Xác định thiệt hại

Một phần của tài liệu Đề cương ôn tập Luật dân sự 1 và 2 (Trang 335 - 353)

CHƯƠNG 7. NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNGVỀ TRÁCH NHIỆM BỒI

I. KHÁI NIỆM VÀ CÁC ĐIỀU KIỆN CỦA TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNGTHIỆT HẠI NGOÀI HỢP ĐỒNG (TNBTTH)

5. Xác định thiệt hại

Việc xác định thiệt hại trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng có ýnghĩa rất quan trọng vì đây là cơ sở để cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quyết địnhmức bồi thường.

a. Thiệt hại vật chất Activity (66)

là thiệt hại thực tế về tài sản hoặc tổn thất về tinh thần dẫn đến thiệt hại về tài sản cóthể tính được bao gồm :

* Thiệt hại vật chất :

+ Những chi phí phải bỏ ra (chi phí hợp lý để ngăng chặn, hạn chế, khắc phục thiệthại)

+ Những hư hỏng, mất mát về tài sản.

+ Thu nhập thực tế bị mất, bị giảm sút

* Thiệt hại tinh thần (tổn thất tinh thần):

Đời sống tinh thần là một phạm trù rất rộng, bao gồm nhiều vấn đề và chỉ tồn tại đốivới xã hội loài người như góa bụa, mồ côi, xấu hổ,... Về nguyên tắc, không thể tínhđược bằng tiền như trao đổi ngang giá và không thể phục hồi được. Với mục đích anủi, động viên đối với người bị thiệt hại tinh thần, đồng thời răn đe ngăn chặn đối vớinhững người có hành vi trái pháp luật, BLDS quy định nếu các bên không thoả thuậnđược thì Toà án quyết định:

- Thiệt hại về sức khoẻ thì mức bồi thường thiệt hại tinh thần do các bên thoả thuận,nếu không thoả thuận được thì mức tối đa không được vượt quá 30 tháng lương tốithiểu do Nhà nước quy định vào thời điểm bồi thường.

- Thiệt hại về tính mạng thì mức bồi thường thiệt hại tinh thần do các bênthoả thuận, nếu không thoả thuận được thì mức tối đa

không được vượt quá 60 thánglương tối thiểu do Nhà nước quay định vào thời điểm bồi thường.

- Thiệt hại về danh dự, nhân phảm thì mức bồi thường thiệt hại tinh thần do các bênthoả thuận, nếu không thoả thuận được thì mức tối đa không được vượt quá 10 thánglương tối thiểu do Nhà nước quay định vào thời điểm bồi thường.

b. Hành vi gây thiệt hại là hành vi trái pháp luật

Trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng thì hành vi gây thiệt hại phảilà hành vi trái pháp luật xâm phạm các khách thể được pháp luật bảo vệ như tínhmạng, sức khỏe, tài sản, danh dự, nhân phẩm. Như vậy, hành vi trái pháp luật có thể làvi phạm hình sự, vi phạm pháp luật dân sự hoặc vi phạm các quy tắc quản lý hànhchính,... Đối với những trường hợp mặc dù gây thiệt hại thực tế nhưng hành vi gâythiệt hại không trái pháp luật thì người gây thiệt hại không phải bồi thường: gây thiệthại trong tình thế cấp thiết, phòng vệ chính đáng (Điều 617, Điều 618). Khi xem xét

hành vi của người gây thiệt hại có trái pháp luật hay không cần phải căn cứ vào phápluật nói chung và các quy định của pháp luật dân sự nói riêng.

c. Người gây thiệt hại có lỗi

Người gây thiệt hại phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại khi họ có lỗi. Điều604 BLDS quy định: ”

Người nào do lỗi cố ý hoặc vô ý gây thiệt hại thì phải bồithường

”. Do vậy, lỗi được biểu hiện dưới hai hình thức: cố ý gây thiệt hại và vô ý gâythiệt hại.

- Cố ý gây thiệt hại là trường hợp một người nhận thức rõ hành vi của mình sẽ gâythiệt hại cho người khác mà vẫn thực hiện và mong muốn hoặc không mong muốnnhưng để mặc cho thiệt hại xảy ra.

