CHƯƠNG 8.BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI TRONG MỘT
II. Bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra
Theo qui định tại Điều 623 của BLDS thì nguồn nguy hiểm cao độ bao gồm: phương tiện giao thông vận tải cơ giới, hệ thống tải điện, nhà máy công nghiệp đanghoạt động; vũ khí, chất cháy, chất độc, chất phóng xạ, thú dữ; ngoài ra còn có cácnguồn nguy hiểm cao độ khác do pháp luật qui định. Để đảm bảo an toàn tính mạng,sức khỏe cũng như tài sản của cá nhân, tài sản của các tổ chức, pháp nhân đối vớinguồn nguy hiểm cao độ buộc chủ sở hữu phải tuân thủ các qui định của pháp luật về bảo quản, trông giữ, vận chuyển và sử dụng .
Các điều kiện để xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểmcao độ gây ra bao gồm: có thiệt hại xảy ra, có việc gây ra thiệt hại trái pháp luật,có mối quan hệ nhân quả, người gây thiệt hại không có lỗi vẫn phải bồi thường, trừtrường hợp sau đây:
- Thiệt hại xảy ra hoàn toàn do lỗi cố ý của người bị thiệt hại.
- Thiệt hại xảy ra trong trường hợp bất khả kháng, tình thế cấp thiết (trừ trường hợp pháp luật có qui định khác).
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra về nguyên tắcchung chủ sở hữu nguồn nguy hiểm cao độ phải bồi thường thiệt hại; nếu chủsở hữu đã giao cho người khác
chiếm hữu, sử dụng thì những người này phải bồithường,
trừ trường hợp có thỏa thuận khác. Chủ sở hữu, người được chủ sở hữu giaochiếm hữu không phải bồi thường thiệt hại khi nguồn nguy hiểm cao độ bị người khácchiếm hữu, sử dụng trái pháp luật.
Trong trường hợp này thiệt hại xảy ra do ngườiđang chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ trái pháp luật có trách nhiệm bồi Activity (66)
thì chị H hô cứu. Do thấy nhiều người chạy ra B đã vội vứt hộp trang sức và bị bắt.Còn A khi biết bị lộ đã bỏ chạy.
Hành vi thái quá của B gây thiệt hại sức khỏe cho chị H phải điều trị hết 3,5triệu đồng. Tài sản trong hộp trang sức bị mất (không tìm được) trị giá 12 triệu đồng.Xác định trách nhiệm dân sự của A và B (nghĩa vụ liên đới hay riêng rẽ)
CHƯƠNG 8.BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI TRONG MỘT SỐ TRƯỜNG HỢP CỤ THỂ
.
I. Bồi thường thiệt hại do cán bộ, công chức Nhà nước gây ra và bồi thườngthiệt hại do người có thẩm quyền của cơ quan tiến hành tố tụng gây ra (Điều 619,Điều 620 BLDS)
- Về nguyên tắc cơ quan nhà nước phải bồi thường thiệt hại do cán bộ, công chứcnhà nước gây ra trong khi thi hành công vụ ; cơ quan tiến hành tố tụng phải bồithường thiệt hại do người có thẩm quyền của mình gây ra trong khi thực hiện nhiệmvụ điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án. Cán bộ, công chức nhà nước, người có thẩmquyền của cơ quan tiến hành tố tụng gây thiệt hại phải hoàn trả lại khoản tiền mà cơ quan nhà nước, cơ quan tiến hành tố tụng đã bồi thường cho người bị thiệt hại (nếu cólỗi)
- Trong trường hợp nhiều cán bộ, công chức nhà nước hoặc người có thẩm quyềncủa cơ quan tiến hành tố tụng cùng gây thiệt hại thì phải liên đới chịu trách nhiệm trêncơ sở lỗi của mỗi người .
- Việc bồi thường thiệt hại đựợc thực hiện theo hai phương thức .
