Giao kết, thực hiện hợp đồng

Một phần của tài liệu Đề cương ôn tập Luật dân sự 1 và 2 (Trang 248 - 265)

II. GIAO KẾT, THỰC HIỆN HỢP ĐỒNG VÀ CÁC BIỆN

1. Giao kết, thực hiện hợp đồng

a, Giao kết hợp đồng * Đề nghị giao kết hợp đồng

Các chủ thể có ý định thiết lập quan hệ hợp đồng thì phải thể hiện ý muốn củamình bằng một hình thức nhất định. Thông qua sự thể hiện đó mà bên kia biết được ýmuốn và từ đó mới có thể đi đến

việc giao kết hợp đồng. Để đối tác biết và hình dungđược hợp đồng đó như thế nào thì người đề nghị phải đưa ra những thông tin một cáchtương đối cụ thể, rõ ràng thông qua những hình thức khác nhau : trao đổi qua điệnthoại, fax, quảng cáo, nhắn tin, treo biển ,... Trong trường hợp một bên đề nghị bênkia giao kết hợp đồng có nêu rõ nội dung chủ yếu của hợp đồng và thời hạn trả lời có

Activity (66)

- Hợp đồng song vụ là hợp đồng mà mỗi bên đều có quyền và nghĩa vụ đối vớinhau. Trong hợp đồng này mỗi bên chủ thể vừa là người có quyền vừa là người cónghĩa vụ. Quyền dân sự của bên này là nghĩa vụ dân sự của bên kia và ngược lại.Chẳng hạn hợp đồng mua bán, hợp đồng thuê tài sản, ...

Hợp đồng đơn vụ là hợp đồng mà chỉ một bên có nghĩa vụ.

Trong hợp đồng nàymột bên có nghĩa vụ mà không có quyền gì đối với bên kia và bên kia là ngườicó quyền mà không phải chịu thực hiện bất cứ nghĩa vụ gì. Chẳng hạn hợp đồng tặngcho tài sản (Điều 461) .

- Hợp đồng chính là hợp đồng mà hiệu lực không phụ thuộc vào hợp đồng khác.

Hợp đồng phụ là hợp đồng mà hiệu lực phụ thuộc vào hợp đồng chính.

- Hợp đồng vì lợi ích của người thứ ba là hợp đồng mà các

bên giao kết hợp đồngđều phải thực hiện nghĩa vụ và người thứ ba được hưởng lợi ích từ việc thực hiệnnghĩa vụ đó. Chẳng hạn hợp đồng bảo hiểm đối với hành khách (công ty xe kháchmua bảo hiểm cho hành khách đi trên phương tiện giao thông đó).

Hợp đồng này có đặc điểm như sau:

+ Người thứ ba không tham gia ký kết hợp đồng, không bày tỏ ý chí trong việctham gia vào quan hệ hợp đồng.

+ Người thứ ba được hưởng các lợi ích từ việc các chủ thể khác tham gia ký kếthợp đồng.

- Hợp đồng có điều kiện .

4. Nội dung của hợp đồng

Nội dung của hợp đồng là tổng hợp các điều khoản mà các bên tham gia giao kếthợp đồng đã thỏa thuận. Tùy theo từng loại hợp đồng dân sự các bên có thể thỏa thuậnnhững nội dung sau:

+ Đối tượng của hợp đồng là tài sản phải giao, công việc phải làm hoặc khôngđược làm;

+ Số lượng, chất lượng;

+ Giá cả, phương thức thanh toán;

+ Thời hạn, địa điểm, phương thức thực hiện hợp đồng;

+ Quyền và nghĩa vụ của các bên;

+ Trách nhiệm do vi phạm hợp đồng.

Ngoài ra các bên có thể thỏa thuận những nội dung khác. Căn cứ vào giá trị pháp lýcủa các điều khoản cam kết trong hợp đồng có thể phân thành:

- Điều khoản căn bản:

là các điều khoản không thể thiếu được của một hợp đồng,nếu các bên tham gia chưa thỏa thuận được những điều khoản căn bản thì hợp đồngcoi như chưa được ký kết. Chẳng hạn: đối tượng, giá cả, chất lượng (trong hợp đồngmua bán), đối tượng, địa điểm, giá cả (hợp đồng vận chuyển hàng hóa),...

