Quyền chiếm hữu
Là quyền nắm giữ, quản lý tài sản thuộc sở hữu của mình. Trong trường hợpchủ sở hữu của mình. Trong trường hợp chủ sở hữu tự mình chiếm hữu tài sản củamình thì chủ sở hữu thực hiện mọi hành vi theo ý chí của mình để nắm giữ, quản lýtài sản. Việc chiếm hữu của chủ sở hữu là chiếm hữu có căn cứ pháp luật bị hạn chếgiai đoạn thời gian.
Quyền chiếm hữu bao gồm hai loại:
- Chiếm hữu có căn cứ pháp luật (chiếm hữu hợp pháp):
+ Chủ sở hữu chiếm hữu taìo sản;
+ Chủ sở hữu uỷ quyền quản lý tài sản trong phạm vi uỷ quyền;
+ Được chuyển giao quyền chiếm hữu thông qua các giao dịch dân sự phù hợpvới ý chí của chủ sở hữu (người đang chiếm hữu hợp pháp chỉ được sử dụng hoặcchuyển giao quyền chiếm hữu tài sản cho người khác nếu được chủ sở hữu đồng ý);
+ Người phát hiện và giữ tài sản vô chủ, tài sản không xác định được chủ sở hữu,tài sản bị đánh rơi, bị bỏ quên, bị chôn giấu, bị chìm đắm phù hợp với các điều kiệndo pháp luật qui định;
+ Người phát hiện và giữ gia súc, gia cầm, vật nuôi dưới nước bị thất lạc phù hợpvới các điều kiện do pháp luật quy định và các trường hợp khác do pháp luật quy định.Chẳng hạn Điều 242 qui định: ”Người bắt được gia súc bị thất lạc phải nuôi giữ và
báo cho UBND xã, phường, thị trấn
nơi người đó cư trú để thông báo công khai chochủ sở hữu biết mà nhận lại“. Trong thời gian chủ sở hữu chưa đến nhận lại thì
làchiếm hữu hợp pháp.
- Chiếm hữu tài sản không có căn cứ pháp luật (chiếm hữu bất hợp pháp). Chiếmhữu bất hợp pháp là bị chiếm hữu không dựa trên cơ sở pháp luật nên không được pháp luật thừa nhận.
+ Chiếm hữu không có căn cứ pháp luật nhưng ngay tình là hợp người chiến hữukhông biết và không thể biết mình chiếm hữu không dựa trên cơ sở pháp luật.
+ Chiếm hữu không có căn cứ pháp luật không ngay tình đó là trường hợp ngườichiếm hữu biết hoặc pháp luật buộc phải biết là mình chiếm hữu không dựa trên cơ sở pháp luật.
Việc xác định chiếm hữu ngay tình hay không ngay tình thực trên hết sức khó khăn,do vậy phải dựa vào nhiều yếu tố: trình độ nhận thức, thời gian, địa điểm, giá trị tàisản,...Việc phân biệt này có ý nghĩa lý luận và thực tiễn đó là: trong trường hợp chiếmhữu không có căn cứ pháp luật nhưng ngay tình thì nếu chiếm giữ liên tục, công khaimột thời hạn do luật định, hết thời hạn đó có thể trở thành chủ sở hữu tài sản đó. Ngoài ra, người chiếm hữu còn có quyền khai thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi tứctừ tài sản. Ngược lại, người chiếm hữu bất hợp pháp không ngay tình thì trong
mọitrường hợp phải trả lại tài sản kể cả hoa lợi, lợi tức thu được từ việc khai thác côngdụng của tài sản, nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường.
b. Quyền sử dụng
Là quyền khai thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài
sản, nghĩalà chủ sở hữu có quyền khai thác giá trị tài sản theo ý chí của mình bằng những cáchthức khác nhau nhằm thoả mãn nhu cầu vật chất tinh thần của bản thân miễn là khônggây thiệt hại và làm ảnh hưởng đến lợi ích Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền và lợiích hợp pháp của người khác. Cũng như quyền chiếm hữu, quyền sử dụng không chỉthuộc về chủ sở hữu tài sản mà còn thuộc về những người không phải chủ sở hữunhưng được chủ sở hữu giao quyền hoặc theo qui định của pháp luật (người mượn tàisản, thuê tài sản thông qua các hợp đồng dân sự,...).
Ngoài ra, pháp luật còn qui định người chiếm hữu không có căn cứ pháp luật nhưngngay tình cũng có quyền khai thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản theoqui định pháp luật. Bởi
lẽ, những người này họ hoàn toàn không biết mình đang chiếmhữu tai sản mà không có căn cứ luật định.
c. Quyền định đoạt
Điều 195 Bộ luật Dân sự qui định: “Quyền định đoạt là
quyền chuyển giao quyềnsở hữu tài sản hoặc bỏ quyền sở hữu đó“. Như vậy chủ sở hữu thực hiện quyền địnhđoạt của mình
thông qua việc quyết định “số phận“ pháp lý hoặc “số phận“ thực tếcủa tài sản. Người không phải chủ sở hữu cũng có quyền định
đoạt tài sản theo uỷquyền của chủ sở hữu hoặc theo quy định của pháp luật.
- Định đoạt “số phận“ pháp lý tài sản: tức là chuyển quyền sở hữu của mình chongười khác thông qua các giao dịch dân sự như: ký kết hợp đồng mua bán, hợp đồngtặng cho tài sản...
- Định đoạt “số phận“ thực tế của tài sản: chủ sở hữu bằng hành vi của mình làmcho tài sản không còn trong thực tế như sử dụng hết hoặc tiêu huỷ tài sản. Tuy nhiên,đối với một số loại tài sản thì khi thực hiện quyền định đoạt phải tuân theo những quiđịnh khác của pháp luật. Theo qui định của pháp luật chủ sở hữu có thể tự mình thựchiện quyền định đoạt hoặc uỷ quyền cho người khác thực hiện quyền định đoạt tài sản(thông qua việc bán đại lý hàng hoá). Để thực hiện quyền định đoạt thì chủ sở hữuhoặc người được chủ sở hữu uỷ quyền phải đảm bảo năng lực chủ thể theo qui địnhcủa pháp luật, chẳng hạn lập di chúc hoặc bán nhà thì nguyên tắc phải từ đủ 18 tuổitrở lên, có khả năng nhận thức và điều khiển hành vi để tránh tình trạng bị lừa dối hay bị cưỡng ép,...
Quyền định đoạt của chủ sở hữu bị hạn chế trong một số trường hợp sau:
- Chỉ trong trường hợp do pháp luật quy định.
- Khi tài sản đem bán là di tích lịch sử, văn hoá thì Nhà nước có quyền ưu tiênmua.
Trong trường hợp pháp luật qui định quyền ưu tiên mua cho cá nhân, pháp nhân haychủ thể khác đối với một tài sản nhất định thì khi bán tài sản đó chủ sở hữu phảigiành quyền ưu tiên
mua cho các chủ thể đó.
Tóm lại:
Từng quyền năng trong nội dung quyền sở hữu có thể do chủ sở hữu hoặcngười không phải chủ sở hữu thực hiện, nhưng việc thực hiện không mang tính độclập mà phụ thuộc vào ý chí của chủ sở hữu, chỉ có chủ sở hữu mới có quyền thực hiệnmột cách độc lập không phụ thuộc vào người khác. Cả ba quyền trên tạo thành mộtthể thống nhất trong nội dung quyền sở hữu, có mối quan hệ mật thiết với nhau nhưngmỗi quyền năng lại mang một ý nghĩa khác nhau.