- Vô ý gây thiệt hại là một người không thấy trước hành vi của mình có khả nănggây ra thiệt hại mặc dù phải biết trước thiệt hại sẽ xảy ra hoặc thấy trước hành vi củamình có khả năng gây ra thiệt hại, nhưng cho rằng thiệt hại sẽ không xảy ra hoặc cóthể ngăn chặn được.

Lỗi trong trách nhiệm dân sự trong một số trường hợp có thể được suy đoán bởilẽ hành vi gây thiệt hại trái pháp luật nên người thực hiện hành vi đó bị suy đoánlà có lỗi. Nếu những người gây thiệt hại chứng minh được mình không có lỗi thìkhông phải chịu trách nhiệm bồi thường (trừ trường hợp pháp luật có quy định

khác). Nếu người giám hộ chứng minh được mình không có lỗi trong việc giám hộ thìkhông phải lấy tài sản của mình để bồi thường.

d. Có mối quan hệ nhân qủa giữa thiệt hại xảy ra và hành vi trái pháp luật

Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng chỉ phát sinh khi thiệt hại xảy ralà do chính kết quả tất yếu của hành vi trái pháp luật. Đây là mối quan hệ của sự vậnđộng nội tại và nguyên nhân luôn phải diễn ra trước kết quả trong một thời gian nhấtđịnh. Tuy nhiên, trong thực tế một thiệt hại xảy ra có thể do nhiều nguyên nhân khácnhau, nếu chưa xác định được hành vi trái pháp luật làm nguyên nhân gây ra thiệt hạithì chưa buộc người có hành vi đó phải bồi thường. Khi xác định nguyên nhân gây rathiệt hại cần xác định nguyên nhân trực tiếp, nguyên nhân gián tiếp,...và phân biệtnguyên nhân với điều kiện để làm cơ sở xác định trách nhiệm bồi thường.

3. Các nguyên tắc bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng

Thiệt hại phải được bồi thường toàn bộ, kịp thời. Đây là nguyên tắc quan trọng củatrách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng. Việc bồi thường toàn bộ nhằm khôi phục lại tình trạng ban đầu của người bị thiệt hại, đồng thời bồi thường kịp thời để

khắc phục nhanh những thiệt hại đã xảy ra. Các bên có thể thỏa thuận hình thức bồithường bằng tiền hoặc bằng hiện vật,... Người gây thiệt hại có thể được xem xét giảmmức bồi thường khi hội tụ đủ hai điều kiện sau : Lỗi vô ý gây thiệt hại và thiệt hại xảyra quá lớn so với khả năng kinh tế trước mắt và lâu dài của người gây thiệt hại.

- Khi có căn cứ thấy rằng mức bồi thường không còn phù hợp thì các bên có quyềnyêu cầu Tòa án hoặc cơ quan Nhà nước có thẩm quyền khác xin thay đổi mức bồithường cho phù hợp.

4. Năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại của cá nhân

Trong thực tế người gây thiệt hại có thể là bất kỳ cá nhân nào (người đủ 18 tuổi,người mắc bệnh tâm thần, người chưa đủ 18 tuổi,... ) nhưng không phải người nàocũng đủ khả năng bồi

thường. Điều 606 của Bộ luật dân sự phân biệt năng lực chịutrách nhiệm bồi thường thiệt hại dựa vào lứa tuổi, năng lực hành vi và khả năng kinhtế của họ như sau:

* Người từ đủ 18 tuổi có khả năng nhận thức và làm chủ hành vi của mình gây thiệthại cho người khác thì phải tự bồi thường.

* Người dưới 15 tuổi gây thiệt hại mà còn cha mẹ thì cha mẹ phải bồi thường toàn bộ thiệt hại; nếu tài sản của cha mẹ không đủ để bồi thường mà con có tài sản riêngthì phải bồi thường phần còn thiếu (trừ trường hợp quy định tại Điều 621 BLDS).

* Người từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi gây thiệt hại thì phải bồi thường bằng tàisản của mình, nếu tài sản của người đó không đủ thì cha mẹ phải bồi thường phầncòn thiếu.

