Khái niệm và các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng

Một phần của tài liệu Đề cương ôn tập Luật dân sự 1 và 2 (Trang 205 - 224)

I. KHÁI NIỆM HỢP ĐỒNG

1. Khái niệm và các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng

Pháp lệnh Hợp đồng dân sự được ban hành (có hiệu lực từ

01.7.1991) thì khái niệmhợp đồng dân sự được quy định như sau:

"Hợp đồng dân sự là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ của các bên về

việcxác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ của các bên trong mua bán, thuê,vay, mượn, tặng cho tài sản; làm hoặc không làm một việc, dịch vụ hoặc các thỏathuận khác mà trong đó một trong các bên nhằm đáp ứng nhu cầu sinh hoạt,

tiêudùng".

Điều 394 BLDS 1995 và Điều 388 BLDS 2005 quy định khái niệm hợp đồng dânsự khái quát, ngắn gọn như sau: "Hợp đồng dân sự là sự thỏa thuận giữa các bên vềviệc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự".

Như vậy, hợp đồng dân sự là sự thỏa thuận giữa các bên, nhưng chỉ xác định là sựthỏa thuận khi cam kết các bên thực sự phù hợp với mong muốn của họ. Nguyên tắcnày tồn tại trong pháp luật hợp đồng của các nước. Hợp đồng được xác lập do bị đedọa, lừa dối, nhầm lẫn,... là không phù hợp với ý muốn của các bên. Việc xác định các bên có mong muốn thực sự khi tham gia vào quan hệ hợp đồng trong thực tiễn hết sứckhó khăn. Do vậy, khi giải quyết các cơ quan có thẩm quyền cần phải dựa vào những biểu hiện khách quan (những hành vi biểu hiện ra bên ngoài, cán cứ khác,...) để xácđịnh mong muốn thực sự của các bên giao kết.

Activity (66)

Khi đã xác định được các quan hệ phát sinh việc giải quyết cụ thể như thế nào

(Được biết khi giải quyết cơ quan có thẩm quyền xác định ngôi nhà trị giá 760triệu đồng).

Tình huống 7:

Qua công tác kiểm tra hồ sơ án dân sự thấy các trường hợp sau:

1.

Ông A và bà B kết hôn hợp pháp, có 03 người con chung là C, D và E đều đãthành niên. Năm 1988, anh C kết hôn hợp pháp với chị M và sinh được cháu H và K. Năm 1989 ông A chết không để lại di chúc. Năm 1992 bà B chết không để lại di chúc.Tháng 12 năm 2005 các con của ông A và bà B đã khởi kiện yêu cầu chia di sản củaông bà. Toà án huyện đã thụ lý vụ án vào ngày 14 tháng 01 năm 2006.

2.

Ông A và bà B kết hôn hợp pháp, có 03 người con chung là C, D và E. Năm1985, anh C kết hôn hợp pháp với chị M và sinh được cháu H và K. Ông A chết năm1999, còn anh C chết năm 2002.

Năm 2006, Toà án giải quyết chia di sản của ông A,trong bản án đã lập luận: "khi chia di sản do anh C đã chết nên hai cháu H và K đượcthừa kế thế vị".

3.

Ông A và bà B kết hôn hợp pháp, có 03 người con chung là C, D và E (E chưađủ 18 tuổi). Năm 1985, anh C kết hôn hợp pháp với chị M và sinh được cháu H và K. Năm 1999 Bà B chết có để lại di chúc hợp pháp cho chị M được hưởng 100 triệuđồng. Năm 2006 chị M khởi kiện yêu cầu được thừa kế theo di chúc nhưng Toà án đãkhông thụ lý đơn khởi kiện vì cho rằng chị M không thuộc ba hàng thừa kế.

Được biết:

Các trường hợp nêu trên là hoàn toàn độc lập với nhau; di sản mà mỗingười chết để lại trong từng trường hợp độc lập là nhà ở trị giá 500 triệu đồng; chỉ căncứ vào các dữ kiện đã biết mà không cần biện luận thêm.

