ sở khai thác có hiệu quả tài
nguyên, lao động và các tiềm năng khác của đất nước, Nhà nước Việt Nam đã ban hành Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam (lần đầu tiên năm 1987, sau đó sửa đổi, bổ sung năm 1990, 1992; Luật Đầu tư nước ngoài năm 1996 và sửa đổi, bổ sung năm 2000, đặc biệt là Luật Đầu tư được Quốc hội thông qua ngày 29/11/2005, có hiệu lực vào ngày 01/7/2006). Luật Đầu tư năm 2005 được cơi là một đạo luật quan trọng trong hệ thống pháp luật kinh tế của Việt Nam, thể chế hóa đường lối đổi mới của Đảng và Nhà nước ta về vấn đề đầu tư; khẳng định chủ trương bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các nhà đầu tư thuộc mọi thành phần kinh tế; tạo hành lang pháp lý để xóa bỏ sự phân biệt đối xử giữa các doanh nghiệp, các nhà đầu tư, giữa đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài, khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động đầu tư phát triển và cạnh tranh lành mạnh.
Điều này đã thể hiện sự thay đổi căn bản và toàn điện trong chính
sách thu hút đầu tư của Việt Nam, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp hội nhập kinh tế quốc tế phát triển nhanh và bền vững.
Việc Luật Đầu tư năm 2005 quy định chung cho cả nhà đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài hoạt động đầu tư trên lãnh thổ Việt Nam đã tạo điều kiện thuận lợi và công bằng cho hoạt động đầu tư tại Việt Nam hiện nay, điều mà Luật đầu tư nước ngoài từ năm 2000 và các văn bản liên quan trở về trước chưa giải quyết được.
Khoản 1 Điều 2 Luật Đầu tư năm 2005 quy định về đối tượng áp dụng: “Nhà đầu tư trong nước và nhà đầu tư nước ngoài thực hiện hoạt động đầu tư trên lãnh thổ Việt Nam và đầu tư từ Việt Nam ra
nước ngoài”.
Điều 1 Luật Đầu tư năm 2005 quy định: “Luật này quy định về _
hoạt động đầu tư nhằm mục đích kinh doanh; quyền và nghĩa vụ của nhà đầu tư; bảo đảm quyển, lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư; khuyến khích và ưu đãi đầu tư; quản lý Nhà nước về đầu tư tại Việt Nam và đầu tư từ Việt Nam ra nước ngoài”.
Khoản 3 Điều 4 Luật Đầu tư năm 2005 quy định: “Nhà nước.
công nhận và bảo hộ quyền sở hữu tài sản, vốn đầu tư, thu nhập và các quyền, lợi ích hợp pháp khác của nhà đầu tư; thừa nhận sự tồn tại
và phát triển lâu dài của các hoạt động đầu tư”.
Điều 25 Hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001) quy định: “Nhà nước khuyến khích các tổ chức, cá nhân nước ngoài đầu tư vốn, công nghệ vào Việt Nam phù hợp với pháp luật Việt Nam, pháp luật và thông lệ quốc tế; bảo đảm quyền sở hữu hợp pháp đối với vốn, tài sản và các quyền lợi khác của các tổ chức, cá nhân nước ngoài. Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
không bị quốc hữu hoá...”. :
Theo Khoản 2 Điều 4 Luật Đầu tư năm 2005, “Nhà nước đối xử bình đẳng trước pháp luật đối với các nhà đầu tư thuộc mọi thành phần kinh tế, giữa đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài; khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động đầu tư”.