* Người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự gây thiệt hại mà có cánhân, tổ chức giám hộ thì cá nhân, tổ chức đó được dùng tài sản của người được giámhộ để bồi thường. Nếu người được giám hộ không có hoặc không đủ tài sản để bồithường thì người giám hộ phải bồi thường bằng tài sản của mình, trừ trường hợpngười giám hộ chứng minh mình không có lỗi trong giám hộ thì không phải lấy tài sảncủa mình để bồi thường.

5. Xác định thiệt hại

Việc xác định thiệt hại trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng có ýnghĩa rất quan trọng vì đây là cơ sở để cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quyết địnhmức bồi thường.

a. Thiệt hại vật chất

* Thiệt hại do tài sản bị xâm phạm bao gồm tài sản bị mất, bị hủy hoại hoặc bị hư hỏng; các lợi ích vật chất gắn liền với việc

sử dụng, khai thác tài sản, các chi phí hợp lý để ngăn chặn, hạn chế và khắc phục thiệt hại. Việc bồi thường có thể là vậtcùng loại, cùng giá trị hoặc tính ra tiền để bồi thường (vào thời điểm xét xử sơ thẩm)

* Thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm:Trong trường hợp thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm thì người gây thiệt hại phải bồi thường các khoản sau:

+ Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khỏe và các chức năng bị mất, bị giảm sút của người bị thiệt hại

như: tiền viện phí, tiền thuốc, tiền giải phẫu,tiền ghép tay giả, chân giả,...tiền bồi dưỡng hợp lý trong thời gian điều trị, tiền tàu xeđi lại từ nhà đến cơ sở điều trị và ngược lại.

+ Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại.

Thu nhập thực tế bị mất nghĩa là sau khi bị thiệt hại người bị thiệt hại hoàn toàn không có thu nhập gì(mất khả năng lao động,...).

Thu nhập thực tế bị giảm sút là khoản chênh lệch giữa haithời điểm trước khi bị thiệt hại và sau khi bị thiệt hại.Trong trường hợp thu nhập thựctế không ổn định, không xác định được thì áp dụng mức thu nhập bình quân của ngườilao động cùng loại.+ Chi phí hợp lí phần thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc người bị thiệt hạitrong thời gian điều trị .Nếu người bị thiệt hại mất hoàn toàn khả năng lao độngmà cần có người chăm sóc thường xuyên thì bồi thường chi phí hợp lí cho ngườichăm sóc, đồng thời phải bồi thường một khoản tiền cho những người mà người bịthiệt hại có nghiã vụ nuôi dưỡng, cấp dưỡng khi còn sống (nếu có).

+ Về thời hạn hưởng bồi thường thiệt hại cho sức khỏe bị xâm phạ thì trong trườnghợp người bị thiệt hại mất hoàn toàn khả năng lao

động thì người bị thiệt hại đượchưởng bồi thường cho đến khi chết. Đối với trường hợp người bị thiệt hại không mấthoàn toàn khả năng lao động thì được hưởng bồi thường đối với thu nhập thực tế bịmất hoặc bị giảm sút trong thời gian họ bị mất hoăc bị giảm sút thu nhập.

* Thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm:

Trong trường hợp tính mạng bị xâm phạm thì phải bồi thường các khoản sau+Chi phí hợp lí cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, chăm sóc người bị thiệt hại trước khichết .

+ Chi phí hợp lí cho việc mai táng người chết.Việc xác định chi phí nào là hợplí cho việc mai táng người bị thiệt hại đòi hỏi cơ quan có thẩm quyền cần có hướngdẫn cụ thể. Thực tiễn giải quyết thì chi phí hợp lí bao gồm: Thuê xe,mua quan tài, vảiliệm,vải tang, hương nến và các chi phí chôn cất hoặc hỏa táng người bị thiệt hại.

Khiquyết định mức bồi thường cần cân nhắc sao cho phù hợp với điều kiện kinh tế xã hộichung và tập quán tiến bộ tại địa phương.

Trong trường hợp gia đình nạn nhân yêucầu bồi thường các khoản tiền xây lăng mộ, thuê thầy cúng hoặc cúng bái linhđình,...không được xem là các chi phí hợp lí .