Căn cứ vào các quy định của pháp luật hãy chỉ ra những sai sót và chia di sản thừakế trong từng trường hợp, nếu yêu cầu được chấp nhận.

PHẦN THỨ BA

PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG VÀ TRÁCH NHIỆMDÂN SỰ NGOÀI HỢP ĐỒNG

CHƯƠNG 5

NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG VỀ HỢP ĐỒNG Tài liệu tham khảo:Hiến pháp;

Bộ luật dân sự năm 1995, năm 2005; Luật đất đai năm 2003;

LuậtHôn nhân và Gia đình năm 2000; Luật thương mại 2005; Luật nhà ở 2005; Luật Côngchứng 2006,...

Các nội dung chính cần tập trung:Pháp lệnh hợp đồng kinh tế hết hiệu lực pháp luật và sự điều chỉnh cáchợp đồng trong lĩnh vực kinh doanh thương mại; Các điều kiện có hiệu lực củahợp đồng, hợp đồng vô hiệu và hậu quả pháp lý; một số loại hợp đồng cụ thể:nội dung của hợp đồng, giải quyết tranh chấp và soạn thảo một số hợp đồng (dânsự, kinh doanh thương mại,...)

I. KHÁI NIỆM HỢP ĐỒNG

1. Khái niệm và các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng a. Khái niệm hợp đồng

Pháp lệnh Hợp đồng dân sự được ban hành (có hiệu lực từ

01.7.1991) thì khái niệmhợp đồng dân sự được quy định như sau:

"Hợp đồng dân sự là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập,

thay đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ của các bên về

việcxác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ của các bên trong mua bán, thuê,vay, mượn, tặng cho tài sản; làm hoặc không làm một việc, dịch vụ hoặc các thỏathuận khác mà trong đó một trong các bên nhằm đáp ứng nhu cầu sinh hoạt,

tiêudùng".

Điều 394 BLDS 1995 và Điều 388 BLDS 2005 quy định khái niệm hợp đồng dânsự khái quát, ngắn gọn như sau: "Hợp đồng dân sự là sự thỏa thuận giữa các bên vềviệc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự".

Như vậy, hợp đồng dân sự là sự thỏa thuận giữa các bên, nhưng chỉ xác định là sựthỏa thuận khi cam kết các bên thực sự phù hợp với mong muốn của họ. Nguyên tắcnày tồn tại trong pháp luật hợp đồng của các nước. Hợp đồng được xác lập do bị đedọa, lừa dối, nhầm lẫn,... là không phù hợp với ý muốn của các bên. Việc xác định các bên có mong muốn thực sự khi tham gia vào quan hệ hợp đồng trong thực tiễn hết sứckhó khăn. Do vậy, khi giải quyết các cơ quan có thẩm quyền cần phải dựa vào những biểu hiện khách quan (những hành vi biểu hiện ra bên ngoài, cán cứ khác,...) để xácđịnh mong muốn thực sự của các bên giao kết.

* Trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay, Nhà nước thừa nhận nhiều hình thức sở hữu, nhiều chủ thể thuộc các thành phần kinhtế khác nhau có quyền tự do kinh doanh theo quy định của pháp luật nên các loại hợpđồng ngày càng đa dạng, phong phú. Từ ngày 01.01.2006 Pháp lệnh Hợp đồng kinh tếhết hiệu lực nên các hợp đồng về kinh doanh, thương mại đều được điều chỉnh bởiBLDS và các văn bản pháp luật chuyên ngành.

b, Các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng

Theo Điều 121 BLDS thì giao dịch dân sự là hợp đồng hoặc hành vi pháp lý đơn phương làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ dân sự.

Hành vi pháp lý đơn phương chỉ thể hiện ý chí của một bên

chủ thể thì hợp đồngdân sự là sự thể hiện ý chí đa phương (ít nhất là hai bên chủ thể) thông qua sự thoảthuận, hay nói cách khác các bên phải thông nhất ý chí với nhau để xác lập, thay đổihoặc chấm dứt các quyền và nghĩa vụ.Theo quy định tại Điều 122 thì một giao dịch dân sự (gồm cả hợp đồng) được phápluật thừa nhận có hiệu lực pháp lý khi đảm bảo các điều kiện sau:

Điều kiện 1: Người tham gia giao dịch có năng lực hành vi dân sự (khoản 1).