- Điều khoản thông thường:

là những điều khoản pháp luật đã quy định, nếu khigiao kết hợp đồng các bên không thỏa thuận thì những điều khoản này mặc nhiênđược công nhận và thực hiện. Đối với các điều khoản này các bên có thể thỏa thuậntrong hợp đồng hoặc không thỏa thuận trong hợp đồng, nhưng khi có tranh chấp xảyra cơ quan có thẩm quyền căn cứ vào các quy định của pháp luật để giải quyết.

Chẳnghạn: khoản 1 Điều 482 về hợp đồng thuê tài sản thì bên cho thuê phải sửa chữa hưhỏng, khuyết tật của tài sản cho thuê,

những hư hỏng nhỏ theo tập quán bên thuê phảitự nguyện sửa chữa.

- Điều khoản tùy nghi:

xuất phát từ nguyên tắc tự do, tự nguyện cam kết thỏa thuậnđược pháp luật dân sự quy định, trong quan hệ hợp đồng pháp luật cho phép các chủthể giao kết hợp đồng thỏa thuận các điều khoản ngoài những điều khoản cơ bảnnhưng không được trái pháp luật và đạo đức xã hội.

II. GIAO KẾT, THỰC HIỆN HỢP ĐỒNG VÀ CÁC BIỆN PHÁP BẢO ĐẢMTHỰC HIỆN HỢP ĐỒNG

1. Giao kết, thực hiện hợp đồng

a, Giao kết hợp đồng * Đề nghị giao kết hợp đồng

Các chủ thể có ý định thiết lập quan hệ hợp đồng thì phải thể hiện ý muốn củamình bằng một hình thức nhất định. Thông qua sự thể hiện đó mà bên kia biết được ýmuốn và từ đó mới có thể đi đến

việc giao kết hợp đồng. Để đối tác biết và hình dungđược hợp đồng đó như thế nào thì người đề nghị phải đưa ra những thông tin một cáchtương đối cụ thể, rõ ràng thông qua những hình thức khác nhau : trao đổi qua điệnthoại, fax, quảng cáo, nhắn tin, treo biển ,... Trong trường hợp một bên đề nghị bênkia giao kết hợp đồng có nêu rõ nội dung chủ yếu của hợp đồng và thời hạn trả lời có

nêu rõ nội dung chủ yếu của hợp đồng và thời hạn trả lời thì

không được mời ngườithứ ba giao kết hợp đồng và phải chịu trách nhiệm về đề nghị của mình (Điều 396BLDS). Trong trường hợp này lời đề nghị chưa phải hợp đồng dân sự nhưng có tínhràng buộc khi có các yếu tố:

+ Bên được đề nghị phải được chỉ đích danh.

+ Trong lời đề nghị có nêu rõ nội dung chủ yếu của hợp đồng và ấn định một thờigian trả lời.

Chấp nhận giao kết hợp đồng

Là việc bên được đề nghị đồng ý tiến hành việc giao kết hợp đồng với người đềnghị.

Về nguyên tắc bên được đề nghị phải trả lời ngay có chấp nhận việc giao kết hợpđồng hay không, trừ trường hợp có thỏa thuận về

thời hạn trả lời. Trong trường hợpviệc trả lời được chuyển qua bưu điện thì thời điểm trả lời là ngày gửi đi theo dấu của bưu điện.

* Thay đổi, rút lại, chấm dứt đề nghị giao kết hợp đồng dân sự.

- Bên đề nghị có thể thay đổi hoặc rút lại đề nghị giao kết hợp đồng dân sự, nếu bên được đề nghị chưa nhận được đề nghị hoặc trong trường hợp bên đề nghị có nêurõ điều kiện được thay đổi hoặc rút lại đề nghị. Trong trường hợp bên đề nghị thay đổinội dung, điều kiện của đề nghị thì đề nghị đó được coi là đề nghị mới.

