I. NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG VỀ THỪA KẾ1. Khái niệm
6- Những người thừa kế không có quyền hưởng di sản
Khoản 1 Điều 643 của Bộ luật dân sự quy định những trường hợp những người thừakế không có quyền hưởng di sản nếu vi phạm một trong các trường hợp sau:
a- Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe hoặc về hành vingược đãi nghiêm trọng, hành hạ người để lại di sản, xâm phạm nghiêm trọng danhdự, nhân phẩm của người đó.
Những người thực hiện hành vi do lỗi cố ý và bị Tòa án kết án bằng bản án cóhiệu lực pháp luật về một trong các tội tương ứng được quy định trong Bộ luật Hìnhsự tương ứng. Có thể liệt kê một số tội trong BLHS năm 1999 như: Tội giết người,Tội cố ý gây
thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe cho người khác (Điều 104),Tội hành hạ người khác (Điều 110), Tội hiếp dâm, hiếp dâm trẻ em (Điều 111, 112),Tội cưỡng dâm (Điều 113), Tội làm nhục, Tội vu khống (Điều 121, 122), Tội ngượcđãi hoặc hành hạ ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con cháu người có công nuôi dưỡng mình(Điều 151)
b- Người vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi dưỡng người để lại di sản
Việc xác định nghĩa vụ này dựa vào các quy định của pháp luật hôn nhân và giađình. Theo Luật Hôn nhân và gia đình 2000 giữa những người có quan hệ thân thuộctrên cơ sở quan hệ hôn nhân, huyết thống hoặc nuôi dưỡng như cha mẹ- con, ông bà -cháu, anh chị em ruột,... sống chung với nhau có nghĩa vụ nuôi dưỡng nhau theo cácquy định tại các Điều 35, Điều 36, Điều 38, Điều 47 và Điều 48. Trong trường hợpkhông sống chung với nhau thì có nghĩa vụ cấp dưỡng bằng việc đóng góp một khoảntiền hoặc hiện vật theo định kỳ để nuôi dưỡng những người có quan hệ thân thích theoquy định tại chương VI Luật Hôn nhân và gia đình 2000.
Vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi dưỡng được hiểu người có nghĩavụ có khả năng kinh tế để thực hiện nhưng cố tình trốn tránh hoặc không thực hiện
làm cho người để lại thừa kế lâm vào tình trạng khốn khổ hoặc nguy hiểm đến tínhmạng. Thời gian vi phạm nghĩa vụ này là bao lâu, xảy ra khi nào thì chưa có hướngdẫn chi tiết, tuy nhiên
theo Nghị quyết 02/HĐTP ngày 19.10.1990 hướng dẫn
áp dụngmột số quy định của Pháp lệnh Thừa kế (đã hết hiệu lực pháp luật) thì: ”Khoảng thờigian 3 năm trước khi người để lại di sản chết, nếu có khả năng thực hiện nghĩa vụnuôi dưỡng mà không thực hiện làm cho người cần được nuôi dưỡng lâm vào tìnhtrạng khổ sở hoặc nguy hiểm đến tính mạng”.
c- Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng người thừa kế khác nhằmhưởng một phần hoặc toàn bộ di sản mà người thừa kế đó có quyền hưởng.
Chẳng hạn ông A có hai người con là B (con nuôi) và K (con đẻ), nhưng người connuôi chăm chỉ và thường xuyên chăm sóc ông A khi ốm đau, bệnh tật. Ông A đã lậpdi chúc hợp pháp cho B được hưởng 2/3 di sản sau khi chết, cho K được hưởng 1/3 disản. Vì vậy K đã thực hiện hành vi giết B để ngăng chặn việc hưởng di sản của B vàđể mình sẽ được hưởng toàn bộ. K bị Tòa án kết án về hành vi giết người (chưa đạt)nhằm hưởng một phần di sản nên không có quyền hưởng di sản.
d-
Người có hành vi lừa dối, cưỡng ép, ngăn cản người để lại di sản trong việc lậpdi chúc, giả mạo, sửa chữa di chúc, thay di chúc, hủy di chúc nhằm hưởng một phầnhoặc toàn bộ di sản trái với ý chí của người để lại di sản.
Những người có hành vi quy định theo khoản 1 Điều 643 không có quyền hưởng disản theo pháp luật cũng như theo di chúc đã lập trước khi có hành vi đó.
Trong các trường hợp trên thì vẫn được hưởng di sản nếu người để lại di sản đã biếthành vi của những người đó nhưng vẫn cho họ hưởng di sản theo di chúc (khoản 2Điều 643). Tuy nhiên, khi cho hưởng cần xem xét :
- Người để lại di sản đã biết được những hành vi trên nhưng đã tha thứ cho họ bằngviệc lập di chúc cho hưởng sau khi có các hành vi trên.