Thuật ngữ “người” ở đây được hiểu là các chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự :cá nhân, pháp nhân, hộ gia đình và tổ hợp tác.

Các chủ thể này phải có đủ tư cách chủthể theo qui định của pháp luật dân sự.

Xác định tư cách chủ thể thực chất là xác định ý chí (mong muốn) đích thực củacác chủ thể tham gia vào giao dịch dân sự, nếu

không đảm bảo tư cách chủ thể thìkhông thể hiện hết yếu tố ý chí nên giao dịch dân sự có thể bị coi là vô hiệu. Do vậy,năng lực hành vi dân sự của từng chủ thể được xem xét như sau:

* Đối với cá nhân: giao dịch dân sự có hiệu lực khi phù hợp với mức độ hành vidân sự của cá nhân bởi lẽ, bản chất của giao dịch dân sự là sự thống nhất ý chí và bàytỏ ý chí của các chủ thể tham gia vào giao dịch đó. Trong xã hội những cá nhân khácnhau có những nhận thức khác nhau về hành vi và hậu quả của hành vi do họ thựchiện. Việc nhận thức và làm chủ hành vi của cá nhân

dựa vào ý chí - lý trí - độ tuổinghĩa là “khả năng hiểu và làm chủ của chính họ”. Như vậy, xem xét tư cách của chủthể của cá nhân có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định yếu tố ý chí, nên Bộ luậtDân sự qui định năng lực hành vi của cá nhân với nhiều mức độ khác nhau tương ứngvới mức độ thể hiện mong muốn của họ.

+ Đối với người từ đủ 18 tuổi trở lên có khả năng nhận thức và điều chỉnh hành vicủa mình có quyền tự mình tham gia mọi giao dịch dân sự , bởi lẽ những người nàykhi tham gia các giao dịch

dân sự họ có khả năng tự mình thể hiện mong muốn đầyđủ, toàn diện.

+ Đối với người đủ 6 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi có quyền tự mình tham gia giao dịchdân sự nhỏ phục vụ nhu cầu hàng ngày. Đối với những giao dịch liên quan đến tài sảncó giá trị nhỏ họ có đủ khả năng nhận thức mà không cần thông qua người đại diệnnhư học sinh (13 tuổi) mua đồ dùng học tập có thể nhận thức được giá cả, chất lượng,đối với những giao dịch dân sự có giá trị lớn thì phải thông qua người đại diện theo pháp luật mới coi là hợp pháp, nếu không thì giao dịch dân sự có thể bị coi là vô hiệu.

+ Đối với người mất năng lực hành vi dân sự, không có năng lực hành vi dân sựthì trong một số trường hợp họ có thể thực hiện những hành vi nhưng pháp luậtkhông cho phép họ tự mình tham gia giao dịch dân sự mà phải thông qua người đạidiện theo pháp luật. Đối với những người này do họ không có hoặc chưa có khả năngnhận thức để xác lập giao dịch dân sự, do vậy ý chí của hộ trong giao dịch dân sựchính là ý chí của người đại diện theo pháp luật. Pháp luật qui định người đại diện phải có đủ tư cách mới được đại diện cho người mất năng lực hành vi dân sự, ngườikhông có năng lực hành vi dân sự trong việc xác lập, thực hiện giao dịch dân sự .

+ Đối với người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự thì họ vẫn có khả năng nhậnthức và điều khiển được hành vi nhưng khi có

những căn cứ tuyên bố bị hạn chế nănglực hành vi dân sự và có yêu cầu thì Toà án tuyên bố bị hạn chế năng lực hành vi dânsự.

Các giao dịch dân sự liên quan đến tài sản của người này phải được người đại diệntheo pháp luật đồng ý mới có hiệu lực pháp luật, nếu không có sự đồng ý thì giao dịchdân sự bị coi là vô hiệu.