+ Người bị thiệt hại trực tiếp yêu cầu cơ quan nhà nước, cơ quan tiến hành tố tụng bồi thường thiệt hại thì áp dụng Nghị định 47.CP ngày 3.5.1997 hướng dẫn BLDS1995 (hiện nay chua có Nghị định hướng dẫn BLDS 2005) thủ tục giải quyết như sau:
* Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày người bị thiệt hại yêu cầu bồi thường,thủ trưởng cơ quan nhà nước cơ quan tiến hành tố tụng thành lập Hội đồng xét giảiquyết bồi thường thiệt hại bao gồm:
đại diện lãnh đạo cơ quan, đại diện công đoànngười gây thiệt hại, đại diện Sở tài chính vật giá, đại diện cơ quan tư pháp cùng
cấp,cơ quan chuyên môn kĩ thuật. Hội đồng căn cứ vào các qui định của BLDS xem xét,
đánh giá mức độ gây thiệt hại, trách nhiệm dân sự để kiến nghị với thủ trưởng cơ quannhà nước, cơ quan tiến hành tố tụng quyết định mức và phương thức bồi thường.
Thủ trưởng cơ quan Nhà nước, cơ quan tiến hành tố tụng có trách nhiệm bồithường thiệt hại trong thời hạn 45 ngày kể từ ngày
người bị thiệt hại yêu cầu.
+ Thủ tục tố tụng dân sự: Trong trường hợp người bị thiệt hại không đồng ý vớiquyết định bồi thường của thủ trưởng cơ quan nhà nước, cơ quan tiến hành tố tụngthì có quyền khởi kiện tại Tòa án hoặc trực tiếp khởi kiện tại Tòa án yêu cầu bồithường thiệt hại .
Như vậy, việc thực hiện bồi thường thiệt hại do người thẩm quyền của cơ quan tiếnhành tố tụng hình sự cho người bị oan thực hiện theo Nghị quyết 388 của Uỷ banThường vụ Quốc hội.
II. Bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra
Theo qui định tại Điều 623 của BLDS thì nguồn nguy hiểm cao độ bao gồm: phương tiện giao thông vận tải cơ giới, hệ thống tải điện, nhà máy công nghiệp đanghoạt động; vũ khí, chất cháy, chất độc, chất phóng xạ, thú dữ; ngoài ra còn có cácnguồn nguy
hiểm cao độ khác do pháp luật qui định. Để đảm bảo an toàn tính mạng,sức khỏe cũng như tài sản của cá nhân, tài sản của các tổ chức, pháp nhân đối vớinguồn nguy hiểm cao độ buộc chủ sở hữu phải tuân thủ các qui định của pháp luật về bảo quản, trông giữ, vận chuyển và sử dụng .
Các điều kiện để xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểmcao độ gây ra bao gồm: có thiệt hại xảy ra, có việc gây ra thiệt hại trái pháp luật,có mối quan hệ nhân quả, người gây thiệt hại không có lỗi vẫn phải bồi thường, trừtrường hợp sau đây:
- Thiệt hại xảy ra hoàn toàn do lỗi cố ý của người bị thiệt hại.
- Thiệt hại xảy ra trong trường hợp bất khả kháng, tình thế cấp thiết (trừ trường hợp pháp luật có qui định khác).
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra về nguyên tắcchung chủ sở hữu nguồn nguy hiểm cao độ phải bồi thường thiệt hại; nếu chủsở hữu đã giao cho người khác
chiếm hữu, sử dụng thì những người này phải bồithường,
trừ trường hợp có thỏa thuận khác. Chủ sở hữu, người được chủ sở hữu giaochiếm hữu không phải bồi thường thiệt hại khi nguồn nguy hiểm cao độ bị người khácchiếm hữu, sử dụng trái pháp luật.
Trong trường hợp này thiệt hại xảy ra do ngườiđang chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ trái pháp luật có trách nhiệm bồi