Thực trạng bạo lực học dường

Một phần của tài liệu Báo cáo Đề dẫn hội thảo thực trạng và giải pháp ngăn chặn bạo lực học Đường trong trường phổ thông (Trang 62 - 71)

TÀI LIỆU THAM KHẢO

GIAC DO TIEP CAN LY THUYET XA HOI HOC

2. Thực trạng bạo lực học dường

Tẻ chức Y tế thế giới (1996) đã tuyên bó rằng, bao lực có liên quan đền sức khốc

cộng dồng và nhận diện nỏ như việc sử dụng vũ lực hộe quyền lực một cách cĩ chủ ý, đe đọa hoặc hành động, chóng lại chính mình, một người khác, hoặc chồng lại một

nhóm hay cộng đồng, kết quả là có nhiều khả năng không chỉ dẫn đến bị thương, tử vong, mà còn làm cho phát triển dị đạng thậm chỉ câ sự mắt mát tốn thương về tâm lý,

* Học viện Chính trị Khu vực IV

65

(dẫn theo Agnich, 20H: tr 1). Cỏ thể nói, bạo lực học đường đã tôn tại ở các trường hoc trong suốt lịch sử cũa giáo dục (Arios, 1962).

Ở Mỹ, có khoảng 389% các trường công lập báo cáo với cảnh sát có ít nhất một sự cổ bạo lực xảy ra ở trường học từ năm 2005-2006. Một nghiên cứn khác (2007) cũng,

cho thay rằng, có 5,9% học sinh từ lớp 9-12 mang vũ khí đến trường trong 30 ngày

trước khi cô cuộc kháo sát, có 7,8% học sinh đã từng bị đe dọa hoặc đã bị thương trong trưởng học trong suốt 12 tháng trước khi cỏ cuộc kháo sát, có 12,7% học sinh

đánh nhau trong trường học trong thời giang 12 thang trước khi có cuộc kháo sát (đân

theo Ông Thị Mai Thương, 2012). Điều này đã làm cho bạo lực họe dường được nhu

nhận rộng rấi ru là một. vẫn để xẽ hội rất nghiêm trọng (Bộ Tư pháp Hen Kỷ, 2005) và nó được xem như một địch bệnh (Elliott và cộng sự, 1998). Ở tại Anh quốc, tinh trạng bạo lục điễn ra cfing khả phức tạp. Trong năm 2007, cả nước đã xảy hon 10.000

vụ bạo lực học đường. Tính tảng công số học sinh dưới 16 tuổi bị đuổi học vi có hanh vi tấn công bạn củng trường là 65.390 vụ, tăng khoáng 2.720 vụ trong một năm (dẫn theo Ông Thị Mai Thương, 2012). Chính vì thể, các nghiên cửa (Cowie vả cộng sự,

2008; Cowie và cộng sự, 2002, 2003; Smith 2003) cho rằng, bạo lực học đường

không còn là một van dé x4 hôi nữa mà nó trở trành mỗi quan tâm hàng dẫu về chính.

trị ở Anh. Điều này có nghữa là, bạo lục học dường không là vấn dễ giải quyết giữa cá nhân với nhan mà nó trở thành mỗi quan tâm của các nhà chính trị, có lẽ, các nhà

chỉnh trị & Anh đã nhận thấy đạo đức trong học sinh, sinh viên ở đây có nguy cơ bị tha

héa và suy đối; sân xa hơn, nó đang đe đọa đến sự phát triển bên víng của quốc gia

Ở các nước đang phát triển, tỉnh trạng bạo lục diễn ra cũng khá phức tạp. Mức độ và tỉnh chất của nỏ ngày càng nghiệm trọng hơn. Có 60% học sinh tại các trường học ở Htlopian trong năm 1996 cho rằng, bạo lực có tác động tiêu cực đến hoạt động dạy và học cũng như những câm xúc của họ vá 40% cho rằng bỏ học vì bạo lực (BE, 1997)

Ở các mước Đông Nam Á, tình trạng bạo lực học dường cũng điễn ra tương bự.

