I. NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG VỀ THỪA KẾ1. Khái niệm
5- Người quản lý di sản thừa kế
hoặc cho những người thừa kế theo pháp luật; hưởng di sản theo di chúc hoặc theo pháp luật.Pháp luật quy định mọi cá nhân đều bình đẳng về quyền để lại tài sản của mình chongười khác, trên cơ sở tôn trọng quyền sở hữu tài sản của cá nhân đối với thu
nhậphợp pháp, của cải để dành, nhà ở, tư liệu sản xuất hoặc tư liệu tiêu dùng,.... Mọi cánhân đều có quyền để lại tài sản thuộc sở hữu của mình thông qua việc lập di chúchoặc để lại thừa kế cho những người thừa kế theo pháp luật. Bên cạnh quyền để lại tàisản theo pháp luật cũng quy định bình đẳng về quyền thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật. Quy định của pháp luật dân sự nhằm xóa bỏ những tàn tích lạc hậu do xãhội phong kiến để lại (bất bình đẳng trong việc hưởng di sản thừa kế, trong việc để lạidi sản), đảm bảo quyền thừa kế được thực hiện trên thực tế, cũng cố và phát triển tìnhđoàn kết thương yêu trong nội bộ gia đình.
2. Thời điểm mở thừa kế Khoản 1 Điều 633 quy định:
Thời điểm mở thừa kế là thời điểm người có tài sảnchết. Trong trường hợp Tòa án tuyên bố một người là đã chết thì thời điểm mở thừakế là ngày được xác định tại khoản 2 Điều 81 của Bộ luật Dân sự.
Như vậy, thời điểm mở thừa kế là thời điểm cá nhân có tài sản thuộc sở hữu củamình chết. Đối với trường hợp một người Tòa án bị tuyên bố là đã chết thì thời điểmmở thừa kế được xác định theo ngày chết của người bị Tòa án tuyên bố là đã chếtđược ghi trong bản án (như ngày xảy ra các sự kiện động đất, tai nạn máy
bay, ...) nếukhông xác định được ngày đó thì ngày mà quyết định của Tòa án tuyên bố người đó làđã chết có hiệu lực pháp luật được coi là ngày người đó chết.
Trong thực tế, nhiều trường hợp những người được hưởng di sản thừa kế của nhau(cha - con, vợ - chồng, ...) mà chết cùng một thời điểm hoặc coi là chết cùng một thờiđiểm thì pháp luật quy định:
Trong trường hợp những người được hưởng thừa kế disản của nhau mà chết cùng một thời điểm hoặc được coi chết cùng một thời điểmkhông xác định được người nào chết trước, chết sau thì những người đó không đượchưởng di sản thừa kế của nhau, phần di sản của người nào sẽ do những người thừa kếcủa người đó hưởng. Chẳng hạn :ông A và bà B là vợ chồng hợp pháp có 3 người conchung là C, D và E; cha mẹ đẻ của ông A còn sống, cha mẹ đẻ của bà B đã chết. ÔngA và bà B chết trong tai nạn giao thông (chết cùng thời điểm) nên không được hưởngdi sản của
nhau. Do vậy, phần di sản của ông A do cha mẹ đẻ và 3 người con hưởng(5 suất), phần di sản của bà B do 3 người con hưởng (3 suất), nếu ông bà không có dichúc. Việc xác định thời điểm mở thừa kế có ý nghĩa quan trọng :* Xác định tài sản, quyền tài sản của người chết bao gồm những gì, tránh trườnghợp phân tán di sản.
* Xác định người thừa kế bởi vì pháp luật quy định cá nhân phải còn sống vàothời điểm mở thừa kế hoặc sinh ra còn sống sau thời điểm mở thừa kế nhưng đã thànhthai trước thời điểm này; tổ chức phải còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế.
Thủ tục xác định thời điểm mở thừa kế dựa trên giấy chứng tử của cơ quancó thẩm quyền hoặc bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật xác định một người là đãchết.
3. Di sản thừa kế
Bộ luật dân sự 2005, tại Điều 634 quy định:
Di sản thừa kế bao gồm tài sản riêng của người chết, phần tài sản của người chết trong khối tài sản chung với người khác.
a- Tài sản riêng của người chết
Thu nhập hợp pháp, của cải để dành, nhà ở, tư liệu tiêu dùng, tư liệu sản xuất,không hạn chế về số lượng và giá trị (trừ những tài sản pháp luật quy định khôngthể thuộc sở hữu tư nhân). Đối
với tài sản riêng của vợ hoặc chồng được xác định căncứ vào các quy định của pháp luật hôn nhân và gia đình. Tài sản riêng của vợ, chồng bao gồm tài sản mà mỗi người có trước khi kết hôn; tài sản được thừa kế riêng, đượctặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản được chia riêng cho vợ, chồng theo quyđịnh tại khoản 1 Điều 29 và Điều 30 của Luật hôn nhân và gia đình; đồ dùng tư trangcá nhân mà người đó không nhập vào tài sản chung của vợ chồng (xem Điều 32 củaLuật hôn nhân và gia đình năm 2000).