Qui định của pháp luật dân sự nhằm đảm bảo sự kiểm soátcủa người đại diện theo pháp luật, hạn chế việc tẩu tán tài sản để hút sách hoặc xác lậphợp đồng trong tình trạng lên cơn nghiện nên không thể nhận thức được toàn diệnđược.

Đối với trường hợp xác lập các giao dịch dân sự vào đúng thời điểm không thể nhậnthức, điều khiển được hành vi của mình, thì có thể yêu cầu Toà án tuyên bố giao dịchdân sự vô hiệu.

- Trong các giao dịch dân sự có đối tượng là tài sản thuộc sở hữu chung, hợp nhấtcủa nhiều người thì việc xác lập giao dịch dân sự ngoài đảm bảo tư cách chủ thể củamình còn phải có đủ tư cách đại diện cho các đồng sở hữu chủ khác. Chẳng hạn: bánnhà thuộc sở hữu chung hợp nhất phải được sự đồng ý bằng văn bản của tất cả các chủsở hữu, việc xác lập, thực hiện và chấm dứt giao dịch dân sự liên quan đến tài sảnchung có giá trị lớn phải được vợ, chồng bàn bạc thoả thuận (Điều 28, khoản 3 LuậtHôn nhân - gia đình). Trong trường hợp này nếu chỉ có một người đứng ra xác lập

thực hiện giao dịch dân sự thì phải được sự uỷ quyền hoặc đồng ý của các chủ đồngsở hữu khác. Nếu không được sự đồng ý mà tự

mình định đoạt toàn bộ tài sản chunghợp nhất thì phần giao dịch dân sự có thể vô hiệu (toàn bộ hoặc một phần).

* Đối với các chủ thể khác như pháp nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác thì phải bảo đảmtư cách chủ thể khi tham gia giao dịch dân sự.

Khi tham gia giao dịch dân sự các chủthể này thông qua người đại diện (đại diện theo pháp luật hoặc đại diện theo uỷquyền). Y chí của các chủ thể này trong giao dịch dân sự chính là ý chí của người đạidiện hợp pháp phù hợp với phạm vi, mục đích hoạt động do pháp luật qui định. Trongtrường hợp giao dịch dân sự do người không có thẩm quyền xác lập, thực hiện hoặcdo người đại diện xác lập vượt quá thẩm quyền thì không làm phát sinh quyền vànghĩa vụ đối với người được đại diện mà đây chính là trách nhiệm của cá nhân đã xáclập, trừ trường hợp người được đại diện chấp thuận. Đối với hộ gia đình thì người đạidiện theo pháp luật là chủ hộ, nhưng pháp luật chỉ cho phép chủ hộ đại diện hợp

pháptrong một số quan hệ liên quan đến quyền sử dụng đất, sản xuất nông-lâm- ngưnghiệp, vay vốn,...còn đối với các giao dịch dân sự liên quan đến tài sản khác khôngcoi là người đại diện theo pháp luật.

Như vậy, xác định tư cách chủ thể có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định ý chíđích thực của các chủ thể, đây là cơ sở xác định giá trị pháp lý của giao dịch dân sự.

Điều kiện 2: Mục đích và nội dung của giao dịch không vi phạm điều cấm của phápluật, không trái đạo đức xã hội (Khoản 2)

Mục đích của giao dịch dân sự là lợi ích mà các bên mong muốn đạt tới khi xáclập giao dịch dân sự.

Nội dung của giao dịch dân sự là tổng hợp các điều khoản cam kết trong giao dịch,qui định các quyền và nghĩa vụ của các bên chủ thể.

Trong trường hợp giao dịch dân sự có mục đích và nội dung vi phạm qui định của pháp luật dân sự nói riêng, pháp luật nói chung hoặc trái đạo đức xã hội thì khôngđược thừa nhận, không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ dân sự của các bên : mua bántài sản pháp luật cấm (mua bán đất đai, ma tuý), cho vay tiền để đánh bạc, đòi cáckhoản tiền do việc bán dâm, đánh bạc mang lại.