Ở Việt Nam, trong những năm gần đây, bạo lực học đường đã trở thành vấn đề tức xúc toàn xã hội. Các vụ bạo lực học đường ngày càng tăng lèn Theo thống kẽ từ 38 Sở GD & ĐT gửi vẻ bộ từ năm 2003 đến năm 2009 có tới hơn 8.000 vụ học sinh tham sia đành nhau và bị xứ lý ký luật. Gần đây xáy ra nhiều vụ bạo lực học đường, như: nữ sinh tụ tập đảnh nhau hột đồng, làm nhục bạn, nam sinh dùng đao, kiếm, mã tâu chẻm nhau ngay trong trường học. Ở nhiều nơi, do mâu thuẫn wong tinh ban, tinh yêu đã dùng dao rach mal ban, dam chết bạn giữa sẵn trường!®. Cũng theo báo cáo của Bộ Giáo dục & Đảo tạo Việt Nam, năm học 2009 - 2010 trên toàn quốc đã xây ra hoảng 1.598 vụ việc học sinh đánh nhau ở trong và ngoài trường học, nhiều vụ có

tỉnh chất nguy hiểm, gây thương tích thâm chí tử vong (năm học 2009 - 2010 xảy ra 7 vụ, năm học 2010-2011 xảy ra 4 vụ học sinh danh nhau dẫn đến chết người ở trong và ngoài trường học) (l3áo cáo két qua giảm sát việc thực hiện chính sách, pháp luật

*° Báo Bài gòn giải phóng, 2009, hffp://spgp.org.vn/giaodne/2009/11/209696/

66

phỏng chống bao lực, xâm hại trẻ em giai doan 2008-2010 của Ủy ban Văn hóa, Giáo

dục, Thanh miễn, Thiêu miên và Nhĩ dồng của Quốc hội khóa VIL ngày 11 tháng 5 năm 2012)

Chính vi thế, táo giả Trân Thị Minh Đức (2012) đã nhận định rằng, đây là hiện tượng ngày cảng nhồ biến và có mức độ nguy hiểm. Đẳng tỉnh với nhận định trên, tác giả Nguyễn Thị Nga (2011) cũng cho thấy rằng, tỉnh trạng bắt nạn tại các trường học cũng khả nhiều. Các em học sinh nam thưởng có hành vĩ bạo lực và bị bắt nạt nhiều hơn hợc sinh nữ. Điều nảy cho thấy rằng, tỉnh trạng bạo lực học đường là nỗi ảm ánh:

đối với học sinh hiện may và khiến cho trôi trường học dường trở niên u ám. Do đó,

việc nhận điện các yếu tố lác động (lên hành vi bạo lực học dường sẽ gop phan lim

kiêm những giải pháp hữu hiệu để hạn chế tỉnh trạng này.

3. Nhận diện các yêu tổ tác động đến hành vi bạo lực học đường từ giác độ lý thuyết kiếm soát xã hội

Đại diện tiêu biểu của tưởng phải kiểm soát xã hội là Albert J. Reiss, Walter C.

Reckless, 1ravis Hirschi, Michael 8. Gottfredson va John Hagan. Lap twin chinh của thuyết kiểm soát xã hội là sự phạm tội bắt nguồn sâu xa từ sự yếu kém trong khả năng,

tự kiểm soát hành vị của cá nhân và thiểu vắng các biên phấp kiểm soát phú hợp từ

phía xã hội. Theo nghiên cứu của Nguyễn Chí Dũng và công sự (2010) cho rằng,

Albert J. Reiss (1951) đó lý giải rằng sự hư hỏng ử tuổi vị thành niờn là do cỏ nhõn

khéng tur kiểm soát được hảnh vỉ cũng như họ không bị chỉ phối bởi sự kiếm soát từ phía xã hội. Củng quan điểm của Reiss, Nye (1958) đã khái quát ba loại kiểm soát chủ

yêu khuyến khich sự tuần thủ chuẩn mực, ngăn cản cá nhân thực hiện các hành vị lệch chuẩn như kiểm soát trực tiếp, kiểm soát giản tiếp và tự kiểm soát", Đến 1961, Reckless công bố Thuyết Kiểm chế đã góp phần phát triển lý thuyết kiểm soát xã hội.

