Các điều kiện của trách nhiệm bồi thường thiệt hại

Một phần của tài liệu Đề cương ôn tập Luật dân sự 1 và 2 (Trang 323 - 333)

CHƯƠNG 7. NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNGVỀ TRÁCH NHIỆM BỒI

I. KHÁI NIỆM VÀ CÁC ĐIỀU KIỆN CỦA TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNGTHIỆT HẠI NGOÀI HỢP ĐỒNG (TNBTTH)

2. Các điều kiện của trách nhiệm bồi thường thiệt hại

a. Có thiệt hại xảy ra

Thiệt hại là sự mất mát hoặc giảm sút những lợi ích vật chất hoặc tinh thần được pháp luật bảo vệ. Thiệt hại trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng phải

Activity (66)

Ý kiến bình luận của về cách giải quyết của hai cấp Toà án. Đưa ra cách giải quyết theo pháp luật hiện hành.

Tình huống 3:

Đất của cha mẹ tôi có sổ đỏ. Năm 1996, cha mẹ tôi cho tôi đất vàonhưng chưa làm thủ tục tặng cho tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Năm 2004, tôichuyển nhượng đất này cho người khác và họ yêu cầu cha mẹ tôi ký tên vào hợp đồng chuyển nhượng. Như vậy có đúng pháp luật không? Sau khi làm thủ tục chuyểnnhượng tại UBND xã bên nhận chuyển nhượng không thanh toán đủ tiền như đã thoảthuận tôi phải làm sao? Nếu huỷ hợp đồng tôi phải bồi thường không?

Nguyễn Quốc Tuấn

(Xã Núi Tượng, huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai) Là Luật sư tư vấn hãy

trả lời cho bạn Tuấn.

Tình huống 4:

Theo đơn khởi kiện của nguyên đơn (bà Hạnh), năm 1994, bà Hạnhnhận chuyển nhượng diện tích đất 2.000m2 tại P.Thảo Điền, Q.2, TP.HCM của Côngty Dịch vụ công ích Q.4, TP.HCM bằng hợp

đồng số 180 ngày 10.10.1994 với giáchuyển nhượng là 390 lượng vàng, bà Hạnh đã đóng tiền đợt 1 là 240 lượng vàng.Cùng ngày ký hợp đồng này, bà Hạnh chuyển nhượng diện tích trên cho bà Hoa, đồngthời có làm đơn xin đổi tên hợp đồng chuyển nhượng đất từ tên bà Hạnh sang tên ôngHồ Văn Thuận (chồng bà Hoa), bà Hoa đãỏ giao lại bà Hạnh 240 lượng vàng. Sau đó,Công ty Dịch vụ công ích Q.4 đã ra hợp đồng chuyển nhượng đất cho ông Thuận cùngvới số hợp đồng cũng như ngày ký kết hợp đồng cho bà Hạnh. Sau đó, với lý do vợ chồng bà Hoa, ông Thuận không thực hiện nghĩa vụ thanh toán số vàng còn thiếu vớiCông ty Dịch vụ công ích Q.4 cũng như thanh toán số vàng chuyển nhượng còn thiếu, bà Hạnh khởi kiện, yêu cầu tòa hủy hợp đồng giữa Công ty dịch vụ công ích Q.4 vẵng Hồ Văn Thuận (chồng bă Hoa).

Sau khi xét xử, Tòa án Nhân dân TP.HCM tuyên hợp đồng giữa Công ty Dịchvụ công ích Q.4 và ông Hồ Văn Thuận vô hiệu theo đúng yêu cầu của bà Hạnh. Tòacũng cho rằng hai bên xác định lô đất mua từ năm 1994 đến nay vẫn không có chênhlệch giá trị, không có thiệt hại xảy ra nên sau 12 năm bỏ ra 240 lượng vàng để nhậnchuyển nhượng đất nhưng bà Hoa chỉ được nhận lại đúng 240 lượng vàng, còn lô đấttrên (trị giá hàng ngàn lượng vàng theo thời giá hiện tại) sẽ trở thành tài sản của bàHạnh (phần 150 lượng vàng còn lại phải nộp cho Công ty Dịch vụ công ích Q.4 sẽ chỉđược thực hiện theo tiến độ xây dựng hạ tầng). Như vậy, số tiền mà nguyên đơn (bàHạnh) được hưởng lợi qua phán quyết này là rất lớn, trong khi bị đơn (bà Hoa) sẽ làngười thiệt đơn, thiệt kép và

trên thực tế, phán quyết của toà sơ thẩm đã bỏ qua nhiềutình tiết, chứng cứ quan trọng mà bên bị đã trình bày trước toà.