- Đề nghị giao kết hợp đồng dân sự chấm dứt khi bên nhận được đề nghị trả lờikhông chấp nhận hoặc chậm trả lời chấp nhận hoặc hết thời hạn trả lời, mà khôngnhận được trả lời của bên được đề nghị giao kết. Nếu bên được đề nghị đã trả lời chấpnhận giao kết hợp đồng, nhưng có nêu điều kiện hoặc sửa đổi đề nghị thì sự trả lờichấp nhận coi như đề nghị mới giao kết hợp đồng dân sự.

b, Thực hiện hợp đồng và trách nhiêm do không thực hiện nghĩa vụ theo hơp đồng

Khi các bên đã cam kết thoả thuận các điều khoản trong hợp đồng thì phải thựchiện đúng và đầy đủ các điều khoản đó

và không được vi phạm, nếu vi phạm thì phảichịu trách nhiệm dân sự. Khoản 1 Điều 302 BLDS quy định: "Người có nghĩa vụ

màkhông thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ dân sự thì phải chịu trách nhiệmdân sự đối với người có quyền".

Căn cứ vào tính chất, hậu quả của sự vi phạm nghĩa vụ mà trách nhiệm do vi phạmnghĩa vụ theo hợp đồng gồm:

* Trách nhiệm phải thực hiện nghĩa vụ dân sự - Trách nhiệm do chậm thực hiện nghĩa vụ dân sự (Điều 305).

+ Khi nghĩa vụ dân sự chậm được thực hiện thì người có quyền có thể gia hạn đểngười có nghĩa vụ hoàn thành nghĩa vụ nếu quá thời hạn này thì theo yêu cầu củangười có quyền thì người có nghĩa vụ vẫn phải thực hiện nghĩa vụ và bồi thường thiệthại; nếu việc thực hiện không cần thiết đối với người có quyền nữa thì có quyền từchối tiếp nhận và yêu cầu bồi thường thiệt hại.

+ Trong trường hợp người có nghĩa vụ chậm trả tiền thì người đó phải trả lãi đối vớisố tiền chậm trả theo lãi suất nợ quá hạn do Ngân hàng Nhà nước công bố tương ứngvới thời gian chậm trả vào thời điểm thanh toán (trừ trường hợp có thỏa thuận kháchoặc pháp luật có quy định khác).- Trách nhiệm do không thực hiện nghĩa vụ giao vật (Điều 303)

Khi người có nghĩa vụ không thực hiện nghĩa vụ giao vật đặc định thì những ngườicó quyền được quyền yêu cầu người có nghĩa

vụ phải giao đúng vật đó; nếu vậtkhông còn hoặc bị hư hỏng, thì phải thanh toán giá trị của vật và bồi thường thiệt hại.

Trong trường hợp người có nghĩa vụ không thực hiện được nghĩa vụ giao vật cùngloại, thì phải thanh toán giá trị của vật và phải bồi thường thiệt hại.

* Trách nhiệm do không thực hiện một công việc hoặc không được thực hiện mộtcông việc (Điều 304 BLDS).

* Trách nhiệm do thực hiện nghĩa vụ không đúng đối tượng (Điều 428, Điều 429và Điều 430 BLDS).

* Trách nhiệm dân sự do vi phạm nghĩa vụ theo hợp đồng (Điều 307)

Trách nhiệm bồi thường thiệt hại áp dụng trong trường hợp các bên đã vi phạmnghĩa vụ mà họ đã tự nguyện cam kết, có lỗi và gây ra thiệt hại. Đây là một dạng chếtài dân sự được áp dụng đối với bên vi phạm nghĩa vụ dân sự.

Mục đích của trách nhiệm bồi thường thiệt hại nhằm khắc phục những thiệt hại vềtài sản và chỉ phát sinh khi có những điều kiện luật định:

* Có hành vi trái pháp luật của người có nghĩa vụ: hành vi trái pháp luật là hành vivi phạm những nghĩa vụ dân sự mà họ đã tự nguyện cam kết. Về nguyên tắc ngườicó nghĩa vụ mà không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ dân sự thì xácđịnh là hành vi vi phạm nghĩa vụ. Tuy nhiên trong một số trường hợp hành vi vi phạmnghĩa vụ không coi là trái pháp luật và không phải bồi thường:

- Nếu nghĩa vụ dân sự không thực hiện được là hoàn toàn do lỗi của người cóquyền.