cr

Theo Nguyễn Chí Dũng và cộng sự (2010) phân tích luận ở Reckless che thay

rằng, cóc yếu tổ tạo sự kiểm chế bên trơng chủ yếu bao gồm ác yếu tố thuộc về bản than cả nhân nửnr sự tự kiếm soát, sự tự giác tuyệt đối trong việc trân thủ chuẩn mực

hay cên gọi là sự tự ý thức cao độ, Khả năng chịu đựng thất bại tốt, khả năng chồng lại

những cám đề, tỉnh thân trách nhiệm cao, kha nang tim kiếm và thay thế những, yêu tố kỷ vọng, định lướng mục tiêu.... Sự kiểm chế bên ngoái bao gồm những yếu tế thuộc về thể giới xung quanh cá nhân. Đỏ có thẻ là sự hiện diện của những giới bạn vẻ đạo

11 - Kiểm soát truc ti

thing qua hình phạt và sự khen thường. Cá nhân sẽ lí trừng phạt nêu

họ thực hiện hành vi vi phạm chuẩn rrực đồng thời sự tuân thử các chuẩn mực của cả nhân sẽ

được khuyến khích, khen thưởng.

- Kiểm soát giản tiếp: Đỏ là sự kiếm soát đến tử việc cá nhân lo sợ nếu hợ thực hiện hành vi

Tảo đó (hả có thể làm tổn thương hoặc ảnh hướng đến những người mà họ có môi quan hệ mật

thiết.

~ Tự kiểm soát: Cảm giác xấu hỗ hoặc lội lỗi sẽ ngăn cản cả nhân thực hig

chuẩn, khuyến khích sự tuân thủ chuẩn mực.

đành vị lệch

67

dức có tác dụng giữ cá nhân ở bên trong các giới hạn cho phép, những tác nhân thể chế khuyến khích sự Luân thủ chuẩn mục, các mục tiêu và sự kỳ vong, sự giảm sát của bó

mnẹ và nhà trường, sự đoàn kết trong các nhóm bạn bè, cơ hội đế được chấp nhận,

những quy định về hành vi và trách nhiệm, v.v. Chính những yêu tổ thuộc về câu trúc xã hội đỏ đã giúp cho gia định và các nhóm xã hội khác có thế kiêm chế được hành vi

của cá nhân.

Dén nim 1969, trong tac phẩm nỗi tiếng: “Các nguyễn nhân của sự hư hỏng tuổi vị thánh niên”, Travis Hirschi khi ly giải nguyễn nhân của sự hư hỏng ở tuổi vị thánh trên đã cho rằng, cá nhân sẽ thục hiện hành vị lệch chuận/phạm tội khi môi ràng buộc điển hệ) giữa họ với xã hội bị suy yêu hoặc biến mất. Thee Hirschi, cỏ bốn loại mối liên hệ? (ràng buộc) kết nối con người với xã hội và khuyến khích họ tuân thủ các chuẩn mực. Cả bến yếu tố này có thể tác động độc lập đên cá nhân, đồng thời chúng, cũng có quan hệ chặt chẽ với nhau và cùng ảnh hưởng đến hành vị cửa cá nhân. Bất kỳ sự suy yếu của yêu tố nảo cũng có thể dẫn đến sự suy yêu của các yếu tổ còn lại. Theo dé, khi bổn yếu tỏ nảy tên tại và có ảnh hưởng mạnh đến cá nhân thì cá nhân sẽ bị rảng buộc chặt chế với các chuẩn mực. Hới vậy, cá nhân bị kiểm chế đúng mức đề không thực hiện hành vị lệch chuẩn. Ngược lại, khi các yếu tô này sĩ

có thể bị dây đến chỗ thực liên các hành vị lêch chuẩn (xem Xgu‡

yêu thì cá nhân

nn Chi Dũng và

cộng sự, 2010).