Chương II Luật Đầu tư năm 2005 quy định về Bảo đảm đầu tư quy định: “Vốn đầu tư và tài sản hợp pháp của nhà đầu tư không bị quốc hữu hóa, không bị tịch thu bằng biện pháp hành chính. Trường hợp thật cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh và lợi ích quốc gia, Nhà nước trưng mua, trưng dụng tài sản của nhà đầu tư thì nhà đầu tư được thanh toán hoặc bồi thường theo giá thị trường tại thời điểm công bố việc trưng mua, trưng dụng. Việc thanh toán hoặc bồi thường -phải bảo đảm lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư và không phân biệt đối xử giữa các nhà đầu tư”. Trường hợp đặc biệt đối với nhà đầu tư nước ngoài, việc thanh toán hoặc bồi thường tài sản trong trường hợp tài sản bị trưng dụng vì lý do quốc phòng, an ninh hoặc lợi ích quốc gia “được thực hiện bằng đồng tiển tự do chuyển đổi và được quyền chuyển ra
nước ngoài” (Điều 6 Luật Đầu tư năm 2005). Nhà nước CHXHCN Việt
Nam bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp, bảo đảm lợi ích hợp pháp của các nhà đầu tư nước ngoài trong hoạt động chuyển giao công nghệ tại
Việt Nam (Điều 7 Luật Đầu tư năm 2005).
Trong trường hợp thay đổi quy định của pháp luật Việt Nam làm thiệt hại đến lợi ích của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và các bên tham gia hợp đồng hợp tác kinh doanh thì doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và các bên tham gia hợp đồng hợp tác kinh
doanh tiếp tục được hưởng các ưu đãi đã được quy định hoặc được
Nhà nước có biện pháp giải quyết thỏa đáng đối với quyền lợi nhà đầu tư (Khoản 2 Điều 11 Luật Đầu tư năm 2005) gồm có:
- Tiếp tục hưởng các quyền lợi, ưu đãi;
- Được trừ thiệt hại vào thu nhập chịu thuế;
- Được điều chỉnh mục tiêu hoạt động của dự án;
- Được xem xét bồi thường trong một số trường hợp cần thiết.
Đối với biện pháp này, cơ quan cấp Giấy chứng nhận đầu tư trình
Thủ tướng Chính phủ quyết định việc bảo đảm lợi ích của nhà đầu tư đo việc thay đổi pháp luật, chính sách có ảnh hưởng bất lợi đến lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư (Điều 20 Nghị định số 108/2006/NĐ-CP ngày 22/09/2006 quy định chỉ tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Đầu tư).
Tất cả những biện pháp trên được thực hiện dựa trên căn cứ vào
quy định của pháp luật và cam kết trong điểu ước quốc tế mà Cộng
hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên, Chính phủ quy định cụ thể về việc bảo đảm lợi ích của nhà đầu tư do việc thay đổi pháp luật, chính sách ảnh hưởng bất lợi đến lợi ích của nhà đầu tư. |
Các nhà đầu tư nước ngoài vào Việt Nam được chuyển ra nước
ngoài (Điều 9 Luật Đầu tư năm 2008):
a) Lợi nhuận thu được từ hoạt động kinh doanh;
b) Những khoản tiển trả cho việc cung cấp kỹ thuật, dịch vụ, sở hữu trí tuệ;
c) Tiền gốc và lãi các khoản vay nước ngoài;
d) Vốn đầu tư, các khoản thanh lý đầu tư;
đ) Các khoản tiển và tài sản khác thuộc sở hữu hợp pháp của nhà đầu tư.
Người nước ngoài làm việc tại Việt Nam cho các dự án đầu tư được chuyển ra nước ngoài thu nhập hợp pháp của mình sau khi thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ tài chính đối với Nhà nước Việt Nam.
Việc chuyển ra nước ngoài các khoản trên được thực hiện bằng
đồng tiền tự do chuyển đổi theo tỷ giá giao dịch tại ngân hàng thương
mại do nhà đầu tư lựa chọn. Thủ tục chuyển ra nước ngoài các khoản
tiền liên quan đến hoạt động đầu tư theo quy định của pháp luật về quản lý ngoại hối (Khoản 3, 4 Điều 9 Luật Đầu tư năm 2008).
Đối với nhân viên ngoại giao nước ngoài và các tổ chức quốc tế tại Việt Nam, quyền sở hữu của họ sẽ được điều chỉnh bởi các điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc tham gia, tập quán quốc tế và Pháp lệnh về quyền ưu đãi miễn trừ dành cho cơ quan đại diện
. ằ ~ ` . .^A + nw , at x
ngoại giao, cơ quan lãnh sự và cơ quan đại diện của tổ chức quốc tế tại Việt Nam năm 1993.