Nhận xét và bình luận:

Sau khi tòa tuyên, bà Hoa đã kháng cáo, đồng thời gửiđơn bức xúc kêu cứu đến các cơ quan chức năng và công luận vì cho rằng bản án sơ thẩm đã tuyên là thiếu căn cứ pháp luật, không khách quan và phiên tòa sơ thẩm đã bỏ

qua một số tình tiết hết sức quan trọng trong quá trình điều tra, xét xử vụ án. Theo bàHoa, thực chất vợ chồng bà là nạn nhân của một vụ lừa đảo với một kịch bản hết sứchoàn hảo do bà Hạnh và một số đối tượng khác dựng lên vì trên thực tế bà Hoa đã nhờ bà Hạnh mua giúp đất này (chứ không phải là bà Hạnh chuyển

nhượng đất cho bà Hoanhư nhận định của Toà sơ thẩm). Chứng cứ quan trọng thể hiện tình tiết này là giấyviết tay ký ngày

10.10.1994 của bà Hạnh với nội dung "đóng giùm cho Hồ Văn Thuậnhiện ở 43 Trần Phú -Gia Lai với số tiền là 240 lượng vàng 4 số 9 để mua 2.000m2 đấtở Công ty phát triển nhà Q.4" (nay là Công ty Dịch vụ công ích Q.4-PV). Không hiểuvô tình hay cố ý, tình tiết quan trọng này đã bị toà sơ thẩm "bỏ quên" không hề xemxét. Mặt khác, việc Công ty Dịch vụ công ích Q.4 không thanh lý hợp đồng với bàHạnh trước khi ký kết lại hợp đồng với ông Thuận theo luật định, cũng như ký hợpđồng với ông Thuận trùng số hợp đồng, ngày, tháng, năm với hợp đồng ký kết với bàHạnh là việc làm sai pháp luật, song tình tiết này cũng đã bị toà sơ thẩm bỏ qua,không xét đến.Mặt khác, hợp đồng số 180 mà Công ty

Dịch vụ công ích Q.4 ký kếtvới ông Thuận cách đây 12 năm là một dạng hợp đồng có điều kiện, chỉ được hoàn tấtkhi bên ông Thuận thanh toán đầy đủ tiền theo từng đợt và bên Công ty hoàn tất thủtục giấy tờ sở hữu sử dụng và hiện đang được các bên tiếp tục thực hiện. Nguyên đơn(bà Hạnh) không còn bất cứ quyền và nghĩa vụ nào liên quan đến hợp đồng này kể từkhi có đơn xin chuyển tên hợp đồng cho ông Thuận. Vì vậy, việc nguyên đơn yêu cầutoà tuyên huỷ hợp đồng nói trên là hoàn toàn không có căn cứ pháp lý. Cũng vì vậy,việc toà sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và tuyên hợp đồng nóitrên vô hiệu là hết sức phi lý.

Càng phi lý hơn khi bản án sơ thẩm tuyên nguyên đơn(bà Hạnh) trả lại tiền cho bị đơn (bà Hoa) để tiếp tục thực hiện hợp đồng 180 vớiCông ty, vì trên thực tế nếu hợp đồng trên là vô hiệu thì các bên phải hoàn trả nhaunhững gì đã nhận, tức bên Công ty Dịch vụ công ích Q.4 phải trả lại tiền cho ôngThuận và ông Thuận phải trả lại đất cho công ty.

Hãy viết nhận xét và bình luận theo cách của bạn (không quá 10 dòng).