Có thể nói, lý thuyết kiểm seát xã hội đã lý giải hành vi bạo lực học đường là da sụ thiểu vắng tính kiếm soát của ban thân, gia đỉnh và nhâ trường. Điều nay đã được kiểm định bằng các nghiên cửu rước diy. Chen (2008) đã kết hiận rằng, tình trạng bao lực ở học sinh liên quan đến đặc điểm tiêu cục của cả nhân (thải độ đổi với bạo lục, kiểm soát tính bốc đồng, tỉnh hưng hãng), sự giá sát của cha mẹ, sự kém tuân thủ quy

định ở nhà trường, sự ngược đãi (chứng kiến bạo lực, nạn thân của bụo lực), mỗi quan

hé không tốt. giữa giáo viên và học shh và các nguy cơ từ bạn bề. Nghiên cứu tổng

quan của Sarah Lindstem Iohnson (2009) cứng đã có phát hiện tương tự, học sinh có

nhận thức quy tắc của trường và tin tưởng họ cảng tết thỉ cảng ít có xu hướng bạo lực học đường điền ra. Khi đó, học sinh sẽ có môi quan hệ tich cực với giáo viên, cảm 1 _ Mức độ gắn bỏ với những người khác: Đó là mỗi quan hệ chặt chế với người khác, thừa nhận họ và quan tâm đến sự mong đợi từ phía họ. Nếu cả nhân cảng ít gắn bó, ít bị chỉ phối

béi ÿ kiến của người khac thi họ cảng it chịu áp lực từ phía ho.

- Sự cam kết: Dỏ lá việc cả nhân cổ gắng xây dụng một quy ước hoặc sự cam kết nảo đó theo.

Tướng tuân thủ chuẩn mực.

- Su sẵn bó với các hoạt động tích cực: Đó là tinh trang cả nhân chỉ quan tâm và đành thời sian chơ các hoạt động hợp chuẩn thông thường như: học tập, các quan hệ trong gia đình, tham gia các hoạt động vuí chơi giải trí lành mạnh tại các câu Tac bi

- Niềm tin Đó là sự tán thành các giá trị và chuẩn mực cửa công đồng xã hội, đặc biệt là niềm tỉn vào tính đúng đăn của hệ thông pháp lý và các quy tắc xã hội khác.

68

thấy thân thiện với ngôi trường của họ, cảm thấy môi trường, tích cực vả trật tự. Các nghiên gứu trong nước cũng có những phát hiện kha théng nhat voi các nghiên cửu trên thế giới. Nghiên cửu của các tác giã (Nguyễn Văn Lượt, 2009; Lê Thị Lan Anh, 2012) cũng đã kết luận rằng, các em kiểm chế câm xúc nóng giận càng ít, thất vọng,

đối với các quy định cảng lớn thị khả năng có hành vi bạo lực học đường cảng cao.

Ngoài ra, một nghiên củu khác của Nguyễn Thj Phuong Théo, Cao Lan Thi (2012) được thực hiện trên 340 học sinh từ lớp 8-12 của 8 trường trưng học cơ sở và trung,

học phổ thông trên địa bản thành phổ Hổ Chỉ Minh. Nhẻm tác giả này đã kết luận rằng, sự kẻm tuân thủ quy dịnh ở trường, ân tượng tiêu cực về trường hoe, thai dé déi với bạo lực và tình nóng nấy là một rong những nhân tổ tác động dến hành vị bạo lực

học đường của học sinh hign tray.