- Do sự kiện bất khả kháng (trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác hoặc phápluật có quy định khác). Sự kiện bất khả kháng là sự kiện xảy ra một cách khách quankhông thể lường trước được và không thể khắc phục được, mặc dù đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết mà khả năng cho phép.

* Có thiệt hại xảy ra:

Trách nhiệm bồi thường thiệt hại là việc người có nghĩa vụ bù đắp cho bên kianhững tổn thất vật chất mà mình đã gây ra do vi phạm nghĩa vụ. Do vậy, về nguyêntắc thì chỉ khi xác định được có thiệt hại thực tế xảy ra thì người vi phạm mới phải bồithường.

Thiệt hại là sự giảm bớt, mất mát, hư hỏng nhưng phải tính được thành một khoảntiền nhất định; trong một số trường hợp có thể là

một số chi phí phải bỏ ra để khắc phục những hậu quả xấu về tài sản do người có nghĩa vụ đã không chấp hành nghĩa vụgây ra.

Thiệt hại trong trách nhiệm dân sự do vi phạm nghĩa vụ chủ yếu là thiệt hại tàisản bao gồm:

+ Những hư hỏng, mất mát về tài sản.

+ Những chi phí phải bỏ ra (chi phí hợp lý để ngăn chặn, hạn chế, khắc phục thiệthại).

+ Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút.

Bộ luật dân sự không phân thành thiệt hại trực tiếp và thiệt hại gián tiếp, việcxác định thiệt hại căn cứ vào các quy định của pháp luật, phải mang tính khách quan,không được suy diễn chủ quan.

* Lỗi của người vi phạm nghĩa vụ.

Về nguyên tắc trách nhiệm bồi thường thiệt hại chỉ phát sinh khi người gây thiệthại có lỗi. Lỗi trong trách nhiệm dân sự là việc mà chủ thể đã làm điều mà pháp luật

Activity (66)

nêu rõ nội dung chủ yếu của hợp đồng và thời hạn trả lời thì

không được mời ngườithứ ba giao kết hợp đồng và phải chịu trách nhiệm về đề nghị của mình (Điều 396BLDS). Trong trường hợp này lời đề nghị chưa phải hợp đồng dân sự nhưng có tínhràng buộc khi có các yếu tố:

+ Bên được đề nghị phải được chỉ đích danh.

+ Trong lời đề nghị có nêu rõ nội dung chủ yếu của hợp đồng và ấn định một thờigian trả lời.

Chấp nhận giao kết hợp đồng

Là việc bên được đề nghị đồng ý tiến hành việc giao kết hợp đồng với người đềnghị.

Về nguyên tắc bên được đề nghị phải trả lời ngay có chấp nhận việc giao kết hợpđồng hay không, trừ trường hợp có thỏa thuận về thời hạn trả lời. Trong trường hợpviệc trả lời được chuyển qua bưu điện thì thời điểm trả lời là ngày gửi đi theo dấu của bưu điện.

* Thay đổi, rút lại, chấm dứt đề nghị giao kết hợp đồng dân sự.

- Bên đề nghị có thể thay đổi hoặc rút lại đề nghị giao kết hợp đồng dân sự, nếu bên được đề nghị chưa nhận được đề nghị hoặc trong trường hợp bên đề nghị có nêurõ điều kiện được thay đổi hoặc rút lại đề nghị. Trong trường hợp bên đề nghị thay đổinội

dung, điều kiện của đề nghị thì đề nghị đó được coi là đề nghị mới.