b- Phần tài sản của người chết trong tài sản chung với người khác
- Trong trường hợp nhiều người được thừa kế, được tặng cho một tài sản hay nhiềungười cùng nhau góp vốn để cùng sản xuất kinh doanh ,... được xác định là sở hữuchung đối với tài sản. Khi một người trong các chủ sở hữu đó đối với tài sản chungnày chết, thì phần tài sản của người đó trong tài sản chung này được coi là di sản thừakế. Việc xác định phần của người chết trong tài sản
chung với người khác dựa vào tỉlệ phần trăm góp vốn, vào sự thỏa thuận giữa các chủ thể,... cũng như hoa lợi, lợi tứcthu được từ việc khai thác công dụng tài sản.
- Đối với tài sản chung hợp nhất của vợ chồng thì không phân định được phầncụ thể giữa vợ và chồng. Trong trường hợp một bên chết trước thì việc phân chia tàisản chung căn cứ vào các quy định của pháp luật hôn nhân và gia đình. Tài sản chungcủa vợ
chồng được xác định dựa vào Điều 27 của Luật hôn nhân và gia đình năm2000. Pháp luật quy định vợ, chồng có quyền và nghĩa vụ ngang nhau trong việcchiếm hữu, sử dụng định đọat tài sản chung. Do vậy, về nguyên tắc khi một bên vợ hoặc chồng chết trước thì một nửa tài sản sẽ được xác định là di sản để chia theo pháp
luật về thừa kế (trừ trường hợp xác định được công sức đóng góp của vợ hoặc chồngvào việc tạo lập, duy trì, phát triển tài sản chung của vợ chồng)- Đối với tài sản chung giữa cha mẹ và các con tùy thuộc vào sự đóng gópcụ thể của các thành viên để xác định.
* Đối với các quyền tài sản do người chết để lại, Bộ luật dân sự quy định nhữngngười thừa kế có các quyền tài sản do người chết để lại kể từ thời điểm mở thừa kế.
Quyền tài sản do người chết để lại đó là các quyền dân sự phát sinh từ quan hệ hợpđồng dân sự hoặc được bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng mà trước thời điểmmở thừa kế họ đã tham gia vào quan hệ này : quyền đòi nợ theo hợp đồng vay tài sản,quyền yêu cầu bồi thường,... Đối với những quyền tài sản mà gắn liền với nhân thâncủa người chết chấm dứt kể từ thời điểm mở thừa kế (tiền được cấp dưỡng, được trợ cấp).
Bên cạnh việc hưởng quyền tài sản pháp luật quy định người hưởng thừakế có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại trong phạm vi di sảnnhư nghĩa vụ trả nợ, nghĩa vụ bồi thường thiệt hại,... Trong trường hợp di sản chưachia thì nghĩa vụ tài sản do người chết để lại được người quản lý thực hiện theo thỏathuận của những người thừa kế. Nếu di sản đã được chia thì mỗi người thừa kế thựchiện nghĩa vụ tài sản tương ứng với phần tài sản mà mình đã nhận.
4- Người người thừa kế
Đối với người thừa kế theo pháp luật là cá nhân được hưởng thừa kế theo hàng thừakế quy định tại Điều 676 hoặc thừa kế thế vị theo Điều 677 Bộ luật dân sự. Ngườithừa kế theo di chúc có thể là cá nhân hoặc tổ chức. Người thừa kế phải đảm bảo điềukiện sau:
* Người thừa kế là cá nhân phải còn sống vào thời điểm mở thừa kế hoặc sinh ra vàcòn sống sau thời điểm mở thừa kế nhưng đã thành thai trước khi người để lại di sảnchết.
* Người thừa kế theo di chúc là cơ quan, tổ chức thì phải còn tồn tại vào thời điểmmở thừa kế, nghĩa là chưa bị giải thể,
phá sản,...theo quy định của pháp luật. Tuynhiên, trong thực tế có những trường hợp cơ quan, tổ chức còn tồn tại vào thời điểmmở thừa kế nhưng đến khi chia di sản lại không còn tồn tại thì có được hưởng thừa kếhay không.
5- Người quản lý di sản thừa kế
Người quản lý di sản thừa kế là người được chỉ định trong di chúc hoặc do nhữngngười thừa kế thỏa thuận cử ra. Trong trường hợp di chúc không chỉ định người quảnlý di sản và những người thừa kế chưa cử được người quản lý di sản thì người đangchiếm hữu, sử dụng, quản lý di sản tiếp tục quản lý di sản đó cho đến khi những ngườithừa kế cử được người quản lý di sản. Trong trường hợp chưa xác định được ngườithừa kế và di sản chưa có người quản lý thì cơ quan nhà nước có thẩm quyền quản lý.
Người quản lý di sản có nghĩa vụ bảo quản di sản, không được bán, trao đổi, tặngcho, cầm cố, thế chấp và định đọat tài sản bằng những hình thức khác, nếu khôngđược những người thừa kế đồng ý bằng văn bản.