Nhu vay, bing chứng từ kết luận của các nghiên cứu trước đây đã góp phần củng cổ tính đúng đắn và hợp lý của lý thuyết kiếm soát xã hội về lý giải hành vi bao lực học đường. Diễu này có nghĩa là, càng thiểu vắng sự kiểm soát xã hội (bên trong và tên ngoài) thi học sinh có hành vi bạo lực học đường cảng nhiều. Do đó, tăng cường sự kiểm soát của nhả trường, gia đỉnh và rèn luyện những kỹ năng kiểm soát bản thân của học sinh là một trong những giải pháp lrờa hiệu dễ hạn chế tình trạng bạo lực học

dường hiện nay.

4. Nhận diện các yếu tô tác động đến hành vỉ bạu lực học đường tử giác độ lý thuyết bắt chước xã hội

Hanh vi bạo lực học đường không chỉ đo sự thiên vắng tính kiểm soát xã hói mà còn liên quan đền các yêu tổ khác như sự bắt chước hoặc có tần suất tiếp xúc với bạo lực. Dễ góp phản lý giải thoả đáng hơn về nguyên nhân của hành vi bạo lực học đường, bài viết còn nhận điện hành vi nay đười giác độ tiếp cận lý thuyết bắt chước xã hội.

Luận điểm cơ bản của khuynh hưởng lỷ thuyết này là cả nhân có thể bắt chước hành vị

phạm tội thông qua sự tiếp xúc với các quan niệm, thái độ của tội phạm.

Theo phân tích của nhóm nghiên cứu Nguyễn Chí Dũng và cộng sự (2010) cho

thấy rằng, quan nệm vẻ lý thuyết bắt chước xã hội của Sutherlznd và Akers đến khang

đình mỗi liên hệ mật thiết

sự hư hỏng và các quan hệ với những người bạn hư

héng. Trên thực tế cũng như vẻ mặt ty luận, cá nhân có thể bắt chước các hành vị lệch.

chuẩn từ cả những người hư hỏng cũng như những người “ngoan” hay “không hư hỏng”. Tuy nhiên, cũng cần phải định rằng bạn bè hư hỏng là nguồn gốc chủ

yếu cho su bat chước của cả nhân về các hành vị lệch chuẩn. Từ đó, Akers đã giới thiệu thuyết bắt chước xã hội ở tầm khải quất hơn với lập luận chủ yếu: cá nhân có thẻ ảnh ví phạm tội/lệch chudn thông qua sự bắt chước

và sự thôi thúc của nhiều yếu lồ. Các yêu lô đó lá: (1) Các mỗi quan hệ đa đang, đây là quả trình cá nhân được tiếp xúc, lương lác với các quan niệm, chuẩn rnực khác rau.

Theo Akers, nhém gia dinh va ban bè là nhóm xã hội có táo động khá mạnh mẽ đến

thành vi sai lệch của cá nhân, theo một nguyên tắc chung là những quan hệ diễn ra sớm nhất, kộo đài nhất, thường xuyờn nhất, thõn mật và gần gủi nhất thỡ sẽ cú ảnh hưởng nhiều nhất đến hành vi cũa cả nhân. (2) Các quan niệm, do là thải độ hoặc ý nghĩa mà cá

69

nhân gắn cho một hanh vi cu thé. Nếu cá nhân có thái độ phản đối một bành vị nào dé cảng quyết hệt thì anh ta cảng có ít khả năng thực hiển hành vị đó. Ngược lại, nếu cá

nhân có thái độ fing hé mét hành vi nào đó cảng mạnh mế thi khả năng anh ta thực hiện

hành vì đó càng cao. (3) Những tác nhân thúc đẩy hành vi: đây chính là sự cân nhắc giữa các phản thướng hoặc hình phạt mả cá nhân có thế nhận được nêu như anh ta trực hiện một hảnh vị lệch chuẩn/phạm tội. Theo Akers, việc cả nhân sẽ tiếp tục phạm tội hoặc không phạm tội phụ thuộc chủ yếu vào các phán ứng trong quả khử, hiện tại và tương lai (các phân thưởng và hình phạt). (4) Sự bat chước, đỏ lá sự thực hiện một