CHƯƠNG 7. NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNGVỀ TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI NGOÀI HỢP ĐỒNGTài liệu tham khảo:Bộ luật dân sự năm 1995, năm 2005; Nghị quyết số 03/2006/NQ-HĐTP ngày 08tháng 07 năm 2006 hướng dẫn áp dụng một số quy định của BLDS 2005 về bồithường thiệt hại ngoài hợp đồng; Nghị quyết

388/NQ-QH về bồi thường thiệt hại chongười bị oan do người có thẩm quyền trong tố tụng hình sự gây ra.

Các nội dung chính cần tập trung:

Các yếu tố làm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng; nănglực chịu trách nhiệm bồi thường của cá nhân; xác định thiệt hại; bồi thường thiệt hạido nguồn nguy hiểm cao đọ gây ra và một số trường hợp khác,...

I. KHÁI NIỆM VÀ CÁC ĐIỀU KIỆN CỦA TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNGTHIỆT HẠI NGOÀI HỢP ĐỒNG (TNBTTH)

1. Khái niệm, đặc điểm của TNBTTH ngoài hợp đồng

Điều 604 Bộ luật Dân sự quy định: Người nào có lỗi cố ý hoặc vô ý xâm phạm đếntính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, các quyền, lợi ích hợp phápkhác của cá nhân, xâm phạm danh dự, uy tín, tài sản của pháp nhân hoặc các chủ thểkhác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường.

Như vậy, cơ sở của trách nhiệm bồi thường là những quy định của pháp luật (quyđịnh những hậu quả pháp lý ngoài mong muốn của các chủ thể) không có sự thỏathuận trước của các bên và chỉ phát sinh khi đảm bảo các điều kiện luật định.

Đặc điểm của TNBTTH ngoài hợp đồng:

- TNBTTH ngoài hợp đồng là một loại trách nhiệm pháp lý, nhưng nó không phảilà hình phạt như trong Luật hình sự hoặc các chế tài của Luật hành chính mà là nghĩavụ của người có nghĩa vụ nhằm khắc phục những thiệt hại xảy ra. Luật hình sự coi bồithường thiệt hại là biện pháp tư pháp (xem Điều 42 Bộ luật Hình sự 1999).

- Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng được áp dụng trong trường hợpgiữa các bên (bên gây thiệt hại và bên bị thiệt hại) không có quan hệ nghĩa vụ theohợp đồng hoặc việc gây ra thiệt hại không liên quan đến việc thực hiện nghĩa vụ theohợp đồng (như hai bên ký hợp đồng vận chuyển hành khách, nhưng gây thiệt hại tínhmạng, sức khỏe cho hành khách trên xe).

- Trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng thì các quyền và nghĩavụ của các bên do pháp luật quy định.

2. Các điều kiện của trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng

a. Có thiệt hại xảy ra

Thiệt hại là sự mất mát hoặc giảm sút những lợi ích vật chất hoặc tinh thần được pháp luật bảo vệ. Thiệt hại trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng phải

là thiệt hại thực tế về tài sản hoặc tổn thất về tinh thần dẫn đến thiệt hại về tài sản cóthể tính được bao gồm :

* Thiệt hại vật chất :

+ Những chi phí phải bỏ ra (chi phí hợp lý để ngăng chặn, hạn chế, khắc phục thiệthại)

+ Những hư hỏng, mất mát về tài sản.

+ Thu nhập thực tế bị mất, bị giảm sút

* Thiệt hại tinh thần (tổn thất tinh thần):

Đời sống tinh thần là một phạm trù rất rộng, bao gồm nhiều vấn đề và chỉ tồn tại đốivới xã hội loài người như góa bụa, mồ côi, xấu hổ,... Về nguyên tắc, không thể tínhđược bằng tiền như trao đổi ngang giá và không thể phục hồi được. Với mục đích anủi, động viên đối với người bị thiệt hại tinh thần, đồng thời răn đe ngăn chặn đối vớinhững người có hành vi trái pháp luật, BLDS quy định nếu các bên không thoả thuậnđược thì Toà án quyết định:

- Thiệt hại về sức khoẻ thì mức bồi thường thiệt hại tinh thần do các bên thoả thuận,nếu không thoả thuận được thì mức tối đa không được vượt quá 30 tháng lương tốithiểu do Nhà nước quy định vào thời điểm bồi thường.