+ Tiền cấp dưỡng cho những người mà người bị thiệt hại có nghĩa vụ cấp dưỡngkhi còn sống. Đối với khoản tiền này cũng cần xem xét thu nhập thực tế và khả năngkinh tế của người bị thiệt hại khi

còn sống để quyết định mức cấp dưỡng mà ngườigây thiệt hại phải bồi thường. Thời hạn hưởng cấp dưỡng thì người chưa thành niên,người đã thành thai là con của người chết sinh và còn sống được hưởng tiền cấpdưỡng cho đến khi đủ 18 tuổi(trừ trường hợp người đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi đãtham gia lao động có thu nhập đủ nuôi sống bản thân ). Đối với người đã thành niênnhưng không có khả năng lao động được hưởng tiền cấp dưỡng cho đến khi chết .

* Thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm .

Trong trường hợp xâm phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín thì người gây thiệt hại phải bồi thường: chi phí hợp lí để hạn chế khắc phục thiệt hại, thu nhập thực tế bị mấthoặc bị giảm sút,...Thông thường người gây thiệt hại phải bồi thường chi phí cho việcđăng tin, bài cải chính các thông tin sai sự thật; thu nhập bị mất bị giảm sút trong quátrình sản xuất kinh doanh,...Ngoài ra Tòa án còn buộc người vi phạm phải chấm dứthành vi vi phạm, xin lỗi hoặc cải chính công khai.

b . Thiệt hại tinh thần (tổn thất tinh thần)

Trong trường hợp tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm uy tín bị xâm phạmthì người gây thiệt hại còn phải bồi thường một khoản tiền để bù đắp tinh thần nhằmmục đích an ủi, động viên

tạo điều kiện thêm để họ khắc phục khó khăn làm dịu bớtnỗi đau cho người thân và bản thân người bị thiệt hại .

Việc bồi thường thiệt hại tinh thần chỉ xem xét giải quyết khi có yêu cầu, trước hếtTòa án giải thích cho các bên thương lượng, nếu không thương lượng được thì Tòa ánquyết định.

6.

Trách nhiệm liên đới và riêng rẽ trong BTTH ngoài hợp đồng

a. Trách nhiệm liên đới (nghĩa vụ liên đới).

Trách nhiệm liên đới là trách do nhiều người phải thực hiện và người có quyền cóthể yêu cầu bất cứ ai trong số những người có nghĩa vụ phải thực hiện toàn bộ nghĩavụ.

Cơ sở phát sinh nghĩa vụ dân sự liên đới do thỏa thuận của các bên hoặc do phápluật quy định. Bộ luật Dân sự quy định những trường hợp phát sinh nghĩa vụ dân sựliên đới:

Khoản 2 Điều 110: "Nếu tài sản chung của hộ gia đình không đủ để thực hiện nghĩavụ chung của hộ thì các thành viên phải liên

đới chịu trách nhiệm bằng tài sản riêngcủa mình" và các Điều 117 khoản 2, Điều 616, Điều 618 của BLDS.

Mục đích của nghĩa vụ liên đới buộc những người có nghĩa vụ phải cùng nhau gánhvác toàn bộ nghĩa vụ dân sự để đảm bảo lợi ích cho bên có quyền được trọn vẹn kể cảkhi có một hoặc một số người có nghĩa vụ không có khả năng thực hiện.

Việc thực hiện nghĩa vụ liên đới bao gồm các nội dung sau:

- Trong trường hợp một người có nghĩa vụ liên đới đã thực hiện toàn bộ nghĩavụ đối với bên có quyền thì nghĩa vụ dân sự chấm dứt kể cả có một hoặc một số ngườichưa thực hiện, phát sinh nghĩa vụ hoàn lại giữa những người có nghĩa vụ liên đớikhác. Nếu một hoặc một số người có nghĩa vụ liên đới đã thực hiện xong phần nghĩavụ liên đới đối với mình, còn một số người có nghĩa vụ khác chưa thực hiện thì nghĩavụ dân sự liên đới chưa chấm dứt.