hành vi sau khi dã quan sát hành vị đỏ ở người khác. Việc bất chước các hành vi sẽ

phụ thuộc vào mô hình, loại hành vi cũng như những hậu quả gắn liền với các hành vị

dé. Ca hanh vì hợp chuấn, được xã hội ảng hộ cũng như hành vì lệch chuẩn đều chin ảnh hưởng từ sự quan sát các mô hình nồi bật xuất hiện trên truyền thông đại chúng và trong các nhóm sơ cấp. So với sự duy tri các mô hình hành vi, sự bắt chước có ảnh thưởng nhiều hơn đối với sự khởi đầu của các hành vì mới.

Thư vậy, theo quan niệm của lý thuyết bắt chước xã hội có thể giải thích bảnh vi bạo lực học đường là do sự bắt chước và tần suất tiếp xúc các hành vị bạo lực khá sớm; vì thế, các cá nhân đẻ có hành vi bạo lực hơn. Điều này dược phân tích khá rõ

trong các nghiên cứu trước đỏ. Bằng chứng trong phát hiện nghiện cứu của Singor và

cộng sự (2011) đã cho thấy rằng, lình rạng giáo dục của học sinh, đặc điểm về gia

đình, thối quan xem H vị, thỏi quen sử dụng máy tĩnh và việc tiếp xúc với bạo lực

trong quá khứ sẽ đự báo được hành vỉ bạo hựo của học sinh trong tương lai. Gan day,

một kết quả nghiên cứu tai Nam Phi cing cho thấy rằng, các em học sinh ching

bạo lực càng nhiều, sinh sống trong gia đỉnh thiếu hoặc có người phạm tội và cỏ nhiều

bạn bè có hành bị bạo lực thì cảng có xu hướng diễn ra bạo lực đối với người khác

Ngoài ra, cơ hội tiếp cận với rượu, thuốc phiện và vũ khí cảng nhiều thì khả nắng có

hành vị bạo lực càng cao (Patriek Burton and Lezanne Leoschut, 2012). Nghiên cửu

của lác

Hoảng Bá Thánh (2007) cũng đã giải llúch rằng, bạo lực gia đình đối với trẻ

em sẽ đề lại những hệ quả liều cực trong việc phát triển và hoàn thiện cách cửa trẻ Bằng chứng là, bạo lục sẽ có xu hướng chuyển giao hành vi nay cho thể hệ sau. Tác giả khẳng định, những người chứng kiến cảnh bao hrc hoặc chính họ là nạn nhân của bạo lực, sẽ ít nhiều tiếp nhận hành vi bạo lực đỏ trong tâm trí. Với trẻ em sống trong

gia đình có hành vi bạo lục, lớn lên ra ngoài xã hội có thể rụt rẻ, sợ hãi người khác,

không dám bảy tỏ suy ngHũ của minh, nhưng cũng có thể sử dụng bạo lực dẻ giải quyết những mâu thuần nấy sinh trong cuộc sống, Co 15,5% thanh thiểu niên phạm tội bạo

tục thì gia đình có mỗi bắt hòa, 14,3% là cha mẹ nghiện rượu, 2,6% là cha mẹ có hành

vỉ bạo lực đối với cơn cái. Nghiên củu còn thấy, kd cờn nhỏ tuổi bị lam dụng tình dục thì khi lớn lên cảng đễ bị phạm tội tình đục. (tr 40). Bổ sung các thần tổ ảnh hưởng đến

hành vi bạo lực học đường, nghiên oủu của tác giả Ông Thị Mai Thương (2012) cũng

cho thấy, nêu các em học sinh nao có mức độ gắn kết cảng chặt chẽ, tần suất cảng nhiều,

thời gian gia nhập nhóm không chính thức càng sớm thì khả năng có hành vi bạo lực cảng cao.

70

Một phần của tài liệu Báo cáo Đề dẫn hội thảo thực trạng và giải pháp ngăn chặn bạo lực học Đường trong trường phổ thông (Trang 62 - 71)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(233 trang)