- Thiệt hại về tính mạng thì mức bồi thường thiệt hại tinh thần do các bênthoả thuận, nếu không thoả thuận được thì mức tối đa không được vượt quá 60 thánglương tối thiểu do Nhà nước quay định vào thời điểm bồi thường.

- Thiệt hại về danh dự, nhân phảm thì mức bồi thường thiệt hại tinh thần do các bênthoả thuận, nếu không thoả thuận được thì mức tối đa không được vượt quá 10 thánglương tối thiểu do Nhà nước quay định vào thời điểm bồi thường.

b. Hành vi gây thiệt hại là hành vi trái pháp luật

Trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng thì hành vi gây thiệt hại phảilà hành vi trái pháp luật xâm phạm các khách thể được pháp luật bảo vệ như tínhmạng, sức khỏe, tài sản, danh dự, nhân phẩm. Như vậy, hành vi trái pháp luật có thể làvi phạm hình sự, vi phạm pháp luật dân sự hoặc vi phạm các quy tắc quản lý hànhchính,... Đối với những trường hợp mặc dù gây thiệt hại thực tế nhưng hành vi gâythiệt hại không trái pháp luật thì người gây thiệt hại không phải bồi thường: gây thiệthại trong tình thế cấp thiết, phòng vệ chính đáng (Điều 617, Điều 618). Khi xem xét

hành vi của người gây thiệt hại có trái pháp luật hay không cần phải căn cứ vào phápluật nói chung và các quy định của pháp luật dân sự nói riêng.

c. Người gây thiệt hại có lỗi

Người gây thiệt hại phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại khi họ có lỗi. Điều604 BLDS quy định: ”

Người nào do lỗi cố ý hoặc vô ý gây thiệt hại thì phải bồithường

”. Do vậy, lỗi được biểu hiện dưới hai hình thức: cố ý gây thiệt hại và vô ý gâythiệt hại.

- Cố ý gây thiệt hại là trường hợp một người nhận thức rõ hành vi của mình sẽ gâythiệt hại cho người khác mà vẫn thực hiện và mong muốn hoặc không mong muốnnhưng để mặc cho thiệt hại xảy ra.

- Vô ý gây thiệt hại là một người không thấy trước hành vi của mình có khả nănggây ra thiệt hại mặc dù phải biết trước thiệt hại sẽ xảy ra hoặc thấy trước hành vi củamình có khả năng gây ra thiệt hại, nhưng cho rằng thiệt hại sẽ không xảy ra hoặc cóthể ngăn chặn được.

Lỗi trong trách nhiệm dân sự trong một số trường hợp có thể được suy đoán bởilẽ hành vi gây thiệt hại trái pháp luật nên người thực hiện hành vi đó bị suy đoánlà có lỗi. Nếu những người gây thiệt hại chứng minh được mình không có lỗi thìkhông phải chịu trách nhiệm bồi thường (trừ trường hợp pháp luật có quy định

khác). Nếu người giám hộ chứng minh được mình không có lỗi trong việc giám hộ thìkhông phải lấy tài sản của mình để bồi thường.

d. Có mối quan hệ nhân qủa giữa thiệt hại xảy ra và hành vi trái pháp luật

Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng chỉ phát sinh khi thiệt hại xảy ralà do chính kết quả tất yếu của hành vi trái pháp luật. Đây là mối quan hệ của sự vậnđộng nội tại và nguyên nhân luôn phải diễn ra trước kết quả trong một thời gian nhấtđịnh. Tuy nhiên, trong thực tế một thiệt hại xảy ra có thể do nhiều nguyên nhân khácnhau, nếu chưa xác định được hành vi trái pháp luật làm nguyên nhân gây ra thiệt hạithì chưa buộc người có hành vi đó phải bồi thường. Khi xác định nguyên nhân gây rathiệt hại cần xác định nguyên nhân trực tiếp, nguyên nhân gián tiếp,...và phân biệtnguyên nhân với điều kiện để làm cơ sở xác định trách nhiệm bồi thường.

Một phần của tài liệu Đề cương ôn tập Luật dân sự 1 và 2 (Trang 323 - 333)

Tải bản đầy đủ (DOCX)

(363 trang)
w