- Đề nghị giao kết hợp đồng dân sự chấm dứt khi bên nhận được đề nghị trả lờikhông chấp nhận hoặc chậm trả lời chấp nhận hoặc hết thời hạn trả lời, mà khôngnhận được trả lời của bên được đề nghị giao kết. Nếu bên được đề nghị đã trả lời chấpnhận giao kết hợp đồng, nhưng có nêu điều kiện hoặc sửa đổi đề nghị thì sự trả lờichấp nhận coi như đề nghị mới giao kết hợp đồng dân sự.

b, Thực hiện hợp đồng và trách nhiêm do không thực hiện nghĩa vụ theo hơp đồng

Khi các bên đã cam kết thoả thuận các điều khoản trong hợp đồng thì phải thựchiện đúng và đầy đủ các điều khoản đó

và không được vi phạm, nếu vi phạm thì phảichịu trách nhiệm dân sự. Khoản 1 Điều 302 BLDS quy định: "Người có nghĩa vụ

màkhông thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ dân sự thì phải chịu trách nhiệmdân sự đối với người có quyền".

Căn cứ vào tính chất, hậu quả của sự vi phạm nghĩa vụ mà trách nhiệm do vi phạmnghĩa vụ theo hợp đồng gồm:

* Trách nhiệm phải thực hiện nghĩa vụ dân sự - Trách nhiệm do chậm thực hiện nghĩa vụ dân sự (Điều 305).

+ Khi nghĩa vụ dân sự chậm được thực hiện thì người có quyền có thể gia hạn đểngười có nghĩa vụ hoàn thành nghĩa vụ nếu quá thời hạn này thì theo yêu cầu củangười có quyền thì người có nghĩa vụ vẫn phải thực hiện nghĩa vụ và bồi thường thiệthại; nếu việc thực hiện không cần thiết đối với người có quyền nữa thì có quyền từchối tiếp nhận và yêu cầu bồi thường thiệt hại.

+ Trong trường hợp người có nghĩa vụ chậm trả tiền thì người đó phải trả lãi đối vớisố tiền chậm trả theo lãi suất nợ quá hạn do Ngân hàng Nhà nước công bố tương ứngvới thời gian chậm trả vào thời điểm thanh toán (trừ trường hợp có thỏa thuận kháchoặc pháp luật có quy định khác).- Trách nhiệm do không thực hiện nghĩa vụ giao vật (Điều 303)

Khi người có nghĩa vụ không thực hiện nghĩa vụ giao vật đặc định thì những ngườicó quyền được quyền yêu cầu người có nghĩa vụ phải giao đúng vật đó; nếu vậtkhông còn hoặc bị hư hỏng, thì phải thanh toán giá trị của vật và bồi thường thiệt hại.

Trong trường hợp người có nghĩa vụ không thực hiện được nghĩa vụ giao vật cùngloại, thì phải thanh toán giá trị của vật và phải bồi thường thiệt hại.

* Trách nhiệm do không thực hiện một công việc hoặc không được thực hiện mộtcông việc (Điều 304 BLDS).

* Trách nhiệm do thực hiện nghĩa vụ không đúng đối tượng (Điều 428, Điều 429và Điều 430 BLDS).

* Trách nhiệm dân sự do vi phạm nghĩa vụ theo hợp đồng (Điều 307)

Trách nhiệm bồi thường thiệt hại áp dụng trong trường hợp các bên đã vi phạmnghĩa vụ mà họ đã tự nguyện cam kết, có lỗi và gây ra thiệt hại. Đây là một dạng chếtài dân sự được áp dụng đối với bên vi phạm nghĩa vụ dân sự.

Mục đích của trách nhiệm bồi thường thiệt hại nhằm khắc phục những thiệt hại vềtài sản và chỉ phát sinh khi có những điều kiện luật định:

* Có hành vi trái pháp luật của người có nghĩa vụ: hành vi trái pháp luật là hành vivi phạm những nghĩa vụ dân sự mà họ đã tự nguyện cam kết. Về nguyên tắc ngườicó nghĩa vụ mà không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ dân sự thì xácđịnh là hành vi vi phạm nghĩa vụ. Tuy nhiên trong một số trường hợp hành vi vi phạmnghĩa vụ không coi là trái pháp luật và không phải bồi thường:

Một phần của tài liệu Đề cương ôn tập Luật dân sự 1 và 2 (Trang 248 - 265)

Tải bản đầy đủ (DOCX)

(363 trang)
w