Điều kiện 3: Người tham gia giao dịch dân sự hoàn toàn tự nguyện

(Khoản 3)

Bản chất của quan hệ dân sự mang yếu tố ý chí, đó là sự

thống nhất ý chí của cácchủ thể tham gia. Do vậy, muốn xác định các chủ thể có tự nguyện hay không cầndựa vào sự thống nhất biện chứng giữa hai yếu tố : ý chí và bày tỏ ý chí. Đây là haimặt của một vấn đề có quan hệ khăng khít với nhau. Sự tự nguyện hoàn toàn đó chính

Activity (66)

+ Đối với người từ đủ 18 tuổi trở lên có khả năng nhận thức và điều chỉnh hành vicủa mình có quyền tự mình tham gia mọi giao dịch dân sự , bởi lẽ những người nàykhi tham gia các giao dịch dân sự họ có khả năng tự mình thể hiện mong muốn đầyđủ, toàn diện.

+ Đối với người đủ 6 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi có quyền tự mình tham gia giao dịchdân sự nhỏ phục vụ nhu cầu hàng ngày. Đối với những giao dịch liên quan đến tài sảncó giá trị nhỏ họ có đủ khả năng nhận thức mà không cần thông qua người đại diệnnhư học sinh (13 tuổi) mua đồ dùng học tập có thể nhận thức được giá cả, chất lượng,đối với những giao dịch dân sự có giá trị lớn thì phải thông qua người đại diện theo pháp luật mới coi là hợp pháp, nếu không thì giao dịch dân sự có thể bị coi là vô hiệu.

+ Đối với người mất năng lực hành vi dân sự, không có năng lực hành vi dân sựthì trong một số trường hợp họ có thể thực hiện những hành vi nhưng pháp luậtkhông cho phép họ tự mình tham gia giao dịch dân sự mà phải thông qua người đạidiện theo pháp luật. Đối với những người này do họ không có hoặc chưa có khả năngnhận thức để xác lập giao dịch dân sự, do vậy ý chí của hộ trong giao dịch dân sựchính là ý chí của người đại diện theo pháp

luật. Pháp luật qui định người đại diện phải có đủ tư cách mới được đại diện cho người mất năng lực hành vi dân sự, ngườikhông có năng lực hành vi dân sự trong việc xác lập, thực hiện giao dịch dân sự .

+ Đối với người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự thì họ vẫn có khả năng nhậnthức và điều khiển được hành vi nhưng khi có những căn cứ tuyên bố bị hạn chế nănglực hành vi dân sự và có yêu cầu thì Toà án tuyên bố bị hạn chế năng lực hành vi dânsự.

Các giao dịch dân sự liên quan đến tài sản của người này phải được người đại diệntheo pháp luật đồng ý mới có hiệu lực pháp luật, nếu không có sự đồng ý thì giao dịchdân sự bị coi là vô hiệu.

Qui định của pháp luật dân sự nhằm đảm bảo sự kiểm soátcủa người đại diện theo pháp luật, hạn chế việc tẩu tán tài sản để hút sách hoặc xác lậphợp đồng trong tình trạng lên cơn nghiện nên không thể nhận thức được toàn diệnđược.

Đối với trường hợp xác lập các giao dịch dân sự vào đúng thời điểm không thể nhậnthức, điều khiển được hành vi của mình, thì có thể yêu cầu Toà án tuyên bố giao dịchdân sự vô hiệu.

- Trong các giao dịch dân sự có đối tượng là tài sản thuộc sở hữu chung, hợp nhấtcủa nhiều người thì việc xác lập giao dịch dân sự ngoài đảm bảo tư cách chủ thể củamình còn phải có đủ tư cách đại diện cho các đồng sở hữu chủ khác. Chẳng hạn: bánnhà thuộc sở hữu chung hợp nhất phải được sự đồng ý bằng văn bản của tất

Một phần của tài liệu Đề cương ôn tập Luật dân sự 1 và 2 (Trang 205 - 224)

Tải bản đầy đủ (DOCX)

(363 trang)
w