- Trong trường hợp người có quyền đã chỉ định một trong số những người có nghĩavụ dân sự liên đới thực hiện toàn bộ nghĩa vụ dân sự, nhưng sau đó lại miễn cho ngườiđó, thì những người còn lại cũng được miễn thực hiện nghĩa vụ; nếu chỉ miễn việcthực hiện cho một số người thì những người còn lại vẫn phải liên đới thực hiện phầnnghĩa vụ của mình. Chẳng hạn: A và B có nghĩa vụ liên đới phải bồi thường cho ôngK 22 triệu đồng (trong đó mỗi người chịu một phần hai). Trong trường hợp này ông K yêu cầu A

phải bồi thường toàn bộ thiệt hại là 22 triệu, sau đó miễn việc thực hiệnnghĩa vụ cho A thì B cũng không phải thực hiện nghĩa vụ đối với ông K nữa. Nếu ôngK chỉ miễn phần cho B về điều kiện kinh tế quá khó khăn thì A vẫn phải thực hiệnnghĩa vụ là 11 triệu đồng.

- Trong trường hợp theo thỏa thuận hoặc theo quy định của pháp luật mà có nhiềungười có quyền liên đới thì mỗi người đều có quyền yêu cầu người có nghĩa vụ phảithực hiện toàn bộ nghĩa vụ đối với mình. Khi người có nghĩa vụ đã thực hiện xongnghĩa vụ liên đới với một trong số những người có quyền liên đới thì nghĩa vụ dân sựchấm dứt và phát sinh nghĩa vụ dân sự hoàn lại giữa những người có quyền. Chẳnghạn A và B đều có quyền yêu cầu K phải trả 20 triệu đồng, thì A hoặc B đều có quyền

Activity (66)

+ Chi phí hợp lí cho việc mai táng người chết.Việc xác định chi phí nào là hợplí cho việc mai táng người bị thiệt hại đòi hỏi cơ quan có thẩm quyền cần có hướngdẫn cụ thể. Thực tiễn giải quyết thì chi phí hợp lí bao gồm: Thuê xe,mua quan tài, vảiliệm,vải tang, hương nến và các chi phí chôn cất hoặc hỏa táng người bị thiệt hại.

Khiquyết định mức bồi thường cần cân nhắc sao cho phù hợp với điều kiện kinh tế xã hộichung và tập quán tiến bộ tại địa phương.

Trong trường hợp gia đình nạn nhân yêucầu bồi thường các khoản tiền xây lăng mộ, thuê thầy cúng hoặc cúng bái linhđình,...không được xem là các chi phí hợp lí .

+ Tiền cấp dưỡng cho những người mà người bị thiệt hại có nghĩa vụ cấp dưỡngkhi còn sống. Đối với khoản tiền này cũng cần xem xét thu nhập thực tế và khả năngkinh tế của người bị thiệt hại khi còn sống để quyết định mức cấp dưỡng mà ngườigây thiệt hại phải bồi thường. Thời hạn hưởng cấp dưỡng thì người chưa thành niên,người đã thành thai là con của người chết sinh và còn sống được hưởng tiền cấpdưỡng cho đến khi đủ 18 tuổi(trừ trường hợp người đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi đãtham gia lao động có thu nhập đủ nuôi sống bản thân ). Đối với người đã thành niênnhưng không có khả năng lao động được hưởng tiền cấp dưỡng cho đến khi chết .

* Thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm .

Trong trường hợp xâm phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín thì người gây thiệt hại phải bồi thường: chi phí hợp lí để hạn chế khắc phục thiệt hại, thu nhập thực tế bị mấthoặc bị giảm sút,...Thông thường người gây thiệt hại phải bồi thường chi phí cho việcđăng tin, bài cải chính các thông tin sai sự thật; thu nhập bị mất bị giảm sút trong quátrình sản xuất kinh doanh,...Ngoài ra Tòa án còn buộc người vi phạm phải chấm dứthành vi vi phạm, xin lỗi hoặc cải chính công khai.

Một phần của tài liệu Đề cương ôn tập Luật dân sự 1 và 2 (Trang 335 - 353)

Tải bản đầy đủ (DOCX)

(363 trang)
w